Tiểu luận XÂY DỰNG MA TRẬN SWOT CHO NGÀNH CAO SU VIỆT NAM - Pdf 28

XÂY DỰNG MA TRẬN SWOT CHO NGÀNH CAO SU VIỆT NAM
I- Ngành cao su thế giới.
1. Nguồn cung cao su thế giới.
Trong khi nhu cầu thị trường thế giới về cao su ngày một tăng mạnh thì hầu hết
các nước sản xuất cao su lớn đều sụt giảm về sản lượng do diện tích đất trồng
không được mở rộng, thiên tai xảy ra trong vài năm gần đây như súng thần, hạn
hán kéo dài, bão lũ đã làm giảm nguồn cung cao su của các nước Đông Nam Á, nơi
chiếm tới 80% sản lượng của toàn cầu. Nguồn cung cao su thế giới năm 2009 giảm
một phần chủ yếu do ba quốc gia xuất khẩu cao su tự nhiên lớn nhất thế giới
(chiếm 70% lượng cao su thiên nhiên sản xuất ra trên thế giới) là Thái Lan,
Indonesia và Malaysia đã thống nhất sẽ cắt giảm sản lượng vào năm 2009. Tại
Thái Lan, sản lượng cao su năm 2009 sẽ chỉ đạt 2,84 triệu tấn, giảm 7,8% so với
năm 2008. Malaysia dự kiến cắt giảm 10% sản lượng cao su vào năm 2009 so với
năm 2008. Năm 2009, sản lượng cao su thiên nhiên của Malaysia dự kiến đạt
962,000 tấn. Sản lượng cao su dự kiến tại Indonesia trong năm 2009 chỉ đạt 2,66
triệu tấn, giảm 7% so với mức 2,86 triệu tấn của năm 2008. Trong khi đó,
Malayxia bắt đầu chuyển sang tập trung vào cây cọ dầu (nước này cũng có thể mất
250.000 ha cây cao su trong giai đoạn 2008-2020 do công nghiệp hoá mạnh mẽ và
tăng diện tích trồng cọ dầu),Thái Lan thiếu đất trồng cây cao su trầm trọng và diện
tích trồng mới tại Braxin, Indonesia, Lào, Campuchia… cần một khoảng thời gian
khá dài để đưa vào khai thác. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp
Indonexia, Indonexia đang hướng tới tốc độ tăng trưởng sản lượng 4,12%/năm
nhằm nâng sản lượng cao su lên 3,072 triệu tấn vào năm 2010. Để đạt được mục
tiêu này, Chính phủ Indonexia có kế hoạch phục hồi 250.000 ha cao su tiểu điền đã
cũ và trồng mới 50.000 ha cao su tiểu điền cho đến năm2010.
2. Nguồn cầu cao su thế giới
Theo Tập đoàn Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), trung bình mỗi năm trên
thế giới tiêu thụ khoảng 9,7 triệu tấn cao su tự nhiên, trong đó các sản phẩm dùng
cho ngành công nghiệp chế biến săm lốp chiếm tới hơn 50% tổng cầu. Dự kiến,
tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới năm 2008 sẽ đạt khoảng 10,1 triệu tấn và đến
năm 2020 sẽ là 31,3 triệu tấn Giá dầu mỏ - nguyên liệu để sản xuất cao su tổng hợp

