LUẬN văn tốt NGHIỆP đời SỐNG TINH THẦN của ĐỒNG bào dân tộc STIÊNG ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY - Pdf 38

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa xã hội
Đời sống tinh thần
Hà nội
Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
CTQG
CNXH
ĐSTT
H
Nxb
QĐND
XHCN


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO

3

DÂN TỘC S'TIÊNG Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC
HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1 Dân tộc S'tiêng và đời sống tinh thần của đồng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

51
69
70


3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Đời sống tinh thần là một bộ phận cấu thành đời sống xã hội, xã hội
ngày càng phát triển thì nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao và không bị giới
hạn. Nó trực tiếp phản ánh bản sắc văn hóa và tính ưu việt của một chế độ xã hội, là
động lực to lớn tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến đời sống chính trị, đời sống kinh
tế…Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII Đảng ta xác định mục tiêu phát triển bền
vững của xã hội đó chính là “Nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng,
chỉnh đốn Đảng là then chốt, không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần
của xã hội”[4; tr.12]. Những giá trị văn hóa tinh thần chính là chuẩn mực để xây
dựng con người mới, xã hội mới.
Cách mạng XHCN ở nước ta đã làm cho bộ mặt tinh thần của xã hội
thay đổi căn bản so với trước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội và đáp ứng một phần nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân. Xét trên tất cả các khâu, các lĩnh vực của đời sống tinh thần, dễ nhận
thấy là chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn. Bên cạnh việc tập trung
phát triển kinh tế, ổn định chính trị, Đảng ta không ngừng chăm lo đến ĐSTT
của nhân dân nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng và là bộ
phận hữu cơ trong chủ trương, đường lối, chính sách chung của Đảng.
Các vấn đề đặt ra trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của
nước ta rất đa dạng, phức tạp. Trong đó, cần giải quyết các vấn đề nảy sinh
giữa việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với các giá trị văn hóa

trỗi dậy trong cộng đồng, các trào lưu văn hóa xất độc đang lây lan ảnh hưởng
mạnh mẽ đến ĐSTT của đồng bào. Do đó, việc chăm lo xây dựng ĐSTT cho
đồng bào dân tộc S'tiêng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,
ổn định an ninh trật tự và xây dựng đời sống mới ở các vùng đồng bào dân tộc
thiểu số nói chung và dân tộc S'tiêng tỉnh Bình Phước nói riêng. Vì vậy tác
giả lựa chọn đề tài “Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh
Bình Phước hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp.


5
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đời sống tinh thần của xã hội nói chung, đặc biệt là ĐSTT của các dân
tộc thiểu số nói riêng là một vấn đề lớn, phong phú và đa dạng được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu quan tâm như: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam và chính sách ngôn ngữ, Viện Khoa học xã hội, H. 1984; Xóa đói, giảm
nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp, Hà Quế Lâm, Nxb CTQG, H. 2002; Truyền thống văn hóa các dân
tộc thiểu số ở Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên, H. 2004; Văn hóa
lễ hội truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh, Nxb
QĐND, H. 2007; Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Vũ Ngọc
Khánh, Võ Văn Cận, Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa thông tin, H. 2004; Đặc
trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Hoàng Nam, Nxb Văn hóa
dân tộc, H. 2002; Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, Lê Như Hoa, Nxb
Văn hóa thông tin, H. 2002; Hợp tuyển thơ văn các dân tộc thiểu số, Nông
Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hà Văn Thư, Mạc Phi, Hoàng Thao, Nxb Văn
học, H. 1962…….
Các nghiên cứu về dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước bao gồm một số
vấn đề liên quan như: Hôn nhân và gia đình của người S'tiêng, Phan An, Tạp
chí dân tộc học, số 03/2005; Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, Mạc Đường, Nxb
Tổng hợp Sông Bé, 1985; Đám cưới người S’tiêng ở Bình Phước, Phạm Hiến,

