BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
NGUYỄN THỊ ÁI LIÊN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI
NGÂN SÁCH CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN DANH NGUYÊN
Hà Nội - Năm 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
các cơ quan, các thầy, các cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy TS.Nguyễn Danh
Nguyên, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý - Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực
hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến phòng Tài chính – Kế hoạch của UBND
thành phố Hà Tĩnh, đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu và
nghiên cứu về công tác quản lý chi ngân sách cấp xã trên địa bàn Thành phố.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các nhà khoa học trong ngành, các bạn bè đồng
2.1 Giới thiệu tổng quan về thành phố Hà Tĩnh ..................................... 28
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng ............................ 28
2.1.2 Tổ chức hành chính và đặc điểm dân cư ........................................ 29
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 ............. 29
2.2 Thực trạng quản lý NSNN trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh .......... 32
2.2.1 Mô hình tổ chức quản lý NSNN trên địa bàn Thành phố ............... 32
2.2.2 Phân cấp quản lý NSNN cho phường, xã của Thành phố ............. 36
2.2.3 Kết quả thực hiện NSNN trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2013-2015 ...38
2.3. Phân tích công tác quản lý chi ngân sách phường, xã trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh ........................................................................................ 42
2.3.1. Phân tích công tác lập dự toán chi ngân sách phường, xã ............. 42
2.3.2 Phân tích công tác chấp hành dự toán chi ngân sách phường, xã .. 52
Đơn vị tính: triệu đồng ...............................................................................................54
2.3.3 Phân tích công tác kế toán chi và quyết toán chi ngân sách xã ...... 67
2.3.4 Phân tích công tác kiểm tra việc chấp hành chi ngân sách xã ........ 69
2.4 Đánh giá chung công tác quản lý chi ngân sách cấp xã trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh ........................................................................................ 72
2.4.1 Những kết quả đạt được về công tác quản lý chi NSX................... 72
2.4.2 Những hạn chế yếu kém về công tác quản lý chi NSX ................. 72
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế .................................................... 74
TÓM TẮT CHƯƠNG 2..........................................................................................77
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ CHI NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH .........78
3.1. Định hướng phát triển của thành phố Hà Tĩnh đến năm 2020 ..... 78
3.1.1 . Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Tĩnh ....... 78
3.1.2 Định hướng và mục tiêu cụ thể về quản lý ngân sách xã; xã, cần
quán triệt những định hướng cơ bản sau đây: ................................................. 80
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi NSX trên địa bàn
2
NSX
Ngân sách xã, phường
3
BTXH
Bảo trợ xã hội
4
KTXH
Kinh tế xã hội
5
NS
Ngân sách
6
NSTW
Ngân sách Trung ương
Trong công cuộc đổi mới và xây dựng, phát triển kinh tế đất nước nói chung,
tỉnh Hà Tĩnh nói riêng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn, cấp xã là cấp hành chính có tầm quan trọng đặc biệt. Đây là cấp chính quyền
cơ sở, nơi trực tiếp nắm bắt, giải quyết các nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp
lãnh đạo và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Ngân sách cấp xã ( phường, xã) gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền nhà nước cấp xã, là nguồn cung cấp phương tiện vật chất để
chính quyền cấp xã hoạt động, lãnh đạo nhân dân triển khai thực hiện các chính
sách, pháp luật của Nhà nước và xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an
ninh - quốc phòng tại địa phương. Vì vậy, việc quản lý, sử dụng nguồn ngân sách
cấp xã một cách tiết kiệm, có hiệu quả, công khai, minh bạch và khoa học là rất cần
thiết, là yêu cầu khách quan trong công tác quản lý ngân sách xã và trong công cuộc
xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.
Trong thời gian qua, mặc dù đã được sự quan tâm của các sở, ban, ngành và
các cấp chính quyền địa phương trong việc tăng cường hoạt động quản lý ngân sách
xã trên địa bàn. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động quản lý ngân sách cấp xã hiện nay
vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đòi hỏi cần phải được chấn chỉnh kịp thời, đặc biệt
là trong công tác lập dự toán, quản lý điều hành, quyết toán và thực hiện việc công
khai, minh bạch trong hoạt động ngân sách cấp xã.