nước ta đổ xô trồng cao su với mức tăng bình quân 3%/năm và được dự báo sẽ
tăng cao hơn trong năm 2010. Riêng tại khu vực Đông Nam Bộ bình quân mỗi
năm diện tích cao su tiểu điền tăng từ 13.000 đến 20.000 ha. Theo Hiệp hội cao su
Việt Nam (VRA) ,năm 2007 diện tích cao su tiểu điền chiếm khoảng 253.320 ha,
bằng 46,1% tổng diện tích với trên 75.000 hộ trồng cao su ở 24 tỉnh thành. Mục
tiêu mà Chính phủ đưa ra là đến năm 2010, diện tích cao su VN sẽ tăng lên
700.000 ha so với 549.600 ha hiện nay, trong đó diện tích trồng mới chủ yếu là cao
su tiểu điền (dự kiến chiếm 350.000 ha trong 700.000 ha). Tuy nhiên diện tích cao
su tiểu điền được đầu tư vốn nhỏ, diện tích nhỏ lại đa phần nằm ở vùng sâu vùng
xa nên rất khó để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng đồng bộ. Bên cạnh đó,
cao su tiểu điền trồng phân tán nên việc thu gom mủ gặp nhiều khó khăn, chất
lượng mủ giảm và giá thành cao. Sản phẩm làm ra chưa gắn với khâu chế biến,
thường bị tư thương ép giá khiến người nông dân chưa được hưởng lợi tương xứng
với những thành quả mà họ đáng được hưởng.
Do điều kiện canh tác, đất đai khác nhau nên năng suất cao su của Việt Nam có
sự khác nhau giữa các vùng, dẫn đến chi phí sản xuất, chế biến ở một số tỉnh cũng
khác nhau tương đối lớn, ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận từ quá trình sản xuất chế
biến cao su. Trong thời gian qua, ngành cao su Việt Nam đa chú trọng đầu tư thâm
canh nên đã nâng cao đáng kể được năng suất trên mỗi diện tích vườn cây, từ 1,73
tấn/ha năm 1995, tăng lên 1,96 tấn/ha năm 2006 và 2,07 tấn năm 2007, đưa Việt
Nam xếp thứ 2 trên thế giới về năng suất. Năng suất cạo mủ của công nhân, có ảnh
hưởng lớn đến năng suất khai thác mủ cao su, tùy thuộc vào kinh nghiệm và sức
khỏe của công nhân. Nguồn lực lao động dồi dào, chi phí lao động thấp cộng với
việc áp dụng phương pháp canh tác hiệu quả nên đa tạo ra lợi thế cạnh tranh của
ngành cao su so với các ngành khác.
2. Thị trường tiêu thụ
Cao su luôn là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, xuất khẩu có giá trị cao. Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam là đơn
vị chính cung ứng gần như tất cả sản lượng mủ cao su xuất khẩu cũng như tiêu thụ
trong và ngoài nước, chiếm tỷ trọng quy mô trên 70% toàn ngành cao su Việt Nam,

của Việt Nam phục vụ xuất khẩu dưới hình thức cao su nguyên liệu thô, chỉ có
10% chiếm khoảng 50.000 tấn là được chế biến phục vụ cho thị trường trong nước
và xuất khẩu. Tỉ lệ này quá thấp so với nguồn cao su nguyên liệu có khả năng phục
vụ sản xuất và tiêu dùng. Do đó, lợi nhuận từ cao su thấp hơn rất nhiều so với
Malaysia hay Thái Lan. Mặt khác, hình thức gia công, quy mô sản xuất còn nhỏ và
năng suất của cao su cũng chưa thực sự đạt được như mong muốn. Vì vậy, những
mặt hàng thị trường cần và có giá cao như cao su ly tâm, SVR10, 20… thì Việt
Nam sản xuất ít, trong khi đó các loại SVR3L giá thấp, thị trường trên thế giới cần
ít (ngoài Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu nhiều) nên Việt Nam bị phụ thuộc rất
lớn vào thị trường này. Một điểm yếu nữa của cao su Việt Nam là hầu như không
có thương hiệu trên thị trường nên luôn phải bán với giá thấp hơn so với các nước
khác. Để thúc đẩy phát triển ngành chế biến cao su, cao su Việt Nam cần phải đa
dạng hoá sản phẩm, giảm xuất khẩu nguyên liệu thụ, phỏt triển chế biến sản xuất,
thay đổi cơ cấu ngành hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường như EU, Bắc
Mỹ và giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Theo số liệu thống kê sơ bộ,
tháng 3/2009 cả nước xuất khẩu đạt trên 40 ngàn tấn cao su các loại với kim ngạch
55,3 triệu USD, tăng 10,32% về lượng và tăng 6,53% về trị giá so với tháng trước.
So với tháng 2/2009, lượng xuất khẩu các chủng loại cao su chính đều tăng. Trong
đó, tăng mạnh nhất là cao su RSS3 tăng 513,95%; SVR 10 tăng 310,89%; CSRL
tăng 139,81%; CSR10 tăng 107,14% Tuy nhiên, lượng xuất khẩu một số chủng
loại cao su khác lại giảm như Latex, cao su hỗn hợp SVRCV 60, SVR5, SVRCV
50.Tổng lượng cao su xuất khẩu quý I/2009 đạt khoảng 116 ngàn tấn với trị giá
157 triệu USD, giảm 6,14% về lượng và giảm 46,21% về trị giá so với cùng kỳ
năm 2009 .Quý I/2009, cao su khối SVR3L vẫn là chủng loại xuất khẩu chiếm tỉ
trọng cao nhất, chiếm 46% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước, đạt 53,37
ngàn tấn với trị giá trên 74 triệu USD, giảm 6,52% về lượng và giảm 48,47% về trị
giá so với cùng kỳ năm 2008. Cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và các nước châu
Âu đã làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, lượng mua sắm ôtô và săm lốp ở các
nước phát triển chững lại làm cho sức mua cao su giảm. Bên cạnh đó, hiện nay cao
su Việt Nam đang bước vào thời kỳ tăng sản lượng của cao su nên lượng mủ cao

