MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lòng dân mà cốt lõi là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật
cường... của cả dân tộc được khơi dậy, quy tụ dưới ngọn cờ của giai cấp tiến bộ, là
một yếu tố cơ bản để phát huy cao độ sức mạnh vô địch của Việt Nam trong công
cuộc giữ nước.
Thực hiện “chúng chí thành thành”, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc,
dân tộc ta đã đứng vững trước những kẻ thù xâm lược rất hung hãn, tàn bạo. Có thể
khẳng định, TTLD là một bí quyết để giành thắng lợi, là một nét độc đáo của nghệ
thuật giữ nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử. Điều này được khẳng định, thể hiện
rõ nét trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc từ thế kỷ X đến
thế kỷ XIX.
Ngày nay, nhiệm BVTQ Việt Nam XHCN đang đặt ra những yêu cầu rất
mới, rất cao đối với nền QPTD trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, đặc biệt
là trước những đòn đánh hiểm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp bạo loạn
lật đổ và răn đe quân sự của chúng đối với cách mạng nước ta. Hiện nay, “nạn tham
nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một
nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta” [6, tr. 76] gây mất niềm tin trong quần
chúng nhân dân. Tình hình và nhiệm vụ BVTQ trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi
chúng ta phải không ngừng củng cố, xây dựng TTLD, giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tập trung mọi
tinh thần và lực lượng để bảo vệ và xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta.
Vì vậy, nghiên cứu TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc, đặc biệt
trong mười thế kỷ đấu tranh bảo vệ nền độc lập, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, để vận
dụng xây dựng TTLD trong điều kiện hiện nay là một vấn đề có ý nghĩa to lớn vừa cơ
bản vừa cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau về
công cuộc giữ nước của dân tộc từ thế kỷ XIX trở về trước, nhất là những công trình
nghiên cứu ở trong nước. Có thể kể tên một số công trình: “Về tài thao lược của dân tộc
Việt Nam”; “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc”; “Tìm hiểu về tổ
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản là: lịch sử và lôgíc, phân tích
và tổng hợp, so sánh, tổng kết, phương pháp chuyên gia...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ truyền thống giữ nước của
dân tộc, làm phong phú thêm tri thức về BVTQ. Đây cũng là một vấn đề có ý nghĩa
quan trọng cần được kế thừa và phát triển trong việc xây dựng nền QPTD hiện nay.
Đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
cả ở trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài: Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kiến nghị, kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG CÔNG
CUỘC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
Nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm
là thực hiện CTND, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Đây là bí quyết giành thắng lợi
từ trước đến nay của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hung bạo có tiềm lực kinh tế, quân sự
lớn mạnh hơn. Bí quyết giành thắng lợi đó không thể không dựa vào yếu tố cả nước
đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc cứu nước, được xây dựng trên nền
tảng vững chắc là khối đại đoàn kết toàn dân. Phải chăng đây là nội dung cốt lõi của
TTLD - một đặc điểm nổi bật trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam? Và,
khái niệm TTLD tuy mới xuất hiện, nhưng hình hài và nội dung cơ bản của nó đã từng
được biểu hiện trong lịch sử?
Sức mạnh to lớn cho phép một nước nhỏ đánh thắng mọi kẻ thù lớn mạnh
hơn nhất thiết phải là sức mạnh “cử quốc nghênh địch”, “Bách tính giai binh”, sức mạnh
của cả dân tộc đứng lên đánh giặc. Vì vậy, trong công cuộc giữ nước, ông cha ta trước
kia cũng như Đảng cộng sản Việt Nam ngày nay không chỉ thuần túy dựa vào LLVT,
dựa vào quân đội (tuy rất quan tâm đến xây dựng LLVT, xây dựng quân đội, coi đó là
lực lượng nòng cốt của sự nghiệp giữ nước), mà còn dựa vào lực lượng của nhân dân cả
người”, “đại đoàn kết toàn dân”. Theo Người, để tạo sự đoàn kết toàn dân, muôn người
như một, “chỉ một ý chí”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không
chịu làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập tự do” thì phải có chính sách hợp lòng
dân, vì con người, vì nhân dân, trong thời bình cũng như thời chiến. Người nhấn mạnh:
“Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức thành đồng xung quanh Tổ quốc, dù
địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải
thất bại” [11, tr.150]. Hình tượng “bức thành đồng” khi nói về sự đoàn kết, đồng tâm
hiệp lực của đồng bào cả nước không những nói lên sức mạnh to lớn và vững chắc của
sự đồng tâm, đoàn kết ấy, mà còn cho ta thấy một cách rõ ràng diện mạo của một thế
trận trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, một thế trận có vẻ như
trừu tượng, nhưng thật là sống động, cụ thể trong hiện thực - TTLD.
Những năm gần đây trên văn đàn lý luận quân sự, nhiều tướng lĩnh quân đội
ta và nhiều nhà khoa học, trong các công trình và bài viết của mình, đã đề cập đến thuật
ngữ TTLD với tư cách là một nội dung cơ bản của nền QPTD, của thế trận quốc phòng an ninh BVTQ Việt Nam XHCN.
Khi trình bày thế trận quốc phòng - an ninh, Trung tướng, PGS, TS Nguyễn
Hải Bằng đã cho rằng TTLD như là một nội dung cơ bản của thế trận quốc phòng - an
ninh và nhấn mạnh “thời bình thì có chính sách khoan thư sức dân, quy tụ và động viên
phong trào toàn dân tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh Tổ
quốc” [19, tr. 2]. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà nêu rõ “khâu quan trọng
nhất cần coi trọng là xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, bao gồm xây dựng cơ sở
chính trị - xã hội, xây dựng thế trận lòng dân...” [18, tr. 3]. Trong bài viết về nhiệm vụ
quốc phòng - an ninh trước thềm Đại hội IX của Đảng, một lần nữa đồng chí Bộ trưởng
nhấn mạnh: “Đặc biệt chú ý xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận lòng dân của nền
quốc phòng toàn dân” [17, tr. 17].
