ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------
TRẦN THỊ THẢO
“THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
TẠI XÃ AN THƢỢNG - HUYỆN YÊN THẾ - TỈNH BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Nông lâm kết hợp
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
: 2011-2015
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Giảng viên hƣớng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Thái Nguyên, 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn
trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Thái nguyên, ngày... tháng 05 năm 2015
Xác nhận của GVHD
Ngƣời viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước hội
đồng khoa học.
(Ký, ghi rõ họ và tên)
(Ký, ghi rõ họ và tên)
ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Trần Thị Thảo
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên phản biện xác nhận sinh viên đã chỉnh sửa sai sót sau khi hội đồng chấm
yêu cầu.
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1
Bảng 4.1. Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại
xã An Thượng - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
34
2
3
Bảng 4.2. Thực trạng mối xuất hiện trong các công trình xây
dựng tại xã An Thượng – huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.3. Một số loại gỗ được sử dụng trong công trình xây dựng
tại xã An Thượng – huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang
36
STT
Tên hình
Trang
1
Hình 2.1. Quần thể mối
5
2
Hình 2.2. Mối chúa
7
3
Hình 2.3. Mối cánh
7
4
Hình 2.4. Mối lính
8
10
11
12
Hình 4.5. Mối hại cấu kiện gỗ tại trường tiểu học cơ sở An
Thượng
Hình 4.6. Mối hại toàn bộ gỗ trên nóc nhà
Hình 4.7. Mối hại gỗ tại xã An Thượng – huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
44
44
45
13
Hình 4.8. Diệt tổ mối
51
14
Hình 4.9. Đào hào phòng mối
52
15
Hình 4.10. Phòng mối nền
53
N
Nặng
4
Tb
Trung bình
5
C
Có
6
K
Không
7
UBND
ủy ban nhân dân
8
2.2. Mối hại trên thế giới và Việt Nam ........................................................... 14
2.3. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ........................................................ 16
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới ................................. 16
2.3.2. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ tại Việt Nam ............................... 18
2.4.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 19
2.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 20
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 21
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 21
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 21
vii
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 21
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu ............................................................... 21
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 22
3.4.3. Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu ................................ 23
3.4.4. Phương pháp đánh giá mức độ mối hại công trình ............................... 25
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 26
4.1. Lịch sử phòng trừ mối hại tại xã An Thượng - huyện Yên Thế - tỉnh
Bắc Giang ............................................................................................. 26
4.2. Thực trạng mối hại gỗ tại các công trình xây dựng tại xã An Thượng huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang .................................................................... 28
4.2.1. Thực trạng mối xuất hiện trong các công trình xây dựng tại địa
phương ............................................................................................ 28
4.2.2. Gỗ sử dụng trong các công trình xây dựng tại địa phương ................... 31
4.2.3. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây
dựng tại xã An Thượng - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang ........................... 32
4.3. Kinh nghiệm trong phòng trừ mối của địa phương.................................. 37
4.4. Giải pháp khắc phục và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại địa phương . 40
của công trình cũng bị xuống cấp do việc làm tổ và đi tìm thức ăn của mối. Tác hại
mà nó gây ra cho các đối tượng chủ yếu là phá hủy các cấu kiện làm bằng gỗ trong
các công trình đặc biệt là nội thất, phá hủy hệ thống điện ngầm cùng các thiết bị
điện tử, gây lún sụt nghiêm trọng cho nền móng các công trình, tiêu hủy các tiều
liệu, sách vở, carton, các vật liệu có nguồn gốc từ xenlulo.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm nên có điều kiện khí hậu phù hợp
cho sự sinh trưởng và phát triển của loài mối. Mối là loại côn trùng hại gỗ rất mạnh. Hiện
ở Việt Nam đã có tới 90 loại mối khác nhau. Khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho các loài
thực vật phát triển mạnh mà thực vật lại là nguồn thức ăn chính của mối. Hiện nay phần
lớn nhà ở đều sử dụng các loại gỗ thông thường nên chỉ sau vài năm xây dựng đã bị
mối hại, gây nhiều tổn thất cho người dân ở Việt Nam.