và giá nhân công rẻ. Đây là
một lợi thế đáng kể của
Việt Nam khi ngành khai
thác và sơ chế mủ cao su là
ngành cần rất nhiều lao
động và chi phí lao động
chiếm tỷ trọng lớn nhất
Điểm yếu (W)
1. Cơ cấu sản phẩm chưa
phù hợp với nhu cầu của
thị trường. Cao su xuất
khẩu của Việt Nam chủ
yếu là sản phẩm cao su tự
nhiên chưa được xử lý và
ở dạng nguyên
thủy như SVR 3L. Nhu
cầu loại cao su này của thế
giới rất thấp, trừ Trung
Quốc.
2.Trình độ tay nghề của
công nhân chưa cao nên
năng suất khai thác cao su
thấp hơn so với các nước
trong khu vực.
3.Vườn cây cao su của
nước ta ngày càng già cỗi,
một số vườn cây kém hiệu
(70%) trong chi phí giá
thành sản xuất.
3.Việt Nam được nhóm 3

diện tích trồng cao su khó
có thể mở rộng.
4.Công nghệ chế biến mủ
cao su của các công ty
hiện đang dừng lại ở mức
sơ chế, mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu là bán thành
phẩm. Trong tương lai,
nếu phải cạnh tranh về
chất lượng hàng hóa thì
các doanh nghiệp cao su
Việt Nam sẽ khó giành
được thị phần.
5.Cao su Việt Nam hầu
như không có thương hiệu
trên thị trường thế giới nên
luôn phải bán qua trung
gian với giá thấp hơn so
với các nước khác. Ngoài
ra, tình trạng tranh mua
tranh bán của các doanh
nghiệp cao su Việt Nam
với nhau cũng gây bất lợi
cho thị trường.
khẩu.
Các cơ hội (O)
1.Việc gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới
(WTO) mang lại những ảnh
hưởng tích cực và tạo ra

trường.
(S1,S2,S3,O1,O2,O4,)
- Chiến lược đa dạng hóa.
(W1,W5,O1,O3)
-Chiến lược tăng trưởng
theo hướng hội nhập: liên
doanh.
(W4,W5,W1,O1)
tăng khiến cho các nhà sản
xuất đa chuyển sang sử
dụng cao su tự nhiên. Xu
hướng này làm tăng nhu cầu
và giá mủ cao su nguyên
liệu trong tương lai.
Các nguy cơ (T)
1.Thời tiết trong những năm
gần đây có những biến đối
khó lường, ảnh hưởng tiêu
cực tới năng suất và diện
tích trồng cây cao su của
Việt Nam cũng như các
quốc gia xuất khẩu cao su
lớn khác như Indonesia,
Thái Lan…
2.Thị trường xuất khẩu cao
su của Việt Nam còn thiếu
sự đa dạng hóa. Trung Quốc
vẫn là thị trường nhập khẩu
chính (chiếm 60%) nên rủi
ro là rất lớn. Chỉ cần có

nước lân cận nơi còn rất
nhiều tiềm năng phát triển
cây cao su. Tuy nhiên, việc
trồng cao su tại Lào và
Campuchia cũng không
hoàn toàn thuận lợi do cũng
có rất nhiều doanh nghiệp
từ Trung Quốc và Thái Lan
sang đầu tư trồng cao su.
Các kết hợp S1,S2,S3,O1,O2,O4 hình thành lên chiến lược tăng trưởng tập
trung phát triển thị trường. Do:
Chúng ta có diện tích trồng cao su còn nhiều tiềm năng, ngoài ra còn mở rộng
trồng cao su ở Lào, Campuchia vì thế có thể gia tăng sản lượng cao su có thể đủ
đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng tăng cao ( nhu cầu cao su sản xuất săm lốp ở
1 số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, nhu cầu mủ cao su tăng do giá dầu tăng) . Việt
Nam là 1 trong số các nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, lại vừa được mời gia
nhập Consortium cao su quốc tế (IRCO), cái vị thế đó cũng giúp cao su Việt Nam
dễ thâm nhập thị trường thế giới hơn. Việt Nam lại mới ra nhập WTO nên được
hưởng các ưu đãi về thuế khi xuất khẩu sang nhiều nước. Ngoài ra giá nhân công
lại rẻ => giá thành sản phẩm cũng rẻ theo nên chúng ta có thể đưa ra 1 giá bán hợp
lý để cạnh tranh với các nước khác khi phát triển thị trường mà vẫn đem lại lợi
nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status