Từ những quan điểm trên, có thể thấy mặc dù TTLD là một thuật ngữ mới,
nhưng những nội dung cơ bản của nó đã dần dần được hình thành trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc ta. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đại khác nhau, mức độ
của việc quan tâm đến dân, xây dựng và phát huy sức mạnh lòng dân, phát huy vai trò
chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức
mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế
trận an ninh nhân dân” [6, tr. 117].
Trên cơ sở những dữ liệu bước đầu về nội dung cơ bản của TTLD, cần
nghiên cứu lịch sử giữ nước của dân tộc ta để tìm ra những biểu hiện của TTLD, từng
nội dung của nó được hình thành ra sao, mức độ và tính chất như thế nào. Đó là quá
trình tái hiện hình hài, nội dung cụ thể của TTLD trong lịch sử. Làm được như vậy sẽ
trả lời được câu hỏi: trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta có TTLD hay không, nội
dung cụ thể của nó như thế nào và nó có vai trò gì trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc, ông cha ta đã làm như thế nào để xây dựng TTLD, góp phần làm rõ nét đặc sắc,
độc đáo trong nghệ thuật giữ nước của dân tộc ta, từ đó vận dụng và phát huy nó trong
sự nghiệp BVTQ Việt Nam XHCN hiện nay.
Trong mấy ngàn năm hình thành và phát triển của dân tộc ta, quá trình dựng
nước luôn gắn liền với quá trình giữ nước. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và những
hạn chế về nguồn sử liệu, Ban đề tài chỉ khảo sát TTLD trong lịch sử giữ nước từ thế kỷ
X đến thế kỷ XIX, lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam ở kỷ nguyên Đại Việt. Kỷ
nguyên này bao gồm hai giai đoạn lớn: Giai đoạn một từ thế kỷ X đến thế kỷ XV - giai
đoạn đang lên của chế độ phong kiến Việt Nam; giai đoạn hai, từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX - giai đoạn suy vong vủa chế độ phong kiến Việt Nam.
1.1. Xây dựng thế trận lòng dân trong công cuộc giữ nước của dân tộc
Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV.
Lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua bao thăng trầm biến cố, luôn phải
đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh và tàn bạo, muốn thôn tính và đồng hóa
chúng ta. Tổ tiên chúng ta đã kiên cường chống giặc giữ nước, nhưng chỉ giành được
thắng lợi khi lực lượng lãnh đạo dân tộc biết rõ sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân,
chăm lo xây dựng các nguồn lực từ dân, tạo nên TTLD.
Truyền thuyết kể rằng, vua An Dương, trong cảnh thái bình dựng nước đã
chủ quan, không thấy hết âm mưu của kẻ thù, không dựa vào dân mà quá tin vào thành
chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” [13, tr. 188]. Nghĩa là không
khắt khe quá với nhân dân, chống bọn tham quan ô lại - sản phẩm của ngàn năm Bắc
thuộc để lại, không làm phiền hà, sách nhiễu nhân dân, tạo ra cuộc sống “an cư lạc
nghiệp” cho dân chúng. Theo đó, các chủ trương cụ thể về cải cách hành chính, quản lý
xã hội, cải cách điền địa, thuế khóa đều được thực hiện. Về sau, Dương Đình Nghệ,
Ngô Quyền cũng thực hiện các biện pháp “thân dân” theo đường lối chính trị trên.
Đường lối chính sách “thân dân” ở nửa đầu thế kỷ X của các triều đại phong
kiến nước ta đã tạo ra cơ sở chính trị - xã hội thuận lợi để đoàn kết các tầng lớp nhân
dân, bước đầu xây dựng TTLD. Nhờ vậy mà các thế lực phong kiến tiến bộ, được sự
ủng hộ của nhân dân, đã đánh bại hai cuộc xâm lược của quân Nam Hán (930 và 938).
Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai do Ngô
Quyền lãnh đạo, những hình thái biểu hiện của TTLD đã xuất hiện rõ nét và khẳng định
sức mạnh của nó trong sự nghiệp giữ nước. Trước nạn ngoại xâm, thanh niên đã hăng
hái tham gia vào đội quân đánh giặc, làm cho quân đội của Ngô Quyền từ một đội binh
của một châu (ái Châu), nhanh chóng trở thành một quân đội dân tộc. Nhân dân vùng
Đông Bắc còn lưu truyền mãi truyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (An Hải, Hải Phòng)
tự vũ trang theo Ngô Quyền đánh giặc. Trai tráng các làng Lâm Đông (Thủy Nguyên,
Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Dương) nô nức mang vũ khí, thuyền bè đến
đầu quân Ngô Quyền. Toàn dân ở vùng Đông Bắc đều tham gia kháng chiến. Người
khỏe thì vào các đội dân binh chiến đấu, chặt cây đóng cọc trên sông Bạch Đằng. Người
yếu thì đóng góp lương thảo, thuyền bè và phục vụ binh sĩ. Sự đóng góp sức người, sức
của và ý chí đánh giặc của nhân dân đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử cuối
938, vĩnh viễn xóa bỏ mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nam Hán. Nhà sử học Lê
Văn Hưu đã nhận xét: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt mà phá
được trăm vạn quân của Lưu Bằng Thao, mở nước xưng Vương, làm cho người phương
Bắc không dám lại sang nữa” [13, tr.202].