Luận văn dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước về vấn đề văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần, dân tộc và chính sách
dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
* Cơ sở thực tiễn
Thực trạng ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện
nay thông qua những nghiên cứu, báo cáo của ban dân tộc tỉnh Bình Phước,
những công trình nghiên cứu về dân tộc S'tiêng của các nhà khoa học, báo cáo
của chính quyền địa phương các huyện, thị xã trong tỉnh về tình hình đời sống


7
của dân tộc S'tiêng trên địa bàn và tình hình công tác dân tộc của đội ngũ cán
bộ chuyên trách các cấp….
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin trong xem xét, giải quyết các vấn đề xã hội, phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương phương pháp logic và lịch sử, kết hợp với điều tra xã
hội học, điền dã tại một số khu dân cư đồng bào dân tộc S'tiêng sinh sống
trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
6. Ý nghĩa của luận văn
Bước đầu thấy được bức tranh ĐSTT của đồng bào dân tộc S'tiêng ở
Bình Phước hiện nay khá phong phú, đa dạng.
Góp phần cung cấp những luận cứ trong hoạch định và thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở địa phương
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các
cơ quan nghiên cứu của tỉnh Bình Phước và chính quyền địa phương trong
việc tiến hành triển khai các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần và các chính sách dân tộc tại địa bàn.
7. Kết cấu của luận văn

* Lịch sử tộc người và tộc danh
Người S'tiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Tây Nguyên và miền Đông Nam
Bộ. Theo tài liệu khảo cổ học, từ những di tích, chỉ tìm được ở Đốc Chùa


9
(Tân Uyên), thành Cổ Tròn (Bình Long) thì khả năng xuất hiện của người
S'tiêng ước lượng cách đây khoảng từ 2.000 đến 5.500 năm. Vào những thập
niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiếm đất của người S'tiêng để lập đồn
điền cao su, đẩy người S'tiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phía Bắc.
Dân tộc S'tiêng thuộc nhóm ngữ hệ Môn - Khơ Me Đông Nam Á. Trong
các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên thì người S'tiêng là
nhóm cư dân có dân số đông thứ ba sau dân tộc Ba Na và dân tộc H'Rê. Tiếng
nói của người S’tiêng rất gần gũi với người M’nông, Mạ, Chơ Ro…Chính vì
vậy mà việc nói và hiểu được ngôn ngữ của người S’tiêng với các tộc người
này được thuận lợi và tạo nên sự ảnh hưởng giao lưu văn hóa sâu sắc. Người
S'tiêng có nhiều tên gọi khác nhau như: Xa Đu, Xa Điêng, Xa Chiêng, Bù Lơ,
Bù Đíp, Bù Dêh, Bà Rá, Đalmer, Rông Al, Bù Lê…Vào tháng ba năm 1979
được thống nhất gọi tên chung là dân tộc S'tiêng và được chia thành bốn nhóm
chính: Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biêk, Bù Lập, nhưng hiện nay chủ yếu còn tồn tại
hai nhánh chính là Bù Lơ và Bù Đek. Nam giới S'tiêng thường mang họ Điểu,
nữ giới mang họ Thị, một số ít khác có họ Đrâu.
* Dân số và cư trú
Dân số người S'tiêng hiện nay khoảng 85.436 người (2009) sống trên
43 tỉnh, thành của cả nước. Trong đó ở Bình Phước có 81.436 người (chiếm
95,6%), Tây Ninh 1.654 người, Đồng Nai 1.269 người, Lâm Đồng 308 người,
Bình Dương 153 người. Họ tập trung cư trú về phía bắc thượng nguồn dòng
sông Bé (người S'tiêng gọi dòng sông này là DakLung hay DakLay). Vào
khoảng thế kỉ XIX, vùng cư trú của người S'tiêng về phía Nam kéo dài từ
khoảng sông Bé đổ vào sông Đồng Nai, khu vực Hớn Quảng, Nha Bích là

giờ chọn đất canh tác nơi có rừng già nhiều cây cổ thụ lâu năm. Họ gọi đó
là rừng bbri prá (prá: người già, tổ tiên), rừng của tổ tiên ông bà hay rừng
thiêng. Nếu ai vi phạm chặt gỗ, phá rẫy ở những khu rừng này sẽ bị luật tục
của làng trừng phạt. Trên một đám rẫy, người ta thường trồng cả 3 loại lúa
sớm, lúa lỡ, lúa mẹ. Đối với mỗi loại lúa, người ta tỉa một hoặc vài ba loại
giống theo từng khoảng riêng biệt để tiện thu hoạch trước sau khác nhau
tuỳ theo thời gian sinh trưởng.