Trước thực trạng quản lý đối với ngân sách phường, xã trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh như hiện nay; thực hiện các văn bản hướng dẫn của Tỉnh của Sở Tài chính;
Chương trình hành động của thành phố trong việc thực hiện mục tiêu Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra; khung chương trình công
tác của Phòng Tài chính- Kế hoạch thành phố Hà Tĩnh, tôi đã chọn vấn đề: “Hoàn
thiện công tác quản lý chi ngân sách cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh
Hà Tĩnh”, làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
1
- Chương 2: Phân tích công tác quản lý chi ngân sách cấp xã trên địa bàn thành
phố Hà Tĩnh.
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi
ngân sách cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh.
3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CẤP
XÃ ( NGÂN SÁCH PHƯỜNG, XÃ)
1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự
hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của nền
kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất do Nhà nước trực tiếp
quản lý. Nói cách khác, sự ra đời và phát triển của Nhà nước cùng với sự tồn tại
của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát
triển của NSNN.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước”,
F.Ăngghen đã chỉ ra rằng: Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp.
Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan công quyền để duy trì và phát triển xã hội.
Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt buộc mọi tổ chức
và thành viên trong xã hội phải đóng góp để lập ra quỹ tiền tệ riêng có của Nhà nước
(quỹ NSNN) để chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát... khi các quốc gia
đã phát triển nhưng không có sự đồng đều về sức mạnh, những tham vọng về lãnh thổ
và chủ quyền đã dẫn đến việc chuẩn bị và thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược, các
khoản chi tiêu giành cho bộ máy thống trị và quân đội đòi hỏi ngày một lớn. Các khoản
thu thuế không đảm bảo được nhu cầu chi tiêu, buộc Nhà nước phải vay nợ bằng cách
quốc gia.
- Các quan hệ tài chính thuộc NSNN gồm những đặc điểm:
Các hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực về kinh tế,
chính trị của Nhà nước, nó được thể hiện bằng thể chế, bằng luật định và những
công cụ hành chính.
NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi
ích công cộng. Toàn bộ các hoạt động thu, chi của NSNN chứa đựng bao hàm các
nội dung về kinh tế, xã hội và chứa đựng tổng thể các mặt lợi ích của các đối tượng
liên quan. Các mối quan hệ lợi ích đó luôn được hài hoà và đảm bảo công bằng giữa
các đối tượng. Nhưng vấn đề lợi ích của quốc gia, lợi ích của tập thể vẫn phải được
đặt lên hàng đầu, nó thực hiện việc chi phối tất cả các mặt lợi ích khác.
NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét riêng của
5
NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có
tác dụng riêng và được dùng cho những mục đích đã định trước.
Hoạt động thu, chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp là chủ yếu.
1.1.3 Chức năng của ngân sách Nhà nước
NSNN có một vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an
ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Chức năng, vai trò của NSNN luôn gắn
liền với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và nó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, từng
giai đoạn khác nhau mà có những biểu hiện khác nhau và luôn thể hiện ba chức
năng chính:
- Chức năng phân phối: Đây là công cụ chủ yếu phân bổ trực tiếp hoặc gián
tiếp các nguồn tài chính của quốc gia; cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn
tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo an
ninh quốc gia, giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo phát triển đời sống kinh tế xã hội của đất nước.
phù hợp với địa giới hành chính các cấp. Gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, NSX
NS ĐẢNG CSVN, CTN,
QH, CP, T.ÁN, VKSND
TỐI CAO
NS TỈNH, THÀNH PHỐ
THUỘC TRUNG ƯƠNG
NS BỘ, CƠ QUAN
NGANG BỘ
NS QUẬN, HUYỆN, TP
TRỰC THUỘC TỈNH,
THÀNH PHỐ
NS CƠ QUAN TRỰC
THUỘC CÁC BỘ NGÀNH
NS XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN
Hình 1.1: Sơ đồ mô hình tổ chức NSNN Việt Nam
7
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
thiết cho việc lập dự toán kỳ kế hoạch.