Những thập kỷ cuối của thế kỷ X, vào thời Đinh - Lê, triều đình đã thực hiện
nhiều chính sách tiến bộ để động viên, quy tụ nhân dân vào công cuộc giữ nước, làm
cho TTLD có sự phát triển hơn so với nửa đầu thế kỷ. Sau khi dẹp loạn 12 xứ quân,
thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế và bắt tay vào xây dựng nhà
nhận xét: “Thời Đinh - Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh mà
phương Bắc thì mỏi mệt suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, dựng thành
Bình Lỗ, mà phá được quân Tống” [13, tr. 236].
Như vậy, trong buổi đầu bảo vệ nền độc lập, nhà nước phong kiến Việt
Nam ở thế kỷ X đã thấy được vai trò, sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ
nước, thực hiện một số chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội đương
thời, đáp ứng được nguyện vọng của dân, tập hợp đoàn kết được dân. Đó là cơ sở
chính trị - xã hội để thống nhất dân tộc và đánh thắng các thế lực phong kiến
phương Bắc xâm lược. Hình hài ban đầu của TTLD ở thế kỷ X là điểm xuất phát
quan trọng cho việc xây dựng TTLD của các nhà nước phong kiến Đại Việt trong
các thế kỷ sau.
1.1.2. Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XI - XII.
Thế kỷ XI - XII, nước ta bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ của một quốc
gia độc lập thống nhất, thời kỳ mở đầu cho nền văn minh Đại Việt. Thời kỳ này gắn
với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai do triều Lý lãnh đạo.
Tiếp tục những chính sách tiến bộ của các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhà Lý
đã ra sức chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt, thi hành các chính sách thân dân,
chăm lo phát triển sản xuất và đời sống của muôn dân, nhằm “cố kết nhân tâm”, củng cố
vững chắc TTLD để xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngay từ khi lên ngôi, rời đô từ Hoa
Lư về Thăng Long, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) đã xuống chiếu lệnh cho những người
trốn chạy hoặc phiêu tán (thời Lê Long Đĩnh) trở về quê cũ, ra lệnh đại xá, cấp quần áo,
lương thực, thuốc men và cử người đưa về quê đối với những tù nhân bị Ngọa Triều
giam giữ. Tất cả những người bị tù tội, phiêu tán trở về đều được cấp ruộng đất để cày
cấy. Để giúp “con dân” khắc phục khó khăn, đói kém, Lý Thái Tổ đã ra lệnh xá thuế 3
năm liền cho cả nước (1011 - 1013), xóa nợ cho những người mồ côi, già yếu, góa
chồng... Sau đó, những năm được mùa hay có việc vui, triều đình lại lệnh xóa hoặc
giảm tô, thuế cho thiên hạ...
Sức kéo cho nông nghiệp ở thời kỳ này được nhà nước rất quan tâm. Năm
giặc thì “trăm họ là binh”, toàn dân đánh giặc.
Sự chăm lo phát triển sản xuất và đời sống dân sinh của các triều đại phong
kiến tiến bộ Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, qua một số chính sách nổi bật trên bắt
nguồn từ nhận thức của giai cấp thống trị lúc này là: “Xem sự đủ ăn là nguyện của dân,
lấy việc cày cấy là gốc của nước” [13, tr. 298 ]. Khi nhà nước có những chính sách
“thân dân”, lo nâng cao đời sống của dân, thì tinh thần “trung quân”, “ái quốc” của dân
chúng được tăng cường, đó là cơ sở để tập hợp, đoàn kết nhân dân, tạo ra TTLD trong
công cuộc giữ nước.
Cùng với những chính sách trên, nhà Lý rất coi trọng phát huy tinh thần yêu
nước, lòng tự hào dân tộc, đoàn kết nhân dân. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII, dân tộc ta
phải đối mặt với kẻ thù phương Bắc là quân xâm lược Tống. Nhà Tống (960 - 1279) là
một trong những triều đại lớn của chế độ phong kiến Trung Quốc. Nước Tống là nước
lớn, có dân số đông nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau thất bại của cuộc chiến tranh xâm
lược nước ta lần thứ nhất (981), chúng ráo riết chuẩn bị và tiến hành chiến tranh xâm
lược nước ta lần thứ hai với quy mô lớn hơn, tàn bạo hơn. Thủ đoạn của chúng rất xảo
quyệt, trong đó có việc liên kết với nước láng giềng phía Nam nước ta để đánh ta từ hai
đầu, mua chuộc lôi kéo các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta làm nội
ứng, tạo bàn đạp tấn công v.v... Thực chất là giặc Tống tìm cách chia rẽ khối đoàn kết
toàn dân của Đại Việt để dễ bề thôn tính.
