BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
***********
LÒ TUYẾN QUÂN
‘‘LỰA TRỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHO NỮ SINH VIÊN
NĂM THỨ NHẤT K55 KHOA NGOẠI NGỮ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI , NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
***********
LÒ TUYẾN QUÂN
‘‘LỰA TRỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHO NỮ SINH VIÊN
NĂM THỨ NHẤT K55 KHOA NGOẠI NGỮ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC”
Chuyên ngành : GDTC
Mã số : 60.14.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
Lò Tuyến Quân
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TDTT
GDTC
GD- ĐT
KH-CN
XHCN
QTKD
XPC
KTX
NXB
XHCN
TS
ThS
ĐH
GV
SV
TN
ĐC
TW
M
Cm
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, hội nhập
với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc này là
con người, nguồn lực người Việt Nam được phát triển về cả số lượng và chất
lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Nhận thức rõ tầm quan
trọng của thể dục thể thao (TDTT) trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất
nước, sự nghiệp TDTT luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm.
Hệ thống Giáo dục Thể chất trong các trường đại học là một bộ phận
hữu cơ của hệ thống Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Mục đích của giáo dục
thể chất (GDTC) là củng cố và tăng cường sức khỏe, phát triển năng lực thể
chất của con người, hình thành và hoàn thiện các kỹ năng vận động để chuẩn
bị sẵn sàng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Công tác giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động TDTT trong các
trường đại học, là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, để góp phần thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân
lực, đào tạo nhân tài cho đất nước để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Để xây dựng đất nước giầu đẹp văn minh trước hết phải tạo ra đông
đảo đội ngũ lao động, trí tuệ có trình độ chuyên môn cao, có lập trường chính
trị vững vàng, có lối sống đạo đức trong sáng, mặt khác phải tạo ra nguồn
nhân lực có thể lực ngày một càng cường tráng, đáp ứng với nhịp độ lao động
phát triển toàn diện về trí tuệ và thể chất, đố là trách nhiệm của nhiều ngành
trong đó có ngành TDTT tại nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của đảng
lần thứ IX cũng được khẳng định “Đây là hoạt động TDTT nâng cao thể trạng
8
và tầm vóc của người Việt Nam, phát triển phong trào TDTT quần chúng với
đến trong nhiều tài liệu và được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu
khoa học.
Việc giáo dục sức bền phải có một quá trình tập luyên liên tục, lâu dài.
Nhưng trong thực tế, chương trình GDTC ở trường Đại học nói chung và
trường Đại học Tây Bắc nói riêng mới đảm bảo thực hiện tốt nội dung chương
trình chính khóa theo quy định 2 tiết/tuần. Việc phát triển các tố chất thể lực,
đặc biệt là các tố chất sức bền chưa mang tính liên tục, hiệu quả, hệ thống
chưa đủ khối lượng và nhất là thời gian cần thiết. Do vậy trình độ sức bền của
sinh viên còn thấp mặt khác còn do chính nhận thức và sự quyết tâm tập luyên
của các em còn hạn chế và sự quan tâm chưa đầy đủ trong các nhà trường. Nữ
sinh viên trường Đại học Tây Bắc nói chung và khoa Ngoại ngữ nói riêng. Đa
số là con em các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc có thể hình và vóc dáng người
thấp, nên trong cuộc sống lao động hàng ngày và luyện tập TDTT các em
chưa mạnh dạn thực hiện được tốt và hiệu quả các bài tập nhằm phát triểnthể
lực và sức bền. Mặt khác do ảnh hưởng khí hậu lẫn đặc thù thể trạng cơ thể
của các em nữ sinh viên khu vực Tây bắc, mùa hè nóng và khô hanh do gió
Lào thổi về - mùa đông thì lạnh giá và sương muối. Các em lại thường khởi
động không kĩ trong mỗi buổi học và tập luyện TDTT. Nên những bài tập và
yêu cầu về thể lực cuối mỗi buổi học nhất là chạy nhằm phát triển sức bền cho
nữ sinh viên thường không được thực hiện đầy đủ thiếu tự giác dẫn đến bị
ngất, hoặc khi đẫ hoàn thành hết cự ly chạy thì cơ thể thường mệt mỏi da
xanh tái, toát mồ hôi và hạ nhiệt bất thường. Quan trọng hơn nữa việc giáo
dục đòi hỏi phải có thời gian và có sự nỗ lực ý chí của bản thân khắc phục
khó khăn vượt lên chính mình mà điều này còn phụ thuộc vào chính năng lực,
phương pháp tập luyện và giảng dạy là những vai trò quan trọng trong các nhà
trường nên việc lựa chọnđa dạng hóa bài tập phát triển sức bền cả hình thức
10
tập luyện phù hợp với mỗi buổi học. Do đó nên việc lựa chọn đa dạng hóa các
Diễn biến sử dụng bài tập phát triển sức bền cho nữ sinh khoa Ngoại
ngữ trường Đại học Tây Bắc phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và còn
nhiều hạn chế, do vậy đòi hỏi phải có nhiều biện pháp và hỗ trợ nhằm không
ngừng đáp ứng nhu cầu phát triển thể lực của các em. Nếu lựa chọn được các
bài tập và phương pháp phù hợp, kết hợp với việc tổ chức dạy học hợp lý thì
hoàn toàn có khả năng phát triển được sức bền nói riêng và thể lực nói chung
cho nữ sinh viên khoa ngoại Ngữ trường Đại Học Tây Bắc.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài xác định giải quyết hai
nhiệm vụ cụ thể sau:
6.1 Nhiệm vụ 1:Khảo sát thực trạng trình độ sức bền chung của nữ sinh
năm thứ nhấtK55 khoa ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
6.2 Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và kiểm định sư phạm vận dụng một số bài
tập và phương pháp phù hợp nhằm phát triển sức bền cho nữ sinh viên năm
thứ nhấtK55 khoa ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Nghiên cứu tài liệu, văn kiện, sách, các bài báo... về công tác giáo dục
và đào tạo về phát triển sức bền các trường Đại học và GDTC có liên quan
đến đề tài.