2
Bắc Giang là một tỉnh vùng núi phía bắc, địa hình chủ yếu là đồi núi, khí hậu
nhiệt đới ẩm là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thực
vật là nguồn thức ăn chính của mối. Qua điều tra sơ bộ tại xã An Thượng, huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cho thấy tình trạng mối phát triển và gây hại đang diễn ra
rất phức tạp và được nhiều người quan tâm. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, công cuộc xây dựng nông thôn mới đang dần hoàn thiện, các công
trình xây dựng công nghiệp, các công trình thể thao, nhà cửa được xây dựng ngày
càng nhiều, dự án phát triển cây công nghiệp có giá trị kinh tế đang được xúc tiến
mạnh mẽ. Vì vậy việc phòng trừ mối hại là rất cần thiết và mang tính thực tế cao.
Để có những dẫn liệu cụ thể và giải pháp phòng trừ mối phù hợp, việc nghiên
cứu về mối hại gỗ tại Bắc Giang chưa nhiều và chưa cụ thể. Xuất phát từ thực tế đó
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại xã An Thượng huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang”
1.2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại xã An
Mối là loài côn trùng gây hại nguy hiểm, thường có màu trắng, đen hoặc nâu và rất nhỏ
bé. Chúng có thể gây ra những tổn hại nặng nề cho các gia đình và các sản phẩm làm từ
gỗ. Theo trường Đại học Texas A&M, mối gây ra 2 tỷ USD thiệt hại về tài sản mỗi
năm. Khi mối xuất hiện trong nhà thì chúng sẽ tấn công đồ nội thất bằng gỗ, khung cửa
sổ, khung cửa ra vào và cả những món đồ trang trí khác. Là loài côn trùng gây hại lớn
nhất cho các công trình đê đập, cây trồng và đặc biệt là các công trình xây dựng.
Hình 2.1. Quần thể mối
Ở Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa và các điều kiện khác thích hợp cho
các loài mối hoạt động quanh năm. Chúng sinh trưởng và phát triển rất nhanh, gây tổn
hại lớn cho các công trình xây dựng. Phá hoại mạnh nhất công trình xây dựng là các
loại thuộc họ Coptotermes. Chúng tiết ra dịch axit để phân hủy hủy gỗ và cenllulose.
Ngoài ra chúng có khả năng đục thủng được các vật liệu khác như: dây điện, xốp, vật
liệu cách điện, cách nhiệt... gần đây một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại
lại như là một họ duy nhất, gọi là Termitidae, trong phạm vi bộ Blattodea, một bộ chứa
các loài gián. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít quyết liệt
hơn và coi mối vẫn là nhóm có tên gọi khoa học Isoptera, nhưng chỉ là một nhóm
5
dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các loài mối ( LoN
Al, 2007)15.
Các chủng loại mối thường hoạt động xung quanh các công trình
+ Coptortermes formosanus Shir: thuộc chủng loại mối nhà. Đây là loài
có sức sinh sản nhanh, mối chúa có thể sống từ 8 - 10 năm và đẻ
được từ 2.000 - 3.000 trứng trong một ngày đêm. Đây là loại phá hoại
mạnh nhất các công trình kiến trúc. Mối thợ và mối lính tiết ra dịch
axit làm mềm vữa tường, nên chúng có thể di chuyển ngầm đến các
Tất cả các loài mối khác khi kiến trúc tổ đều có nhu cầu đất hoặc nước ở
ngoài tổ, phần lớn các loài có cấu trúc một hệ thống tổ gồm một tổ chính và nhiều tổ
phụ để dung nạp được số lượng cá thể lớn, tổ chính có mối vua và mối chúa, có
nhiều loài tổ ở sâu trong lòng đất đến 1-2m. Đối với đê đập, độ rỗng của tổ mối có
ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình nên cần thiết phải phát hiện tổ để xử lý,
các đối tượng khác, độ rỗng của tổ ít ảnh hưởng.