Nhà Lý đã có gần một thế kỷ xây dựng kinh tế, xã hội với các chính sách
“thân dân”, chăm lo phát triển kinh tế và đời sống của dân, làm cho “thế nước” thêm
vững, lòng dân thêm “trung”. Ở thời đại phong kiến, nước là vua, trung thành với vua là
trung thành với nước, là yêu nước. Giờ đây, trước họa giặc Tống xâm lăng, lòng “trung
quân ái quốc” đứng trước thử thách mới, đó là sự chiến đấu hy sinh vì xã tắc. Triều đình
nhà Lý đã bằng nhiều cách để dân chúng biết được âm mưu xâm lược nước ta của giặc
Tống, khơi dậy trong nhân dân truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên, khẳng định
vị thế, lòng tự hào, tự tin dân tộc. Tất cả nội dung trên được thể hiện cô đọng trong bài
“Thơ Thần” của Lý Thường Kiệt cuối thế kỷ XI:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
chính sách phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với yêu cầu của đất nước, nên không có
mâu thuẫn, đố kỵ lớn trong nội bộ quý tộc phong kiến. Mâu thuẫn giữa nhân dân với
giai cấp thống trị cũng tạm thời lắng xuống. Sự khó khăn của vấn đề đoàn kết toàn dân
lúc này là các dân tộc thiểu số ở vùng núi biên giới, xa kinh thành, lại luôn bị nhà Tống
mua chuộc lôi kéo với nhiều thủ đoạn thâm độc. Nhà nước Đại Việt đã ban chiếu vạch
rõ âm mưu, tội ác của giặc, trấn áp những kẻ ngoan cố tiếp tay cho giặc, các lực lượng
chống đối, có ý đồ cát cứ; đồng thời ban phát gạo, muối, vải lên miền núi cho nhân dân;
phong chức sắc cho thủ lĩnh dân tộc thiểu số; dùng quan hệ hôn nhân để kết thân với
một số tù trưởng có uy tín... (Lý Thái Tổ gả công chúa cho tù trưởng Giáp Thừa Quý,
Lý Thái Tông gả công chúa cho Thân Thiện Thái. Lý Thánh Tông gả công chúa cho
Thân Đạo Nguyên...). Với những biện pháp trên, nhà Lý đã thu phục được đa số những
người đứng đầu các dân tộc thiểu số, không chỉ bằng quan hệ vua - tôi, dân - nước, mà
bằng cả quan hệ gia đình. Trên cơ sở ấy thu phục được nhân tâm, đoàn kết được đồng
bào vùng sơn cước, tạo ra TTLD trong cả nước.
Quy tụ lòng dân và phát huy TTLD tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ
thù. Trong điều kiện chế độ phong kiến trung ương tập quyền đang trên đà phát triển,
thế nước đang lên, các triều đại phong kiến Đại Việt (chủ yếu là nhà Lý) đã thực hiện
nhiều chính sách thể hiện sự tích cực, chủ động xây dựng và phát huy TTLD trong công
cuộc giữ nước. TTLD thời kỳ này được xây dựng trên quy mô toàn quốc, hình thái biểu
hiện tương đối phong phú, thực sự mang lại sức mạnh cho quốc gia Đại Việt, nhất là
trong cuộc kháng chiến chống Tống 1075 - 1077.
Trong cuộc kháng chiến năm 1075 - 1077, những nơi giặc tràn qua, thế giặc
đang mạnh, dân chúng đã nhất loạt thực hiện kế “thanh dã”, vườn không nhà trống.
Quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết không còn gì để cướp của, bắt người đã lâm vào cảnh
khốn khó, hoang mang. Về phía ta, nhân dân hăng hái đóng góp sức người và của cải
cho kháng chiến. Hàng vạn dân ở khắp các huyện, lộ trung du và đồng bằng châu thổ
sông Hồng đã cùng với binh sĩ xây dựng chiến tuyến Như Nguyệt dài tới 160 dặm (80
km) để chặn đánh quân thù. Nhân dân đã tích cực đưa con em vào quân đội trực tiếp
vệ đất nước. Nhà Trần thay thế nhà Lý. Vương triều Trần được thành lập 1226, đã
nhanh chóng củng cố chính quyền trung ương tập quyền và thống nhất quốc gia. Tiếp
đó là những nỗ lực tổ chức bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế làm cho quốc gia Đại
Việt hùng mạnh.
Đặc biệt, nhà Trần tiếp thu và thực hiện những biện pháp xây dựng TTLD ở
các thế kỷ trước. Song cả về nhận thức và trên thực tế, các chính sách mà Trần đã thực
hiện có quy mô rộng lớn hơn và rất mạnh mẽ.
Nhà Trần đã nhận thức sâu sắc hơn vai trò của quần chúng nhân dân trong
công cuộc giữ nước với luận điểm nổi tiếng “chúng chí thành thành”. Kết cấu xã hội
thời Trần bao gồm nhiều đẳng cấp khác nhau, trên cùng là đẳng cấp quý tộc mà quyền
lợi gắn liền với thái ấp. Tiếp đó là đẳng cấp quan liêu sống dựa vào bổng lộc. Đẳng cấp
bình dân gồm những người không có chức tước gì, phần lớn là nông dân và thợ thủ
công tự do, đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội. Đẳng cấp cuối cùng có thân
phận thấp kém nhất là nô tỳ. Quần chúng nhân dân ở đây có thể hiểu là tầng lớp bình
dân và nô tỳ.
Xã hội có giai cấp, đẳng cấp, tất nhiên là có mâu thuẫn giữa các giai cấp,
đẳng cấp đó. Nhưng ở buổi đầu của thời Trần, các mâu thuẫn này còn lắng dịu. Giai
cấp phong kiến quý tộc nhà Trần qua kinh nghiệm của các thế kỷ trước và qua cuộc
đấu tranh dựng nước và giữ nước ở thế kỷ XIII đã dần nhận thức sâu sắc hơn vai
trò to lớn của quần chúng nhân dân - những người thuộc đẳng cấp thấp của xã hội.
Họ biết rõ làm ra ngũ cốc nuôi sống thiên hạ là dân, đào sông, đắp đê là dân, xây
thành đắp lũy cũng là dân, khi có giặc cũng cần đến dân. Dân có giàu thì nước mới
thịnh, dân có “trung” thì vương triều mới bền, xã tắc mới vững.
Sự đánh giá vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân được Trần Quốc
Tuấn khái quát trong câu nói: “Chúng chí thành thành”. Nghĩa là ý chí của nhân dân là
bức thành. Bức thành che chắn mọi phong ba bão tố, bức thành ngăn chặn quân thù xâm
lược... Do vậy phải luôn chăm lo, giữ gìn bức thành lòng dân.