11
Xưa kia người S'tiêng sống trong những vùng rừng già nhiệt đới có
nhiều thú dữ nên họ rất thành thạo trong việc làm các loại bẫy để săn thú, bắt
cá ngoài suối, thu lượm lâm sản, hái rau rừng cũng được xem là một nguồn
thực phẩm hàng ngày không thể thiếu trong đời sống của họ. Người S'tiêng
làm rẫy trên những vùng đất đỏ.
Ngoài làm rẫy, chăn nuôi cũng được người S'tiêng chú ý. Họ nuôi các
tiểu gia súc, gia cầm: heo, gà, vịt, chó…Đặc biệt mỗi gia đình người S'tiêng
thường nuôi từ một đến hai con lợn đồng bào(một giống lợn lai với lợn rừng
có thịt rất ngon và thơm, thường được thả rông cho ăn như trâu, bò..), còn trâu
nuôi chỉ để dành hiến tế trong các dịp lễ, tết lúa mới hay trong gia đình, sóc
có việc lớn. Bên cạnh việc bổ sung thực phẩm hái lượm măng rừng, đọt mây,
nấm… của những người phụ nữ và trẻ em. Đến mùa giáp hạt, vào những khi
mùa khô, họ lại tranh thủ ra suối xúc cá để cải thiện bữa ăn.
Các nghề thủ công không phát triển lắm ở vùng người S'tiêng, đây là
hoạt động đơn thuần chỉ mang tính tự cung tự cấp phục vụ cho chính nhu cầu
thấy cần thiết của họ chứ hoàn toàn không mang tính chất sản xuất hàng hóa.
Đàn ông đảm nhận công việc vào rừng lấy tre để đan lát (gùi, nong, nia, nơm
xúc cá…) phục vụ cho nhu cầu gia đình. Nghề rèn cũng đã có từ lâu đời song
hiện nay nghề này cũng đã mai một, chỉ một số người già là còn nhớ. Nghề
dệt vẫn phổ biến đối với đa số phụ nữ S'tiêng, tuy nghề này không phát triển,

ngắn, bé cho từng hộ gia đình. Ở Bình Long còn một số nhà sàn cổ theo
truyền thống S'tiêng: cột lớn, vách nhà nghiêng loe ra ở phía trên. Do quá
trình cư trú gần người Khmer nên ngôi nhà sàn dài của nhóm này chịu ảnh
hưởng ít nhiều về kiến trúc ngôi nhà của người Khmer như có sàn cao, có cầu
thang lên xuống. Không gian bên trong ngôi nhà dài - nơi cư trú của đại gia
đình được chia làm nhiều bếp (nak). Ranh giới giữa các nak được phân chia
một cách tương đối. Đánh dấu bởi một bếp là nơi sinh hoạt của một gia đình
nhỏ. Phía trên bếp là kho chứa thóc của các gia đình và cạnh bếp là một sạp
tre để ngủ gọi là “mtut”. Ngay sát vách nơi đầu nằm đặt các loại chiêng ché
quý, một vài vật dụng sinh hoạt của các gia đình. Đặc biệt ở nhóm Bù đek,
kho chứa thóc (nâm bar) dựng ở bên ngoài nhà dài.


