TCNCYH 21 (1) - 2003
ảnh hởng của can thiệp truyền thông giáo dục
sức khỏe đến Kiến thức, thái độ, thực hành của dân
về vệ sinh môi trờng/3 công trình vệ sinh
tại x Tân trào huyện thanh miện tỉnh hải dơng
Nguyễn Văn Hiến
1
, Ngô Toàn Định
2
,
Nguyễn Duy Luật
11
Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Hà Nội,
2
Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Y tế
Để đánh giá kết quả bớc đầu đạt đợc của mô hình can thiệp Truyền thông-Giáo dục sức khỏe
mà nội dung giáo dục sức khoẻ u tiên là vệ sinh môi trờng/3 công trình vệ sinh (VSMT/3CTVS)
nhằm xây dựng Làng Văn hoá-Sức khỏe tại xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dơng,
chúng tôi đã tiến hành điều tra so sánh kiến thức, thái độ, thực hành của dân về VSMT/3CTVS
trớc và sau khi can thiệp. Từ nghiên cứu này chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Mô hình TT-GDSK xây dựng Làng Văn hoá-Sức khỏe sau thời gian can thiệp 11 tháng đã làm
thay đổi cả kiến thức, thái độ và thực hành của dân về VSMT/3CTVS.
- Những hiểu biết của dân về vấn đề VSMT/3CTVS tăng lên rõ rệt, đáng chú ý là tỷ lệ dân biết
các bệnh lây truyền chủ yếu do VSMT/3CTVS không đảm bảo đã tăng lên có ý nghĩa thống kê.
- Thái độ nhìn nhận vấn đề vệ VSMT/3CTVS của dân cũng thay đổi, tỷ lệ dân quan tâm nhiều
trung u tiên vào vấn đề VSMT/3CTVS nhằm
xây dựng Làng Văn hoá-Sức khỏe. Để bớc
đầu đánh giá kết quả đạt đợc của hoạt động
TT-GDSK tại xã Tân Trào, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu này với mục tiêu là:
64
TCNCYH 21 (1) - 2003
Tìm hiểu những thay đổi về kiến thức, thái
độ, thực hành của dân xã Tân Trào về
VSMT/3CTVS trớc và sau hoạt động can thiệp
TT-GDSK.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
Các hộ gia đình chọn từ 6 thôn của xã Tân
Trào đợc điều tra trớc và sau can thiệp TT-
GDSK. Hộ gia đình chọn cho điều tra theo
phơng pháp ngẫu nhiên đơn, ngời đợc chọn
phỏng vấn trực tiếp là chủ hộ gia đình hay
ngời đại diện cho hộ gia đình.
2. Phơng pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang cho điều tra
trớc và sau can thiệp, sử dụng tests so sánh sự
khác biệt hai tỷ lệ trớc và sau can thiệp.
- Cỡ mẫu đợc tính toán theo công thức:
pq
n = Z
(1-
có một số hộ vắng nhà nên một số hộ khác
đợc điều tra thay thế, số hộ đợc điều tra sau
can thiệp có nhiều hơn so với số hộ điều tra
trớc can thiệp.
2.3. Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu:
- Sử dụng bộ câu hỏi đã đợc phát triển để
thu thập thông tin qua phỏng vấn đại diện hộ
gia đình và quan sát trực tiếp. Bộ câu hỏi bao
gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở nhằm thu thập
đầy đủ các thông tin mong muốn. Bộ câu hỏi
sử dụng cho điều tra trớc và sau can thiệp là
giống nhau.
- Số liệu đợc xử lý trên máy tính bằng
chơng trình EPI INFO 6.04.
III. Kết quả
1. Một số thông tin chung về đối tợng
đợc điều tra
1.1 Số hộ đợc điều tra trớc và sau can
thiệp:
- Số hộ điều tra trớc can thiệp: 386
- Số hộ điều tra sau can thiệp: 415
1.2. Tuổi của ngời đợc điều tra
- Trớc can thiệp: Trung bình: 42,8 12,8
- Sau can thiệp: Trung bình 43,7 13,44.
1.3. Giới của ngời đợc điều tra
- Trớc can thiệp: Tỷ lệ nam 43,5% và nữ
56,5%
- Sau can thiệp: Tỷ lệ nam là 45,6 % và nữ
54,4%.