Từ những nhận thức trên, vua Trần và các quý tộc tiến bộ ngoài việc quan
khỏe không phải là tất cả của sức mạnh. Nhà Trần ý thức rõ: muốn quân đội có sức
mạnh vô địch, phải kết hợp được nhiều yếu tố. Trong đó, quan trọng nhất là người
lính phải có trạng thái tinh thần, tư tưởng thật tốt, phải đoàn kết, thống nhất cao độ.
Vua quan và các tướng lĩnh nhà Trần rất chú trọng xây dựng quân đội về mặt này,
đặc biệt là xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các tướng lĩnh và binh sĩ. Hưng Đạo
vương Trần Quốc Tuấn - người thống lĩnh quân đội thời Trần ở thế kỷ XIII, đã dạy
các tướng lĩnh: “Có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được”
[13, tr. 335]. Nghĩa là người chỉ huy và người lính chiến đấu cho cùng một mục đích
phải hiểu nhau, thương yêu nhau, sống chết cùng nhau.
Để làm được việc này, người chỉ huy là người nắm giữ vị trí trung tâm, chủ
động. Các tướng lĩnh thời Trần rất nghiêm khắc, nhưng đồng thời lại rất gần gũi, thương
yêu và chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của binh sĩ, tin tưởng và khoan dung đối
với họ như cha đối với con. Vì vậy mà người lính gắn bó với chỉ huy, nhất nhất theo
lệnh chỉ huy trong luyện tập và trong chiến đấu, lúc thắng lợi cũng như lúc gặp nạn.
Người lính tự nguyện chiến đấu hy sinh để bảo vệ quân vương, bảo vệ đất nước, coi đó
là nghĩa vụ thiêng liêng của mình.
Đội quân do Phạm Ngũ Lão chỉ huy là một trong các đội quân nổi tiếng về
tình “phụ tử” của quân đội Đại Việt thời Trần. Những đội quân tinh nhuệ, quả cảm và
gắn bó máu thịt như vậy luôn là nòng cốt, là chỗ dựa cho các đội dân binh, cho toàn dân
đánh giặc. Ở thế kỷ XIII - XIV, việc tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội
thường trực như trên quả là một sáng tạo của ông cha ta.
Nhà Trần cũng rất coi trọng việc xây dựng ý chí quyết chiến, dám đánh giặc,
tự tin vào thắng lợi nhằm xây dựng, củng cố TTLD. Thời kỳ này, dân tộc ta phải đương
đầu với quân Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất, tàn bạo và thiện chiến nhất
lúc đó . Quân Mông Cổ đã từng xâm lược, nô dịch các dân tộc từ Á sang Âu, thôn tính
các quốc gia, tạo thành một đế quốc rộng lớn. Sau khi đánh bại nhà Tống (1279) lập nên
triều Nguyên, chủ nghĩa đại Mông kết hợp với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán càng trở
nên hung hãn. Trong quá trình xâm lược nước ta, quân Nguyên Mông liên tục dụ dỗ, đe
nhà Trần đã cùng toàn dân gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Trong đó đã triệu tập các hội nghị
để bàn bạc, thống nhất ý chí và kế hoạch đánh giặc.
Hội nghị Bình Than được triều đình triệu tập (1282). Tại đây, vua Trần đã
cùng các vương hầu, quý tộc hạ quyết tâm chiến đấu và bàn kế sách công, thủ. Đây là
hội nghị của giai cấp lãnh đạo lúc đó. Chủ trương kháng chiến của triều đình đã được
thống nhất trong giới quý tộc và hệ thống quan lại, huy động tối đa khả năng đóng góp
của tầng lớp này cho kháng chiến.
Sau hội nghị Bình Than, triều đình đã kiện toàn bộ máy cho phù hợp
với yêu cầu của chiến tranh. Các vương hầu chuẩn bị lương thực, tuyển thêm
binh sĩ, các tướng lĩnh khẩn trương luyện quân, tập dượt đánh trận. Tinh thần
khí thế ấy đã lan tỏa nhanh chóng trong trăm họ, tạo thành không khí sôi nổi
kháng chiến của toàn dân tộc. Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản vì còn nhỏ không
được dự bàn việc nước đã bóp nát quả cảm trong tay lúc nào không biết. Về nhà,
Trần Quốc Toản lập một đội quân gồm hơn một nghìn gia nô và người thân, sắm
vũ khí, đóng chiến thuyền, ngày đêm luyện tập để sẵn sàng tham gia đánh giặc
cứu nước. Trên lá cờ của đội quân này ghi sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng
ân” (phá giặc mạnh báo ơn vua).
Câu chuyện về Trần Quốc Toản phần nào cho ta hình dung được khí thế náo
nức chuẩn bị chống quân xâm lược Nguyên ở khắp mọi nơi, từ kinh đô Thăng Long, các
phủ đệ vương hầu đến các hương ấp.
Sau hội nghị Bình Than là hội nghị Diên Hồng (1285). Để thống nhất ý chí
toàn dân tộc, triều đình nhà Trần đã mời đại biểu phụ lão trong cả nước về kinh đô
Thăng Long, đặt tiệc ở điện Diên Hồng, bàn kế giữ nước khi quân Nguyên đã tiến đến
bờ cõi. Các mái tóc bạc phơ bên nhau, đại biểu cho trăm họ của khắp mọi miền đất nước
cùng hô vang một tiếng “đánh” là hình ảnh đẹp nhất, là biểu tượng của ý chí quyết tâm
và tinh thần đoàn kết dân tộc tại hội nghị này.
“Đánh” là câu trả lời quyết chiến với quân thù của nhân dân cả nước,
thông qua các bậc phụ lão - những đại biểu uy tín của quần chúng nhân dân
những ý đồ chiến lược đánh giặc. Cũng nhờ đó mà công cuộc giữ nước của dân tộc ta ở
thế kỷ XIII đã mang tính chất nhân dân rộng rãi, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của
TTLD so với các thế kỷ trước.