13
Hiện nay, ở nhánh S'tiêng Bù Lơ, nhà nền đất, nhà trệt ngắn, nhỏ cho
từng hộ gia đình đã xuất hiện nhiều xen lẫn với nhà dài. Ở nhánh S'tiêng
Bù Dek, nhà nền đất cũng được xây dựng xen lẫn với nhà sàn. Trong một
bối cảnh hoạt động kinh tế - xã hội đã thay đổi, mô hình gia đình nhà dài đã
không còn phù hợp. Những gia đình nhỏ đã tự tách ra thành một hộ gia
đình có hoạt động kinh tế độc lập. Mỗi làng chỉ còn lại một hoặc hai ngôi
nhà dài làm nơi sinh hoạt truyền thống và tiến hành các hoạt động của cộng
đồng tộc người.
* Trang phục
Trang phục của người S'tiêng khá đơn giản. Thông thường đàn ông
đóng khố ở trần, đàn bà mặc áo hoặc ở trần quấn váy. Ngày nay, nam giới
mặc quần áo như người Kinh, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi. Một số ở gần vùng
người Khơ Me, phụ nữ S'tiêng thường quấn váy Khơ Me. Dù vậy, khi đi vào
vùng đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình Phước hiện nay ta vẫn thấy những
phụ nữ cao tuổi ở trần, cổ đeo nhiều chuỗi vòng hạt cườm nhiều màu, dái tai
căng rộng bởi đôi hoa tai ngà voi, họ cũng là lớp người cuối cùng có những

Trong quan hệ gia đình, do đặc điểm riêng về hôn nhân nên cấu trúc gia
đình của hai nhóm cũng có những khác biệt nhất định như: Ở gia đình S'tiêng
Bù Lơ là gia đình lớn phụ hệ do người đàn ông nắm quyền quản lý các “nak”
của mình và những người phụ nữ chỉ là nhân tố phụ chịu trách nhiệm việc dạy
dỗ con cái. Còn trong đại gia đình người S'tiêng Bù đek lại tính theo huyết
thống về phía người đàn bà nên trong gia đình vai trò của người đàn bà rất
quan trọng, họ chịu trách nhiệm quản lý về dòng họ và sinh hoạt gia đình còn
người đàn ông giữ một vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất, kinh tế của
gia đình. Trong mỗi ngôi nhà dài người S'tiêng đều có một người đàn ông lớn
tuổi, hay đàn bà có uy tín trong họ hàng được các nak tín nhiệm làm Tom Yau
(tương tự như tộc trưởng) chuyên lo việc xã giao, cúng tế và giải quyết những
mối quan hệ trong nhà dài của mình.


15
1.1.2 Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc S'tiêng ở tỉnh Bình
Phước
* Đời sống tinh thần và cấu trúc của đời sống tinh thần
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy tâm thì chỉ có tinh thần và ĐSTT
mới tồn tại thật, còn thế giới vật chất chỉ là sản phẩm của ý thức, của cảm
giác, là biểu tượng của tinh thần và chịu sự quyết định của đời sống tinh thần.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác thì coi tinh thần và đời ĐSTT hoàn toàn phụ
thuộc vào đời sống vật chất, nhưng đánh giá sự phụ thuộc ấy một cách máy
móc, không thấy rõ được vai trò sáng tạo, năng động cũng như tác động trở
lại to lớn đến tồn tại xã hội của ĐSTT.
Theo quan niệm Mác xít, tinh thần là sản phẩm của một dạng vật chất có
tổ chức cao là óc người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tinh thần
chính là vật chất đã được chuyển hóa, trừu tượng hóa ở trong óc người. Quan hệ,
phương thức sản xuất vật chất quyết định quan hệ, phương thức sản xuất tinh
thần. Quan hệ tinh thần xã hội, xét cho cùng chỉ là chỉ là cái phản ánh những