2.1.2. Thức ăn của mối
Nguồn thức ăn của mối chủ yếu là các sản phẩm thực vật, trong đó thành phần
quan trọng nhất là chất xơ (xenlulo), vì vậy đối tượng bị mối gây hại rất đa dạng.
Thức ăn của mối bao gồm:
- Thực vật sống: Nhiều loại mối lấy thức ăn từ cây sống, đặc biệt là vào màu
khô hạn, cây sống còn cung cấp nước cho chúng, nhất là các cây còn non như bạch
đàn, chè sắn, mía và các cây trồng khác.
- Thực vật khô: Ruột của loài mối nhà tiêu hoá được chất xơ nên ngoài gỗ,
tre nứa tất cả các sản phẩm được chế biến từ thật vật như giấy, vải … đều bị chúng
phá hoại. Trên đường đến nguồn thức ăn, mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu
khác như xốp cách âm, cao su, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm nhiều thiết bị
máy móc bị hư hỏng theo. Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ trở
trạng thái khác nhau.
Mối có khả năng phát hiện nguồn thức ăn từ xa. Mối còn khả năng lựa chọn
thức ăn, quan sát những khu vực bị mối thấy mối đã bỏ qua nhiều thanh gỗ không
ngon, trên cùng một thanh gỗ loài mối nhà thường tập chung ăn lớp gỗ sớm để lại
lớp gỗ muộn. Các loài mối khác nhau thường đục các loại gỗ ở trạng thái khác
7
nhau. Loài mối nhà thích ăn gỗ còn tốt, các loài mối đất thích ăn các loại gỗ đã bị
nấm mốc xâm nhập, hơi mục…
2.1.3. Hình thái và chức năng của mối
như chim, cóc…, chúng bay ra khỏi tổ và hướng tới những nơi có ánh sáng đèn. Sau
10 - 15 phút bay, thì rụng cánh, một con đực tìm một con cái, cắn đuôi, con cái sẽ
dẫn đi tìm nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch và tìm được các vết nứt do lún
hoặc một điểm thích hợp chúng sẽ tạo ra một tổ mới.
Như vậy phải loại bỏ được những điểm mà mối cánh có thể chui xuống làm
tổ thì mới có thể phòng được mối lâu dài.
Mối lính
Hình 2.4. Mối lính
9
Mối lính có bộ phận đầu và hai hàm răng phát triển. Đầu có màu nâu hồng,
có hạch độc, mỗi khi chiến đấu tiết ra chất sữa mầu trắng có tính axít. Chức năng
của mối lính là canh phòng, báo động, trinh sát hộ vệ mối lao động đi kiếm ăn.
Khi gặp những tiếng động bất thường như có tiếng động mạnh, sự thay đổi
cường độ ánh sáng, mùi lạ hoặc đường mui bị phá vỡ mối lính xông ra nơi có sự cố
đồng thời báo động cho quần thể. Một con báo động, những con khác truyền tiếp,
tạo ra những tiếng rào rào, tai ta có thể nghe được. Đặc điểm này được lợi dụng để
phát hiện mối đang hoạt động.
Mối thợ
Hình 2.5. Mối thợ
Mối thợ hay còn gọi là mối lao động cũng từ mối non trải qua 5 đến 7 lần lột
xác mà thành. Mối thợ có màu trắng sữa đồng đều từ đầu đến bụng. Chúng là thành
phần quan trọng trong tổ, chiếm tới trên 80% tổng số cá thể, đảm nhiệm hầu hết các
công việc của tổ như: kiếm thức ăn, xây dựng tổ nuôi mối chúa, mối non, mối lính
bằng thức ăn đã được chế biến qua đường ruột. Mối thợ cũng tham gia chiến đấu,
khi mối ở tổ khác xâm lấn hoặc tổ bị tấn công. Do các đặc điểm trên, đặc biệt là đặc
Hiện tượng mối vũ hóa và bay ra khi nhiệt độ môi trường từ 20 - 26°C, độ
ẩm không khí 85 - 92%. Từ 17 - 19h vào lúc trời tối và thường sắp có giông gió.