1.1.4. Xây dựng thế trận lòng dân trong thế kỷ XV.
Gần ba mươi năm đầu thế kỷ XV, xã hội Đại Việt chìm đắm trong sự mục
ruỗng cuối đời Trần và ách đô hộ của giặc Minh. Trong khoảng thời gian này, lịch sử đã
chứng kiến thất bại của cuộc chiến tranh giữ nước dưới triều nhà Hồ và sự thắng lợi vẻ
vang của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo. Nghiên
cứu TTLD ở thế kỷ XV có hai sự kiện nổi bật sau đây:
Một là, nhà Hồ không xây dựng được TTLD dẫn đến bị mất nước.
Từ nửa cuối thế kỷ XIV, triều đại nhà Trần vào giai đoạn suy thoái, vua
quan, quý tộc sống sa đọa, những kẻ bất tài, giỏi xu nịnh được thăng quan tiến chức,
người trung thành bị bức hại. Trung thần Chu Văn An (triều vua Dụ Tông) dâng sớ
“thất trảm” không thành đã treo ấn từ quan. Lụt lội triền miên, dân tình đói kém. Sức
dân bị triều đình lợi dụng vào các cuộc chiến tranh phi nghĩa triền miên với Ai Lao,
Chăm Pa. Nhân dân cùng khổ đã nổi dậy chống triều đình ở khắp nơi. Lòng dân ly tán,
TTLD vỡ ra từng mảnh trước khi nhà Hồ lên ngôi.
Sự thối nát của triều đình nhà Trần dẫn tới sự lên ngôi của nhà Hồ. Hồ Quý
Ly (một đại thần ngoại thích của nhà Trần) đã từng bước tiến quyền, tiến tới cướp ngôi
Vua, chém giết, thanh trừng hàng loạt quan lại, quý tộc nhà Trần làm cho nội bộ quý tộc
chia rẽ sâu sắc, trăm hộ oán thán, hoang mang. Việc phế bỏ nhà Trần là yêu cầu của lịch
sử, vì nó không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước, trong khi giặc Minh đang lăm le
xâm lược. Nhưng cách làm của nhà Hồ rõ ràng không được lòng người, không củng cố
được TTLD. Trong lúc xã hội thời Trần rối ren, kinh tế suy sụp, Hồ Quý Ly đã đề ra
một loạt cải cách, mong phục hồi nền kinh tế, tạo ra sức mạnh cho đất nước. Sau khi lên
ngôi, những cải cách đó càng được đẩy mạnh. Song đáng tiếc, những biện pháp cải cách
kiên quyết mang tính cách tân của nhà Hồ vào thời điểm đó không đáp ứng được yêu
cầu phát triển đất nước. Ngược lại nó làm cho đời sống nhân dân khó khăn thêm. Tình
trước đây về cơ bản đã tan vỡ, giờ đây phải vừa đánh giặc vừa xây dựng. Mặc dù vậy,
chúng ta vẫn thấy nổi lên những biện pháp xây dựng TTLD rất có hiệu quả.
Trước hết, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã coi trọng
giáo dục tinh thần yêu nước, căm thù giặc, quyết chiến đấu giải phóng dân tộc cho mọi
tầng lớp nhân dân. Sau khi chiếm được nước ta, quân Minh đã nuốt luôn lời hứa “phù
Trần diệt Hồ” - chiêu bài lôi kéo một số quý tộc nhà Trần, chia rẽ nội bộ triều đình Đại
Việt trước và trong quá trình tiến quân xâm lược. Chúng nhanh chóng thiết lập bộ máy
cai trị, biến nước ta thành một vùng lệ thuộc để tiền hành vơ vét, bóc lột và đồng hóa
dân tộc ta.
Chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động trên quy mô rộng lớn là
một trong những tội ác lớn nhất của quân Minh đối với nhân dân ta. Chúng cướp
từng hạt lúa, cân tơ, chúng bắt dân ta lên núi đào vàng, xuống biển mò ngọc trai.
Chúng cưỡng bức dân ta đi lính, đi phu triền miên. Một bộ phận đáng kể lao động
nước ta bị đưa về Trung Quốc, thường là những thợ thủ công, thầy thuốc, con hát để
phục vụ trong các công xưởng và thỏa mãn cuộc sống xa hoa của vua quan nhà Minh
làm cho nền kinh tế nước ta suy sụp, làng xóm tiêu điều, trăm họ điêu linh.
Về văn hóa, quân Minh âm mưu đồng hóa dân tộc ta bằng những thủ đoạn
thâm độc như đốt sách vở, phá hủy các bia đá, mở trường học dạy theo cách của chúng,
bắt nhân dân ta ăn mặc theo phong tục của người Hán... Tố cáo tội ác tầy trời của giặc
Minh, Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô đại cáo”:
“... Thui dân đen trên lò bạo ngược
Vùi con đỏ dưới hố tai ương...
Tát khô nước Đông Hải khó rửa sạch tanh hôi
Chẻ hết trúc Nam Sơn khó ghi đầy tội ác...”