hướng phát triển của ĐSTT. Trong xã hội có giai cấp, ĐSTT mang tính giai cấp.
Giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng thống trị ĐSTT xã hội. Cách mạng
Việt Nam, do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo, nên chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị của Đảng cộng sản giữ vai trò
chủ đạo, quy định sự vận động, phát triển của ĐSTT xã hội.
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm, thái độ và tình cảm…của con
người về quy tắc, các chuẩn mực điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử
trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng xã hội
theo các chuẩn mực thiện - ác, lương tâm - trách nhiệm, quyền lợi - nghĩa vụ,
công bằng, danh dự, hạnh phúc. Trong đời sống hiện thực, đạo đức được thiết
lập, thực hiện chủ yếu bằng phương thức tự điều chỉnh, thông qua sức mạnh
của dư luận xã hội. Đạo đức bị quy định, chế ước bởi tồn tại xã hội, bởi giai
cấp và bởi truyền thống đạo đức dân tộc. Đạo đức vừa có nội dung mang tính
nhân loại vừa có nội dung mang tính giai cấp. Dưới CNXH, hai nội dung đó
thống nhất với nhau.


17
Lối sống là phương thức thể hiện cụ thể quan điểm, tư tưởng, quan
niệm đạo đức của con người trong quá trình tồn tại và trong hoạt động thực
tiễn. Hệ tư tưởng, mục tiêu, lí tưởng giai cấp công nhân là những yếu tố cơ
bản, chủ đạo quy định lối sống của người Việt Nam hiện nay, thể hiện thế giới
quan, nhân sinh quan và văn hóa của họ; thể hiện chủ nghĩa nhân đạo, nhân
văn trong quan hệ giữa người với người trong quan hệ xã hội.
Như vậy, tư tưởng, đạo đức, lối sống tuy mang những nội dung riêng
nhưng thống nhất gắn bó, tác động, chi phối lẫn nhau, trong đó tư tưởng giữ vai
trò chủ đạo, đạo đức là cơ sở nền tảng, lối sống là sự thể hiện kết quả nhận thức
tư tưởng, rèn luyện đạo đức, hành vi trong cuộc sống sinh động thường ngày.
Với nghĩa đó, tư tưởng, đạo đức, lối sống thống nhất chặt chẽ, chúng đều cùng
biểu hiện ở phẩm chất, ở nhân sinh quan, ở thế giới quan của con người.
Hoạt động giáo dục, khoa học - công nghệ là lĩnh vực cơ bản, quan

Đời sống tinh thần của xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng
có những đặc trưng chủ yếu; hệ tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
giữ vai trò chủ đạo, chi phối; ĐSTT nảy nở, phát triển trong bầu không khí xã
hội dân chủ với sự khẳng định chủ thể tối cao của cả sự sáng tạo và hưởng thụ
các giá trị tinh thần là nhân dân lao động làm chủ; thắm đượm chủ nghĩa nhân
đạo, yêu hòa bình, tất cả từ con người và vì con người; bảo tồn và phát huy
những giá trị tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời hấp thụ có
chọn lọc những giá trị tinh thần của lịch sử nhân loại và nền văn minh hiện
đại. Vì vậy, quá trình xây dựng ĐSTT phải được tiến hành trên cơ sở dân chủ
hóa, phát huy sức mạnh tổng hợp, chứ không áp đặt, bao cấp. Kết hợp xây
dựng ĐSTT của toàn xã hội với ở từng địa bàn, từng cộng đồng, từng tầng lớp
dân cư. Hướng tới các mục tiêu đã định, có tính đến những việc khó khăn
trước mắt, việc xây dựng ĐSTT của xã hội phải được tiến hành từ thấp đến
cao, vừa thông qua các mâu thuẫn vừa phải bảo đảm tính nhất quán, tính liên


19
tục, xây phải đi đôi với chống, luôn đề phòng, ngăn chặn kịp thời những
khuynh hướng lệch lạc.
Vấn đề đặt ra khi xây dựng đời sống tình thần là, khi xem xét, không
chỉ căn cứ vào các giá trị và các quá trình hình thành giá trị đó mà quan trọng
hơn cả là các giá trị đó có thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội,
con người, tập thể, gia đình, địa bàn đó hay không. Lênin cho rằng : Chỉ có
cái gì đã ăn sâu vào đời sống văn hóa, vào phong tục tập quán, mới có thể
được coi là hiện thực. Đồng thời Người cũng chỉ rõ, bất cứ một lĩnh vực nào
của xã hội đang tồn tại cũng chứa đựng ba yếu tố, đó là những vết tích của
quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai. ĐSTT
cũng có những yếu tố đó và thực chất xây dựng đời sống tinh thần mới chính
là cải tạo những yếu tố không phù hợp của cái cũ, phát huy những cái tốt ở
hiện tại và định hướng phát triển cho tương lai.