1.4. Trình độ văn hoá của ngời đợc điều
theo ý kiến dân
n % n %
p
1. Hai ngăn 332 86 377 90,8 <0,05
2. Một ngăn/cầu 29 7,5 4 1,0 <0,0001
3. Thấm dội nớc 47 12,8 192 46,3 <0,0001
4. Tự hoại 233 60,4 379 95,6 <0,0001
5. Bán tự hoại 25 6,5 133 32,5 <0,0001
Nhận xét: hiểu biết của dân về các loại hố xí hợp vệ sinh tăng lên sau hoạt động TT-GDSK, đáng
chú ý là số ngời cho hố xí một ngăn/hố xí cầu là hợp vệ sinh giảm xuống có ý nghĩa thống kê.
Bảng 2: Bệnh lây truyền do VSMT/3CTVS không đảm bảo theo ý kiến dân
Trớc can thiệp (n=386) Sau can thiệp (n=415) Tên bệnh
n % n %
p
1. Tiêu chảy 250 64,8 329 79,3 <0,0001
2. Thơng hàn 13 3,4 109 26,3 <0,0001
3. Lỵ 34 8,8 125 30,1 <0,0001
4. Tả 22 5,7 78 18,8 <0,0001
5. Ngộ độc thức ăn 6 1,6 97 23,4 <0,0001
6. Đau mắt hột 74 19,2 178 42,9 <0,0001
7. Giun sán 201 52,1 365 87,9 <0,0001
8. Ghẻ lở 12 3,1 49 11,8 <0,0001
9. Đau bụng 5 1,3 46 11,1 <0,0001
10. Khác 61 15,8 85 20,5 >0,05
Nhận xét: sau can thiệp nhiều bệnh đờng ruột và bệnh mắt hột lây truyền do VSMT/3CTVS
cha đảm bảo đã đợc dân biết đến nhiều hơn, những thay đổi hiểu biết về các bệnh lây truyền này
trớc và sau can thiệp TT-GDSK là có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ dân biết bệnh giun sán lây truyền do
VSMT/3CTVS không đảm bảo tăng lên nhiều nhất, tiếp đến là đau mắt hột, thơng hàn, ngộ độc
thức ăn và bệnh lỵ.
đồ 1. Tình trạng vệ sinh hố xí
17.1
82.4
0.5
59.5
40
0.5
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
80.0
90.0
Trớc can thiệp Sau can thiệp
Hợp vệ sinh
Không hợp vệ sinh
Không có hố xí
Biểu
67
TCNCYH 21 (1) - 2003
Nhận xét: Sau can thiệp tỷ lệ lên, tỷ lệ gia đình có hố xí
kh
có ý nghĩa
thống kê, nhng tỷ lệ gia đì ).
Biểu đồ 3. Vệ sinh nguồn nớc ăn uống của các gia đình
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
Trớc can thiệp Sau can thiệp
Hợp vệ sinh
Không hợp vệ sinh
can thiệp (P,001).
Biểu đồ 4. Vệ sinh nhà tắm của các gia đình
Trớc can thiệp Sau can thiệp
Tốt
Trung bình
Cha đạt
Không có NT
20.3
30.4
13.7
28.7
32
26
13.3
0.0
5.0
10.0
15.0
20.0
nhiều, đáng chú ý nhất là tỷ lệ gia đình có vệ sinh nớc thải cha đạt giảm từ 44,3% xuống còn 8%
Bảng 5: Thực hành xử lý rác thải của các gia đình
Trớc can thiệp (n=386) Sau can thiệp (n=415) Phơng pháp
xử lý rác
n % n %
p
1. Gom bỏ vào chuồng lợn 238 61,7 230 55,6 >0,05
2. Gom lại đốt 179 46,4 187 44,8 >0,05
3. Vứt xuống ao, sông, ngòi 29 7.5 32 7,7 >0,05
4. Vứt ra vờn 19 4,9 10 2,4 >0,05
5. Bỏ vào hố ủ rác 21 5,5 49 11,8 <0,01
6. Khác 7 1,8 2 0,5 >0,05
Nhận xét: Nhìn chung cách xử lý rác của
các gia đình không có thay đổi nhiều trớc và
sau hoạt động can thiệp TT-GDSK, thay đổi
đáng chú ý nhất là tỷ lệ gia đình có hố ủ rác
tăng lên có ý nghĩa thống kê nhng vẫn thấp
chỉ 11,8% gia đình có hố ủ rác.