Tội ác của giặc Minh đè nặng lên mọi tầng lớp nhân dân, người chịu tủi
nhục, người gánh tai ương, tất cả đều oán hờn quân đô hộ. Những cuộc khởi nghĩa
chống quân Minh xâm lược đã xuất hiện ở nhiều nơi. Hiểu được lòng dân, khơi dậy tinh
thần yêu nước thương nòi, thống nhất ý chí của nhân dân thành sức mạnh to lớn cứu
nghèo, càng đánh càng lớn mạnh. Nghĩa quân đã bao phen bị giặc truy đuổi, bao
vây, ăn đói, mặc rét, có lúc tổn thất rất nặng nề, lâm vào tình trạng “chín phần tử,
một phần sinh”. Trong hoàn cảnh ấy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ tham mưu nghĩa
quân vẫn sắt son ý chí, đồng cam cộng khổ, nếm mật nằm gai với các nghĩa sĩ, làm
cho tinh thần quyết tâm và uy tín của nghĩa quân ngày càng lớn. Bộ chỉ huy nghĩa
quân rất chú trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, ý chí chiến đấu và kỷ luật nghiêm
minh, coi trọng việc “đánh vào lòng người”. Quân đội Lam Sơn nổi tiếng là một
“đạo quân tình thiết cha con, thân cùng cam khổ” [8, tr. 460], không xâm hại đến
của cải của nhân dân ngay cả lúc thiếu thốn nhất, nên rất được lòng dân, nghĩa
quân đi đến đâu cũng được dân chúng tin yêu, bảo vệ, đóng góp lương thảo, khuyến
khích con em tham gia nghĩa quân đánh giặc.
Để có thể trường kỳ kháng chiến, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã chủ trương cho
nghĩa quân “vừa cày ruộng vừa đánh giặc”, nhằm tự túc một phần lương thực, bớt
sự đóng góp của nhân dân và để tạo thế, tạo lực từng bước đưa cuộc kháng chiến
đến toàn thắng. Như vậy, quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cũng là
quá trình xây dựng TTLD, tạo ta sức mạnh tổng hợp từ nhân dân để đánh giặc, giải
phóng đất nước.
Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã nêu cao tính chất nhân
đạo, chính nghĩa của cuộc kháng chiến cứu nước, để xây dựng và phát huy TTLD.
Chiến tranh BVTQ hay chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại bang
là những cuộc chiến tranh chính nghĩa, tự nó đã hàm chứa tính nhân đạo và là một lợi
thế để tập hợp lực lượng, tạo thành sức mạnh. Song không phải lúc nào, ở đâu, người ta
cũng có thể tận dụng được lợi thế này. Đối với cuộc chiến tranh giải phóng ở nước ta
đầu thế kỷ XV, những người lãnh đạo đã phát huy cao độ được lợi thế đó.
Với tư tưởng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, Nguyễn Trãi đã khái quát
mục đích của cuộc khởi nghĩa là giành cuộc sống ấm no và sự yên bình của dân chúng.
Song dưới ách đô hộ của quân Minh, nhân dân bị bóc lột tàn nhẫn, bị dồn đến cùng cực.
Nguyên nhân của sự khổ nhục là do mất nước, do vậy sớm hay muộn, cuối cùng nhân
dân ta đã đi theo cờ khởi nghĩa để cứu nước, cứu mình.
Trong kháng chiến lúc đầu địch đông và mạnh hơn ta, buộc nghĩa
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh là thắng lợi của cuộc
CTND giải phóng dân tộc vĩ đại, trong điều kiện chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở một
TTLD vững chắc. Đất nước được giải phóng, chấm dứt hai mươi năm đô hộ tàn bạo của
quân Minh. Triều đại nhà Lê được thành lập, dân tộc Đại Việt tiếp tục phát triển đến
đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền.
TTLD còn tiếp tục được duy trì trong các thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XV,
cùng với quá trình xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình, độc lập dưới triều Lê.
1.2. Xây dựng thế trận lòng dân trong công cuộc giữ nước của dân tộc
Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.
Nghiên cứu TTLD trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ
XVI đến thế kỷ XIX, có thể chia ra ba thời kỳ với những sự kiện lịch sử tiêu biểu phản ánh
những bài học thành công và không thành công của sự nghiệp giữ nước và thống nhất Tổ
quốc. Qua đó thấy được nội dung của TTLD và việc xây dựng TTLD trong từng thời kỳ
lịch sử ấy. Xét một cách toàn cục, đây là giai đoạn quốc gia phong kiến Việt Nam đã qua
sự phát triển hưng thịnh và dần dần đi vào suy yếu.
1.2.1. Xây dựng thế trận lòng dân từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII.
Sau khi chiến thắng quân Minh (1427), Lê Lợi chính thức thiết lập vương
triều nhà Lê. Đến đầu thế kỷ XVI những dấu hiệu suy nhược của triều Lê đã xuất hiện
rõ rệt. Nạn cát cứ, tranh chấp giữa các phe phái phong kiến diễn ra gay gắt. Đất nước
đắm chìm trong một thời kỳ dài bị chia cắt và nội chiến với chiến tranh Lê - Mạc (1543
- 1592) và chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672). Đây là một đặc điểm nổi bật của
giai đoạn lịch sử này, đồng thời là một trong những giai đoạn đặc biệt tiêu biểu cho tình
trạng cát cứ và nội chiến của lịch sử Việt Nam.
Đất nước bị chia cắt, thế trận chung dựa trên cơ sở của sự thống nhất giang
sơn đã bị phá vỡ, do đó TTLD không còn thống nhất trên quy mô toàn quốc, nó đã bị
chia ra từng mảng, về cơ bản đã trở nên suy yếu, nhân dân đã bị các phe phái phong
kiến lợi dụng tiến hành các cuộc chiến tranh vì lợi ích của chúng. Tuy nhiên, để củng cố
sức mạnh của mình giành thắng lợi đối với phe phái khác, các thế lực phong kiến không
một dòng họ phong kiến phản động, hoàn toàn vì lợi ích ích kỷ của mình, Nguyễn
Hoàng cũng đã nhận ra được sức mạnh to lớn của nhân dân, và thấy được cần phải
“dạy bảo” nhân dân để mưu đồ sự nghiệp lớn.