Đây là thời điểm mà lượng mối cánh hướng theo ánh đèn thâm nhập vào công trình
nhà cửa để làm tổ. Các công trình xây dựng kéo dài nhiều năm mối dễ xâm nhập.
Nếu không áp dụng các kĩ thuật phòng mối hợp lý nhiều công trình chỉ mới hoàn
thành đã có mối xuất hiện.
Vào đầu tháng 5 tháng 6 hàng năm, mối cánh dài từ trong tổ bay ra ngoài,
hiện tượng này gọi là phân đàn, bay giao hoan, bay không lâu thì rụng cánh và bò,
mối đực tìm mối cái giao phối, gặp hoàn cảnh thích hợp thì chui vào tổ sinh nở. Mối
đực là mối chúa, chuyên giao phối, mối cái là mối hậu, chuyên đẻ trứng; chúng là
11
cơ sở sinh sôi đàn cho tổ mới. Sau khi làm tổ 10 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, một
tháng sau ấu trùng ra đời, sau 2 tháng qua mấy lần lột xác lớn lên thành mối thợ và
mối lính. Sau hai năm thì mối có thể đi phá hoại và sau bốn năm tổ mối có khả năng
phá hoại mạnh.
2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
Xâm nhập trực tiếp từ khu vực nền móng công trình
Theo chân tường, theo các cột bê tông, theo các đường dẫn nước, điện, ga
ngầm... từ các khu vực bên ngoài lân cận công trình. Đây là cách xâm nhập chính và
phổ biến nhất. Từ các vị trí này mối mới tỏa ra khắp công trình để tiềm kiếm nguồn
thức ăn.
Xâm nhập vào bằng đường không
Hàng năm vào khoảng tháng 4,5,6,7 khi điều kiện thuận lời nhất, sau mưa
giông và vào lúc hoàng hôn mối cánh bắt đầu phân đàn, sau khi bay ra khỏi tổ
khoảng 10 - 20 phút thì rụng cách, một con đực và một con cái kết đôi với nhau và
tìm nơi trú ẩn như: hóc kẽ, khung cửa, các khu vực ẩm thấp trong công trình...để
xây dựng tổ mới.
sống ở những nơi ẩm ướt, độ ẩm thích hợp cho mối hoạt động là từ 80 -90%. Nếu
độ ẩm quá cao hay quá thấp mối sẽ chết (Phạm Bình Quyền,2006)3. Ngoài ra độ
ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối vì độ ẩm ảnh hưởng đến
sự phát triển và phân bố của thực vật là nguồn thức ăn chính của mối.
Nhiệt độ: Tổ mối có kiến trúc đặc biệt, kín đáo và ở một mức độ nhất định
quần thể mối hoạt động và có khả năng điều hoà nhiệt độ làm cho nhiệt độ trong tổ
ít thay đổi, mặc dù nhiệt độ bên ngoài tăng hay giảm. Khi nhiệt độ môi trường bên
ngoài giảm dần, trời trở lên lạnh mối ít đi xa kiếm ăn, tập trung về tổ chính, các cá
thể trong tổ mối hoạt động mạnh tăng cường hấp thụ Oxy và thoát hơi nước để điều
hoà nhiệt độ. Về mùa hè mối phân tán đi kiếm ăn xa, đào thêm hang mới, đến
những nơi ấm áp, ẩm thấp, ít tập trung ở tổ chính, nên mùa hè nhiệt độ môi trường
bên ngoài tăng nhưng nhiệt độ trong tổ không tăng.