thang nhà. Nếu người lạ bất chấp dấu hiệu đó cứ vào làng, vào nhà sẽ bị phạt.
Loạn luân (Đoăng ih): Trong quan hệ hôn nhân người S'tiêng không cho
phép những người cùng dòng họ kết hôn với nhau, hoặc có quan hệ tính giao.
Việc kết hôn giữa những người cùng dòng họ được xem là loạn luân, người
S'tiêng coi đó là nguồn gốc sinh ra các dịch bệnh, thiên tai như lũ lụt, trượt
đất... gây tổn hại cho buôn làng. Những người loạn luân sẽ bị phạt nặng, phải
nộp heo gà để cúng thần linh, và phải ăn cơm, thức ăn được đổ trộn vào một
máng dành cho heo, dân làng chứng kiến và nhổ nước bọt vào kẻ loạn luân.
Lừa đảo, trộm cắp: Người S'tiêng rất ghét những kẻ trộm cắp, lừa đảo,
vì vậy nếu bắt được kẻ trộm cắp, lừa đảo, kẻ đó sẽ bị cả làng bắt phạt. Hình
phạt thường là phải tổ chức lễ cúng thần linh và đền bù gấp nhiều lần cho
người bị hại.
Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh
nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay, nhiều người ở vùng
có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên
nhà ở, bởi họ cho rằng, nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến “thần lúa”, đẻ xong
cũng phải cúng một con lợn cho thần lúa.


21
Cưới xin: Người S'tiêng quan niệm hôn nhân là một sự kiện trọng đại
trong cuộc đời và là việc chung của dòng họ. Tuy cùng chung những nghi
thức hôn nhân giống nhau nhưng nhóm S'tiêng Bù Lơ theo chế độ phụ hệ nên
quyền chủ động ở người nhà trai, còn nhóm S'tiêng Bù Đek theo chế độ mẫu
hệ hôn nhân chính lại do nhà gái đảm nhiệm.
Nhóm S'tiêng Bù Đek theo chế độ mẫu hệ, vì vậy trong gia đình cũng
như ngoài xã hội người phụ nữ có vai trò rất lớn, một trong những quyền đó
là quyền được cưới chồng và con cái mang họ mẹ. Trước đây, độ tuổi kết hôn
là từ 15 đến 17 tuổi, điều kiện kết hôn là cả nam và nữ đều phải trải qua lễ
thành đinh bằng việc hoàn thành lễ cà răng, căng tai. Khi đến tuổi trưởng

mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và không vui nhộn
trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường cúng phải tốn
kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không
được chôn vào bãi mộ của làng.
Tục cà răng: (tiếng dân tộc gọi là kosho) trẻ em từ 15 tuổi trở lên khi
đã mọc hết răng thì bắt đầu cà răng. Nếu không cà răng sau này sẽ bị sâu đục
và không có răng. Người S'tiêng cho rằng con gái không cà răng thì không
được hạnh phúc trong hôn nhân, gia đình. Nếu đàn bà không chịu cà răng thì
bị coi là người không có nhân phẩm. Ngày nay con gái S'tiêng ở những vùng
sâu vùng xa nếu như chưa cà răng vẫn khó lấy chồng.
Tục căng tai (tiếng dân tộc gọi là torshutor): người S'tiêng cho rằng nếu
không căng tai về già không sáng suốt, thông minh, còn có thể bị bệnh đần
độn. Nếu phụ nữ không có con gái thì hai vợ chồng phải cùng nhau căng tai,
họ cho rằng cà răng căng tai còn là biểu hiện quan niệm về cái đẹp.
Lễ hội: Các lễ hội truyền thống của người S'tiêng chủ yếu là: Lễ hội
mừng lúa mới, lễ hội đâm trâu, nghi lễ đặt tên cho một thành viên mới.
Lễ hội mừng lúa mới (năng ba ): Tổ chức ngay khi thu hoạch được gùi
lúa đầu tiên. Ngày tết mừng lúa mới nhà nào cũng sắm váy mới, áo mới cho
thanh niên, phụ nữ ai cũng đeo hết các trang sức mà mình có để khoe với mọi
người trong buôn. Các gia đình có hàng chục ché rượu cần và mổ trâu bò, heo