Trịnh Cương cũng đã từng dụ rằng, muốn thương dân thì phải thi hành nhân
chính, muốn thi hành nhân chính thì phú dịch phải chia đều. Dù đứng trên lập trường
phong kiến (nhất là không phải là lực lượng đại diện cho tiến bộ xã hội, cho dân tộc), dù
với lợi ích ích kỷ của dòng họ, nhưng các thế lực phong kiến đương thời, với mức độ
khác nhau đã nhìn ra được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân và sự cần thiết phải
có chính sách đối với dân để xây dựng cơ đồ. Mặc dù vậy, do hạn chế và tính chất phản
động của nó, các phe phái phong kiến Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn trên thực tế chỉ coi nhân
dân như “cỏ rác”, ra sức bóc lột, vơ vét và đàn áp nhân dân, làm cho nhân dân lâm vào
tình trạng cơ cực, khốn khổ đúng như câu ca dao: “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là
quan”.
Các triều đại phong kiến đã thực hiện các chủ trương, chính sách nhằm bảo
vệ quyền lợi ích kỷ của mình và để chiến thắng các phe phái khác trong các cuộc nội
chiến. Nhân dân ta lúc đó hầu hết là nông dân, kinh tế đất nước chủ yếu nông nghiệp,
bởi vậy chính sách nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dưới thời chúa Trịnh
“ruộng đất tư của dân nghèo phần nhiều rơi vào tay kẻ hào phú” và “dân nghèo không
có miếng đất cắm dùi” [10, tr. 320]. Số ruộng đất công còn lại, phần lớn dùng để ban
cấp cho quan lại và binh lính, phần để cho nông dân lao động “không còn bao nhiêu”.
Chế độ quân điền đã trở thành công cụ quan trọng của giai cấp thống trị để trói buộc
nông dân vào ruộng đất, giam hãm họ trong làng xã, bắt họ chịu tô thuế, đi phu, đi lính
cho chính quyền phong kiến.
Người nông dân đã bị tước đoạt phần ruộng đất tư ít ỏi của mình, số
ruộng đất của làng xã còn rất ít nên họ bị lệ thuộc nặng nề vào địa chủ. Tô thuế,
lao dịch, binh dịch của các tập đoàn thống trị phong kiến ngày càng gia tăng, đè
nặng lên đầu họ. Mặc dù nhà Trịnh ra lệnh “các nhà quyền quý, thế phiệt, các
nha lại và các nhà hào phú, không được thừa dịp dân các xã nghèo khổ, phiêu
bạt, lấy cớ mua ruộng đất để chiếm làm của tư” [10, tr. 320], nhưng người nông
dân vẫn bị mất ruộng đất, dẫn đến hàng loạt nông dân phải rời bỏ đồng ruộng,
xâm lăng của thế lực phong kiến phương Bắc.
Trong quá trình tranh chấp quyền lực, để có được sức mạnh, các tập đoàn
phong kiến trong chừng mực nhất định có quan tâm đến dân, nhất là nông dân và binh
lính. Khi tiến hành cai trị, các dòng họ phong kiến cũng đã chú ý đến việc ban hành và
thực hiện những chính sách bảo hộ nguồn bóc lột, ít nhiều mang lại lợi ích cho nhân dân
lao động. Nhưng với bản chất phản động của các tập đoàn phong kiến, những chính
sách gọi là nhằm vào lợi ích của nhân dân ấy cũng chỉ mang tính mị dân, về cơ bản
không trở thành hiện thực. Chúng “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí
vô cùng” [7, tr. 369], trong khi đời sống nhân dân ngày càng cơ cực. Chính sự thống trị,
bóc lột tàn bạo và nặng nề làm cho các tập đoàn phong kiến không thể tập hợp được
quảng đại quần chúng nhân dân, không thể làm cho người dân “sống chết” vì nó, và
càng không thể giương ngọn cờ đoàn kết, tập hợp toàn dân đứng lên bảo vệ đất nước khi
có ngoại xâm. Không những thế, họ còn sẵn sàng bán rẻ lợi ích của dân tộc cho ngoại
bang mà không có một đắn đo gì. Việc nhà Mạc cắt đất cho triều Minh là một minh
chứng rõ rệt về điều này.
Từ đó có thể thấy rằng, TTLD phải là thế trận chung trên quy mô cả nước và
được thiết lập trên tất cả mọi vùng của đất nước, quy tụ được sức mạnh của cả dân
tộc để giữ nước. Đất nước chia cắt, lòng dân ly tán, thậm chí tầng lớp thống trị đẩy nhân
dân vào cảnh “nồi da, nấu thịt”, chém giết lẫn nhau là dấu hiệu cơ bản của sự suy yếu
TTLD và là nguy cơ dẫn đến mất nước trước âm mưu xâm lược của các thế lực ngoại
bang.
1.2.2. Xây dựng thế trận lòng dân ở cuối thế kỷ XVIII.
Cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tổ chức và lãnh đạo, bùng nổ vào mùa xuân năm 1771. Đây là
một cao trào cách mạng của nông dân và sau đó trở thành phong trào dân tộc đánh đuổi
giặc Thanh. Phong trào Tây Sơn đã làm bùng lên hào khí quật cường, tinh thần vùng lên
chống áp bức, ý chí quyết tâm chiến đấu vì sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất giang sơn
trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ Bắc đến Nam. Ý chí, nguyện vọng của nhân dân bị
phóng. Khi nhận thấy nhân dân chưa hiểu rõ tính chất chính nghĩa của phong trào Tây
Sơn, lòng dân chưa thật sự thuận theo phong trào, thì một mặt tiến hành phương pháp sử
dụng lực lượng, tiến hành chiến tranh cho phù hợp; mặt khác, giương cao ngọn cờ chính
nghĩa để tập hợp lực lượng. Đây là sự xử lý hết sức tài tình và khéo léo của Nguyễn Huệ