10.9
65
24.1
27.7
66.3
6
0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
tuần
74 19,2 95 23,8 >0,05
2. Hàng
tháng
60 15,5 172 43,1 <0,0001
3. Hàng
quý
28 7,3 53 13,3 <0,01
4. Thất
thờng
224 58,0 79 19,8 <0,0001
Tổng số 386 100 399 100
Nhận xét: Sau can thiệp tỷ lệ ngời tham gia
vệ sinh đờng làng, xóm thờng xuyên hơn
tăng lên, đặc biệt tỷ lệ ngời tham gia vệ sinh
đờng làng, xóm hàng tháng tăng lên nhiều
nhất, tỷ lệ ngời tham gia vệ sinh thất thờng
giảm đi gần 30%.
Bảng 7: Những thay đổi VSMT/3CTVS
sau can thiệp
Hộ gia đình có thay đổi (n=415)Công trình
vệ sinh
Hình thức
thay đổi
n %
Làm mới 37 8,9 1. Hố xí
Cải tạo 147 35,4
Làm mới 35 8,4 2. Nhà tắm
Cải tạo 24 5,8
Làm mới 38 9,2 3. Nguồn
nghiên cứu.
2. ảnh hởng TT-GDSK đến các thay đổi
kiến thức và thái độ về VSMT/3CTVS của
dân:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hởng của
VSMT/3CTVS không đảm bảo đến sức khoẻ
của cộng đồng [1], [6], [9]. Thực tế giải quyết
vấn đề VSMT/3CTVS không phải dễ dàng.
Giáo dục cho cộng đồng về VSMT/3CTVS đã
đợc thực hiện từ lâu nhng theo chúng tôi còn
thiếu các nghiên cứu đánh giá nghiêm túc,
thiếu kế hoạch và phơng pháp thực hiện đồng
bộ nên kết quả còn hạn chế, không thu hút
đợc sự quan tâm của cộng đồng. Kết quả điều
tra trớc hoạt động can thiệp TT-GDSK tại xã
Tân Trào cho thấy các kiến thức thông thờng
về VSMT/3CTVS nh loại hố xí nào là hố xí
hợp vệ sinh, bệnh nào có thể lây truyền do
VSMT/3CTVS không đảm bảo và bệnh nào có
thể lây truyền qua thức ăn bị nhiễm bẩn là cha
đầy đủ (bảng 1,2,3). Thiếu kiến thức thông
thờng về VSMT/3CTVS có thể là lý do làm
cho một tỷ lệ cao tới trên 60% dân quan tâm ít
và cha quan tâm đến vấn đề VSMT/3CTVS
dẫn đến họ không chú ý xây dựng các công
trình vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn. Theo chúng
tôi một trong các nguyên nhân làm cho các gia
đình có các công trình không hợp vệ sinh còn
cao vì họ cha hiểu biết đầy đủ thế nào là công
trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn, các công trình vệ
cảnh chung cha đạt. Theo chúng tôi để thay
đổi thực trạng này không phải dễ vì đã từ lâu
các hoạt động giáo dục sức khỏe nhằm cải
thiện tình trạng VSMT/3CTVS đã đợc thực
hiện. Mô hình can thiệp TT-GDSK tại xã Tân
Trào có đặc điểm nổi bật là vận dụng giải pháp
tham gia của cộng đồng. Giải pháp cộng đồng
tham gia giải quyết các vấn đề nớc, vệ sinh
môi trờng, đã đợc thực hiện ở nhiều nớc và
đã thu đợc nhiều kết quả tốt [10],[8]. Tại xã
Tân Trào cộng đồng đã tham gia vào xác định
vấn đề, chọn u tiên cho hoạt động can thiệp
giáo dục sức khỏe, với mục tiêu chung là xây
dựng Làng Văn hoá-Sức khoẻ [5]. Công đồng
cùng xây dựng tiêu chuẩn và kế hoạch hoạt
động TT-GDSK với các chỉ tiêu phấn đấu cho
từng tháng cụ thể. Các hoạt động giám sát hỗ
trợ và đánh giá thờng xuyên, cùng với việc
phát huy tính sáng tạo trong hoạt động TT-
GDSK của từng làng, xóm đã thu hút đợc sự
tham gia của cộng đồng, làm thay đổi không
chỉ kiến thức mà chuyển đổi đợc cả thái độ và
hành vi của dân về VSMT/3CTVS. Biểu hiện cụ
thể của các thay đổi hành vi là nhiều gia đình
đã sửa chữa, làm mới các công trình vệ sinh
nh nhà xí, nhà tắm, nguồn nớc ăn uống, cống
rãnh thoát nớc thải, cải tạo vệ sinh hoàn cảnh
chung của gia đình. Kết quả của các thay đổi
hành vi là tỷ lệ gia đình có công trình vệ sinh
đạt tiêu chuẩn đã tăng lên một cách có ý nghĩa
V. Kết luận
Mô hình TT-GDSK xây dựng Làng Văn
hoá-Sức khỏe sau thời gian can thiệp 11 tháng
đã làm thay đổi cả kiến thức, thái độ và thực
hành của dân về VSMT/3CTVS.