8
b) Chấp hành ngân sách nhà nước
Chấp hành NSNN là việc thực hiện dự toán NSNN đã được phê chuẩn. Đây
là quá trình tổ chức thực hiện thu NSNN và bố trí cấp phát kinh phí của NSNN cho
các nhu cầu đã được phê chuẩn. Sau khi dự toán NSNN được phê duyệt, năm
NSNN bắt đầu thì dự toán NSNN bắt đầu được thực hiện. Việc thực hiện dự toán
chính là việc tổ chức thực hiện thu ngân sách và chi ngân sách cho các nhu cầu đã
được duyệt trong dự toán.
c) Quyết toán ngân sách
Quyết toán NSNN là giai đoạn tổng kết đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động
NSNN sau một năm ngân sách, đây là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý
NSNN. Thông qua quyết toán NSNN sẽ cho thấy được toàn bộ kết quả toàn diện về
hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động ngân sách với tư cách là công
cụ vĩ mô của nhà nước trong thời gian qua. Do đó quyết toán NSNN cần phải được
đảm bảo chính xác, trung thực và kịp thời.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện chu trình của NSNN đó là tiến hành việc
phân tích, kiểm tra, kiểm toán NSNN. Đây là công tác thường được thực hiện trong
quá trình thực hiện và sau khi một chu kỳ NSNN kết thúc. Nó được tiến hành nhằm
đánh giá việc thực hiện dự toán, chấp hành dự toán, kế toán, quyết toán NSNN
trong một chu kỳ hoặc một năm tài chính. Thông qua việc kiểm tra, kiểm toán thấy
được những mặt tích cực, những mặt còn hạn chế, những vướng mắc trong quá trình
thực hiện và từ đó có các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời theo quy định.
1.1.5.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
NSNN là một thể thống nhất gồm nhiều cấp ngân sách; mỗi cấp ngân sách
vừa phải tuân thủ các chế độ chính sách theo luật định, vừa phải có tính độc lập, tự
chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn của các cấp chính quyền trong quá trình
Vị trí độc lập của NSĐP được thể hiện: các cấp chính quyền có quyền lập,
chấp hành và quyết toán ngân sách của mình trên cơ sở chính sách, chế độ Nhà
nước đã ban hành. Mặt khác, các cấp chính quyền phải chủ động, sáng tạo trong
việc động viên, khai thác các thế mạnh của địa phương để tăng nguồn thu, đảm bảo
chi, thực hiện cân đối ngân sách của cấp mình.
- Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách.
Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền, việc
giao nhiệm vụ thu-chi cho địa phương phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả
10
nước, nhưng phải cố gắng hạn chế sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá, xã hội do hậu
quả của phân cấp bất hợp lý trước đây giữa các vùng lãnh thổ và giữa các địa
phương mang lại.
1.2 Quản lý ngân sách nhà nước cấp xã
1.2.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước cấp xã
1.2.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước cấp xã (NSX)
Theo Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 2013 quy định
các đơn vị hành chính nước ta được phân định: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương. Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; thành phố trực
thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã. Huyện chia thành xã, thị trấn;
thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Mỗi đơn vị hành chính có một cơ quan quyền lực từ trung ương đến địa
phương (Quốc hội, HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp huyện, HĐND cấp xã) và một cơ
quan hành chính tương ứng (Chính Phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện,
UBND cấp xã).
Ở nước ta, từ khi cấp xã, phường, thị trấn được công nhận là một cấp chính
quyền trong hệ thống chính quyền từ trung ương đến cấp cơ sở của Nhà nước pháp
quyền thì NSX cũng được xác nhận là một cấp của hệ thống NSNN, là một bộ phận
của chính quyền cấp xã . Ngân sách xã được Nhà nước ta quy định bằng các văn
phường, xã. Mối quan hệ này thường thông qua các chương trình quốc gia, các
chương trình mục tiêu, chương trình dự án,…từ cấp trên, từ các tổ chức.
Tóm lại Ngân sách xã vừa là kế hoạch tài chính, vừa là quỹ tiền tệ của xã
được hình thành từ các nguồn thu và các khoản chi phân giao của phường, xã. Nó
phản ánh những mối quan hệ kinh tế giữa một bên là chính quyền phường, xã với
một bên là các chủ thể thông qua sự vận động của các nguồn tài chính nhằm đảm
bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền phường, xã trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị, an ninh trật tự và văn hoá, xã hội.
1.2.1.2 Vai trò của ngân sách xã
NSX là một cấp ngân sách, là một bộ phận cấu thành của ngân sách nhà
nước, chính vì vậy mà NSX thể hiện đầy đủ vai trò của NSNN; NSX cũng là một bộ
phận của bộ máy chính quyền cấp xã, vì vậy nó còn có những vai trò riêng.