23
để thiết đãi bà con buôn làng. Công việc được phân chia theo giao ước cứ bốn
năm thì một gia đình đứng ra tổ chức một lần, thường thì những gia đình giàu
có hoặc dòng học giàu có luân phiên nhau trong sóc hoặc giữa các sóc với
nhau, thứ tự quay vòng theo chu kỳ. Đây là nghi lễ lớn nhất của người S'tiêng
và cũng là dịp để họ ăn tết tạ ơn các Yàng, cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở
cho muôn vật, sự bình an cho cả dòng họ và cho cả cộng đồng.
Gia chủ lấy cây nêu nhỏ và một chén rượu cần đặt dưới kho lúa. Khấn

thần rừng, cầu cho mưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội
thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Xong nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt
nướng, uống rượu cần và tận mục sở thị những màn biểu diễn cồng chiêng, những
điệu múa cùng các nghệ nhân và nam nữ miền sơn cước, cuộc vui tiếp tục cho đến
khi màn đêm buông xuống, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và
xướng sử thi cho đến sáng hôm sau.
Lễ đặt tên cho thành viên mới: Đây là một nghi lễ quan trọng trong
hàng loạt nghi lễ vòng đời người. Khi một đứa bé chào đời, là một sự kiện
quan trọng. Bên cạnh niềm vui là trách nhiệm của gia đình và cộng đồng. Lễ
đặt tên cho thành viên mới thường được tiến hành khi đứa trẻ được 2 đến 3
tháng tuổi; gia chủ chuẩn bị lễ vật: một con lợn, một con gà, một ché rượu
cần, một kỷ vật cho đứa bé, sau đó gia đình mời già làng đến làm chủ lễ. Tiến
hành như kế hoạch đã định, khi công việc chuẩn bị đã tươm tất, gia chủ bày
rượu cần và các con vật hiến tế ra giữa nhà, cắt tiết vật hiến tế lấy máu và
rượu cần dâng lên thần linh, mong thần linh chứng giám, nhận mặt và tên đứa
bé, phù hộ cho nó ăn nhiều nhanh lớn, có sức mạnh như nước, như lửa, sớm
lên rừng bẻ măng, lên rẫy trỉa lúa. Sau nghi lễ trên, Chủ lễ chính thức tuyên
bố tên đứa bé trước sự chứng kiến của các thành viên trong bon (làng). Từ
đây mọi người trong gia đình và xã hội phải có trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ
cho đến lúc bé trưởng thành. Sau đó Chủ lễ dùng trái bầu khô múc nước gội
đầu, tắm cho bé. Đây là việc làm mang ý nghĩa chúc phước lành, theo quan
niệm sau này bé sẽ có sức mạnh và trí tuệ. Cuối cùng gia đình mời mọi người
ở lại ăn cơm lam, uống rượu cần, cầu mong mọi điều tốt lành đến với đứa bé
cũng như cả cộng đồng trong cuộc mưu sinh của đời người.


25
Lễ hội đâm trâu: Thời điểm tháng 2 đến tháng 3 âm lịch hằng năm là lễ
hội đâm trâu ở Bình Phước bắt đầu nhộn nhịp do lúc này mùa màng đã thu
hoạch và chuẩn bị cho một năm mới với nhiều lời cầu ước. Lễ hội đâm trâu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status