Nghiên cứu các công trình khoa học, các ấn phẩm khoa học về lựa chọn
hệ thống các bài tập phát triển thể lực và phát triển sức bền nhằm nâng cao thể
lực cho sinh viên nói chung và nữ sinh viên khoa Ngoại ngữ trường Đại Học
Tây Bắc.
12
Nghiên cứu tài liệu giảng dạy GDTC trong các trường Đại học nói
Là phương pháp sử dụng các bài tập kiểm tra hay các test đánh giá tố
chất thể lực đã được lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu để kiểm tra. Kết quả
của phương pháp này là cơ sở cho việc xác định lựa chọn bài tập phát triển
sức bền của nữ sinh viên năm thứ nhất K55 khoa Ngoại ngữ trường Đại học
Tây Bắc.
Đề tài sử dụng 6 test để kiểm tra tố chất sức bền của nữ sinh viên năm
thứ nhất K55 Khoa Ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
7.4.1 Lực bóp của tay thuận
1. Yêu cầu dụng cụ: Lực kế
2. Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân bằng
vai, tay thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay. Không được bóp giật cục
và có các động tác trợ giúp khác. Thực hiện hai lần, nghỉ 15 giây giữa hai
lần thực hiện.
3. Cách tính thành tích: Lấy kết quả lần cao nhất, chính xác đến 0,1kg
7.4.2 Chạy tùy sức 5 phút
1. Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất
2m, hai đầu kẻ hai đường giới hạn, phía ngoài hai đầu giới hạn có khoảng
trống ít nhất 1m để chạy quay vòng. Giữa hai đầu đường chạy (tim đường) đặt
vật chuẩn để quay vòng. Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 5m để xác định
phần lẻ quãng đường (± 5m) sau khi hết thời gian chạy. Thiết bị đo gồm có
đồng hồ bấm dây, số đeo và tích - kê ghi số ứng với mỗi số đeo.
2. Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thế
xuất phát cao (tay cầm một tích - kê tương ứng với số đeo ở ngực). Khi chạy
hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời
gian 5 phút. Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích - kê của mình
xuống ngay nơi chân tiếp đất. Thực hiện một lần.
14
3. Cách tính thành tích: đơn vị đo quãng đường chạy được là mét.
quá trình kiểm tra.
2. Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân mở
rộng tự nhiên, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn; khi bật nhảy và khi tiếp
đất, hai chân tiến hành cùng lúc. Thực hiện hai lần nhảy.
3. Cách tính thành tích: Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất
phát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân (vạch dấu chân trên thảm). Lấy kết
quả lần cao nhất. Đơn vị tính là cm.
7.4.6Chạy 30m xuất phát cao
1. Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đồng hồ bấm giây; đường chạy thẳng có
chiều dài ít nhất 40m, chiều rộng ít nhất 2m. Kẻ vạch xuất phát và vạch đích,
đặt cọc tiêu bằng nhựa hoặc bằng cờ hiệu ở hai đầu đường chạy. Sau đích có
khoảng trống ít nhất 10m để giảm tốc độ sau khi về đích 2. Yêu cầu kỹ thuật
động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao. Thực hiện một lần
3. Cách tính thành tích: Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻ
từng 1/100giây.
7.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp này để xác minh kết quả của bài tập qua việc
ứng dụng cho đối tượng thực nghiệm.