Những đặc thù và vai trò riêng biệt được thể hiện:
12
- NSX cung cấp các phương tiện vật chất, tiền tài vật lực cho sự tồn tại và
hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã . Để đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động
của bộ máy chính quyền cấp xã thì chỉ có nguồn tài chính từ NSNN. Như vậy mọi
chi phí cho bộ máy cấp xã phải do NSX đảm đương.
- NSX là một công cụ tài chính quan trọng để chính quyền cấp xã quản lý
một cách toàn diện mọi hoạt động kinh tế, xã hội trên địa bàn xã trong lĩnh vực
được phân cấp, được thể hiện thông qua:
+ Hoạt động thu ngân sách: từ thu ngân sách đã tạo lập ra quỹ NSX, từ đó có
điều kiện để hoạt động và có thể còn có đầu tư cho mục đích phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương. Qua hoạt động thu còn giúp chính quyền phường, xã thực hiện
việc kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh đi theo
đúng hướng, đúng khuôn khổ của pháp luật. Thu ngân sách còn góp phần thực hiện
các chính sách về công bằng xã hội,…Việc thực hiện chế độ thu phạt vi phạm đối
thu theo quy định vào ngân sách; thực hiện thu đúng, thu đủ, thu các khoản thu phát
sinh kịp thời vào ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Các khoản chi phải chi đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng định
mức tiêu chuẩn quy định, đảm bảo tiết kiệm, công khai, minh bạch, đúng nguyên
tắc, phải được kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ.
Thứ ba: Các hoạt động, nghiệp vụ phát sinh phải được hạch toán, ghi chép
theo đúng chế độ kế toán quy định và đảm bảo cân đối NS.
Từ đó đưa hệ thống tài chính NSX ổn định, vững chắc, đảm bảo thực hiện
được các chức năng nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước cấp xã.
1.2.2.3 Bộ máy quản lý ngân sách xã
NSX được quản lý bởi HĐNN và UBNN xã mà đại diện trực tiếp là ban tài
chính xã, có thể khái quát sơ đồ bộ máy quản lý kế toán và tài chính xã thể hiện trên sơ
đồ 1.2
14
HĐNN&UBND
xã
Ban Tài chính
Trưởng ban
Kế toán
Thủ quỹ
Hình 1.2: Sơ đồ Tổ chức bộ máy quản lý Tài chính - kế toán ngân sách xã
( Nguồn: Thông tư 59/2003/TT-BTC)
đăng ký chữ ký tại KBNN.
Căn cứ vào dự toán NSX và phương án phân bổ NSX cả năm đã được
HĐND xã quyết định, UBND xã phân bổ chi tiết dự toán chi NSX theo mục lục
NSNN gửi KBNN nơi giao dịch để làm căn cứ thanh toán. Công tác chấp hành dự
toán gồm các bước sau:
- Lập dự toán thu, chi ngân sách xã theo quý, theo tháng;
- Tổ chức thực hiện thu ngân sách xã;
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách xã;
- Điều chỉnh, bổ sung dự toán (nếu có). Trong quá trình chấp hành ngân sách,
có thể có những trường hợp phải điều chỉnh hoặc bổ sung dự toán cho phù hợp với
những yêu cầu đặt ra:
Điều chỉnh kế hoạch khi: Tình hình kinh tế - xã hội có sự thay đổi hoặc do
Nhà nước có những thay đổi về cơ chế chính sách, khi có những biến động lớn xảy
ra, có sự thay đổi nhu cầu chi tiêu.
Bổ sung dự toán ngân sách khi có các nguồn thu phát sinh, các nhiệm vụ chi
cấp thiết cần giải quyết, khắc phục,… trên cơ sở có nguồn thu phát sinh.
c) Kế toán ngân sách xã và quyết toán ngân sách xã
- Ghi chép về ngân sách xã
- Công tác khóa sổ và quyết toán ngân sách xã hàng năm
- Lập báo cáo quyết toán ngân sách xã hàng năm
16
- Thời hạn chỉnh lý quyết toán ngân sách xã
Theo quy định, thời gian chỉnh lý quyết toán NSX được thực hiện đến hết
31/01 của năm sau.
d) Kiểm tra, phân tích và đánh giá việc chấp hành ngân sách xã
- Kiểm tra ngân sách xã
Kiểm tra tiến hành ở tất cả các khâu trong quy trình quản lý ngân sách xã.