13
Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài mối hoạt động là từ 20 - 30C. Khi nhiệt độ
môi trường quá cao (>35C) hoặc quá thấp (
loại thuốc có hiệu lực diệt mối nồng độ thích hợp và đủ liều lượng thì sẽ đem lại
hiệu quả cao, nếu làm ngược lại sẽ có hiệu quả thấp.
2.2. Mối hại trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay trên thế giới biết khoảng 2500 loài mối, ở Việt Nam biết khoảng 60
loài. Đã thống kê được 25 loài mối chuyên phá hoại các công trình xây dựng, 30
loài hại đê đập và hàng chục loại hại cây trồng.
Mối gây ra thiệt hại trên thế giới cũng như ở Việt Nam là rất lớn. Ở Trung
Quốc nhất là vùng Hoa Nam có đến 80% số nhà cửa, kho tàng, nhà lâu năm bị mối
phá hại (Thái Băng Hoa, 1964). Để khắc phục hậu quả do mối gây ra mỗi công trình
phải cần chi phí từ vài ba triệu đồng để sửa chữa, đặc biệt là vật tư quý hiếm, các
thư tịch cổ, các hiện vật bảo tàng có giá trị.
Mối có thể gây thiệt hại lớn nếu không bị phát hiện. Hơn 2 triệu gia đình yêu
cầu các phương pháp diệt mối mỗi năm. Hơn 600.000 gia đình Mỹ bị thiệt hại tổng
cộng 2,5 tỷ USD mỗi năm, lớn hơn là thiệt hại gây ra bởi các vụ cháy, bão và động đất.
Mối là nhóm côn trùng ưa nhiệt, chúng chỉ có ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt
đới. Việt Nam nằm hoàn toàn trong vùng phân bố của mối do đó suốt từ Bắc vào
Nam vùng nào cũng có mối, từ nông thôn đến thành thị. Ở các vùng núi mối có thể
có mặt trên những đỉnh núi cao trên 1.700m. Ở Việt Nam giống mối nhà
15
(Coptotermes) phá hại nặng nhất các công trình kiến trúc và kho tàng. Chúng có khả
năng phát triển nhanh, đặc tính phá hại lớn, tồn tại phổ biến và chúng có đặc tính di
truyền rộng trong khu vực tổ từ phòng này sang phòng khác, từ tầng này sang tầng
khác. Do đó, chúng là loại mối rất nguy hiểm cho các trang thiết bị và công trình
xây dựng.
Các công trình xây dựng hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới đang có nguy
cơ tiềm ẩn về sự phá hoại của các loại mối. Sự phá hoại của mối thường tập trung
chủ yếu là các công trình xây dựng, các loại vật liệu có nguồn gốc từ gỗ được sử
năm 1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống termes.
Hormgreen (1911, 1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng
cho phân loại học về mối. Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Light, 1921 ;
Grasse, 1949 đã hiệu đính và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định (Nguyễn Đức
Khảm, 1976)[6], (Lê Văn Nông và cs)5.
Snyder, 1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông đã
lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ. Ông có đưa ra những mô tả sơ bộ về
hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên (Nguyễn
Tần Vương, 1997)[7],(Nguyễn Hoành Hành, 2003)11. Trong các công trình
nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập nhiều khóa định các taxon trong
bộ cánh đều, như khóa định loại của Ahmad ( 1955 ) khi nghiên cứu mối ở Thái
Lan, của Roonwal ( 1962 ) khi nghiên cứu mối ở Ấn Độ…các khóa định loại của
các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi,
râu và các tấm lưng ngực mối lính lớn của loài Microtermes pakistanicus…nhưng
các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố và phân hóa các đẳng cấp của loài
lúc đó chưa có tác giả nào đề cập (Kumar Krishna và cs,1970) 14].
Đến năm 1965, Ahmad bổ xung thêm vào khóa định loại năm 1955 của mình
các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M.paskistanicus góp phần rất lớn trong
việc phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này.
Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và nhưng đề xuất cải tiến về
thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.