7.6. Phương pháp toán thống kê
Chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp này nhằm xác định các giá trị trung
bình và độ lệch chuẩn về các chỉ tiêu kiểm tra của đối tượng nghiên cứu. Từ
đó xác định mức độ phát triển thể chất của Nữ sinh viên năm thứ nhấtK55
khoa Ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích so sánh giá trị trung bình
giữa các đối tượng (Nữ sinh viên năm thứ nhất K55 khoa Ngoại ngữ trường
Đại học Tây Bắc) trước thực nghiệm và sau thực nghiệm trong quá trình
16
nghiên cứu nhằm xác định có hay không có sự khác biệt về mức độ phát triển
δ = δ2
4. Hệ số biến sai.
CV % =
δ
X
5. Kiểm tra đại diện số trung bình.
17
(Với n ≥ 30)
t0,05 .
δ
X
ε=
X
Trong đó:
XA
XB
δ A2
δ B2
: Là giá trị trung bình cộng của tập hợp mẫu nhóm A.
Trong đó: C là thang điểm 10
Z=
x−x
δ
W =
8. Nhịp độ tăng trưởng:
100 × (V2 − V1 )
%
0.5 × (V1 + V2 )
Trong đó : W: Nhịp độ tăng trưởng tính bằng %.
V1: Chỉ số trung bình lần kiểm tra thứ nhất.
V2: Chỉ số trung bình lần kiểm tra thứ hai.
9. Tính chỉ số Wincoson : Tính điểm xếp hạng của 2 lần phỏng vấn lấy
α
điểm của lần phỏng vấn có số điểm thấp so với W của bảng chỉ số
Wincoson.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Lựa chọn được một số bài tập phát triển sức bền phù hợp cho nữ sinh
viên năm thứ nhất K55 khoa Ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
- Xác định được một số phương pháp phù hợp để phát triển sức bền phù
hợp cho nữ sinh viên năm thứ nhất K55 khoa Ngoại ngữ trường Đại học Tây Bắc.
- Lựa chọn được một số hình thức tổ chức dạy học phát triển sức bền
hợp lý cho nữ sinh viên năm thứ nhất K55 khoa Ngoại ngữ trường Đại học
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những quan điểm của đảng, nhà nước về công tác thể dục thể
thao và giáo dục thể chất
Tư tưởng của Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp
TDTT của nước ta là: TDTT là một công tác cách mạng vừa là nhu cầu, vừa
là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do
dân và vì dân. Mục tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân
dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam làm cho dân cường, nước thịnh.
Tiêu biểu cho điều tư tưởng của Bác là: "Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục";
"Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có
sức khỏe mới thành công, mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu
ớt một phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nước mạnh
khỏe. Vậy, rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người
dân yêu nước".
Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức
khỏe nhân dân, công việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công, Bác kêu
gọi toàn dân thường xuyên rèn luyện thân thể giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể
lực cho mọi người. Bác Hồ tin yêu thế hệ trẻ, người quan tâm và chăm sóc
đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ. Ngày về thăm Trường Trung cấp
TDTT Trung ương (nay là Trường Đại học TDTT I), Bác đã căn dặn: "...
Các cháu học TDTT không phải để đạt ông kiện tướng này, bà kiện tướng
nọ. Cái chính là, là người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đem hiểu
biết của mình ra hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sức khỏe
đẩy lùi bệnh tật...".
Đảng lãnh đạo công tác TDTT bằng việc hoạch định đường lối quan
điểm TDTT, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đường lối quan điểm TDTT do mình
đề ra. Đường lối quan điểm của Đảng thể hiện trong chỉ thị, nghị quyết của
21
Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém là do nhiều cấp Đảng ủy
chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và còn xem nhẹ vai trò của TDTT trong
sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, chưa thực sự coi
TDTT là một bộ phận trong chiến lược kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng,
chưa có chế độ phù hợp với yêu cầu phát triển của TDTT, đầu tư cho lĩnh vực
TDTT. Quản lý của ngành TDTT còn kém hiệu quả, chưa phát huy vai trò chủ
động sáng tạo của toàn xã hội để phát triển TDTT.
Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về phát triển sự nghiệp
TDTT: "Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố
con người công tác TDTT phải góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của
các lực lượng vũ trang".
Trong các văn bản Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng
nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phong
trào TDTT quần chúng, thể thao thành tích và tăng cường công tác GDTC
trong nhà trường các cấp với khẩu hiệu: "Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”[14]. Cũng như khẳng định phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp
ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu: "Mục tiêu
cơ bản lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến
bộ, góp phần nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần
của nhân dân... thực hiện nền giáo dục thể chất trong tất cả các trường học,
làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học
sinh - sinh viên".
23