71
TCNCYH 21 (1) - 2003
1. Những hiểu biết của dân về vấn đề
VSMT/3CTVS tăng lên rõ rệt, đáng chú ý là tỷ
lệ dân biết các bệnh lây truyền chủ yếu do
VSMT/3CTVS không đảm bảo đã tăng lên có ý
nghĩa thống kê.
2. Thái độ nhìn nhận vấn đề VSMT/3CTVS
của dân cũng thay đổi, tỷ lệ dân quan tâm
nhiều đến VSMT/3CTVS tăng từ 38,6% lên
75,8% %.
3. Các thay đổi của dân không chỉ là kiến
thức, thái độ mà cả cách thực hành lành mạnh
về VSMT/3CTVS. Tỷ lệ gia đình có hố xí hợp
vệ sinh tăng từ 17,1% lên 59,5%, nguồn nớc
ăn uống hợp vệ sinh tăng từ 55,1% lên 73,3%,
tỷ lệ gia đình có vệ sinh hoàn cảnh chung tốt
tăng từ 10,9% lên 27,3% và tỷ lệ gia đình có vệ
sinh nớc thải tốt cũng tăng từ 7% lên 25,3%.
Trung bình sau can thiệp một gia đình đã có
1,39 lợt thay đổi sửa chữa hay làm mới công
trình vệ sinh và vệ sinh môi trờng chung. Các
thôn của xã Tân Trào thực sự đã có phong trào
thi đua xây dựng Làng Văn hoá-Sức khỏe.
năng đẩy mạnh giáo dục sức khỏe về vệ sinh
môi trờng tại một số xã huyện Thanh Miện
tỉnh Hải Dơng; Trờng đại học Y Hà Nội,
tuyển tập công trình khoa học nghiên cứu sinh;
Tập 7A, Nhà xuất bản Y học, tr.158-166.
5. Nguyễn Văn Hiến, Ngô Toàn Định,
Nguyễn Duy Luật (2002): Nghiên cứu thử
nghiệm mô hình giáo dục sức khỏe tại xã Tân
Trào, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dơng. Báo
cáo tại Hội nghị khoa học của nghiên cứu sinh
lần thứ 8, Trờng Đại học Y Hà Nội, ngày 9-
10/11/2002.
6. Khamisida Samsanouk, Đào Ngọc Phong,
Trơng Việt Dũng (2000) Mối liên quan giữa
vệ sinh môi trờng với bệnh tiêu chảy tại hai xã
Yên Mỹ và Liên Ninh huyện Thanh Trì Hà nội.
Trờng Đại học Y Hà Nội. Tuyển tập công
trình khoa học tập 1, nhà xuất bản Y học Hà
Nội, tr 1-6.
7. David J, Anspaugh, Mark B. Dignan,
Susan L. Anspaugh (2000), Developing Health
Promotion Programs. McGraw-Hill Higher
Education, ISBN, Ps. 3-5, 27-28.
8. Korie Dekoning and Marion Martin,
Participatory Research in Health, issues and
experience, South Africa, ISBN 1998.
9. Sandy Cairncoss, Richard Feachen
(1996), Environmental health Engineering in
the tropics, John Wiley and Sons Ltd,
Bafinslane Chichester, West Sussex PO19 IUD
- The changes of people not only on knowledge, attitude but also on practice of environmental
sanitation and three hygiene constructions. The percentage of household have sanitary latrine
increase from 17.1% to 59.5%, the clean water sources increase from 55.1% to 73.3%, percentage
of household have a good condition on general environmental sanitation increase from 10.9% to
27.3% and percentage of household which good drainage wastewater increase from 7% to 27%.
Average each household after intervention period have a bout 1.4 change times of environmental
and hygiene constructions by made new one or reparation.
- The Communication-Health education intervention program in Tan Trao commune has created
a movement of building up Culture-Health Village.
73