8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã từ lâu người ta biết rõ việc sử dụng thuốc trừ sâu (TTS) là một biện
pháp có tính quyết định trong việc diệt trừ dịch hại cây trồng. Trên thực tế,
thế giới đã không thể cung cấp đủ lương thực cho dân số ngày càng tăng mà
không sử dụng thuốc trừ sâu. Theo ước tính của Tổ chức Nông nghiệp và
Thực phẩm thế giới (FAO) [66,67], sự thiệt hại mùa màng do côn trùng, nấm
gây ra hàng năm chiếm 1/3 tổng giá trị thu hoạch từ cây trồng trên thế giới
tương đương hàng trăm tỷ đô la. Thuốc trừ sâu được sử dụng ở Việt Nam từ
thập kỷ 50 của thế kỷ XX. Trong những năm gần đây đã tăng nhanh cả về số
lượng và chủng loại, từ khoảng 100 tấn/năm (1954) đến 50.000 tấn/năm
(2001). Diện tích đất canh tác sử dụng thuốc trừ sâu cũng tăng từ 0,48%
(1960) lên khoảng 80 – 90% (1990) [44]. Theo cảnh báo của các nhà khoa
học, Việt Nam sẽ là một trong những nước sử dụng nhiều thuốc trừ sâu. Vấn
đề đáng quan tâm nhất ở nước ta hiện nay đối với TTS là khâu bảo quản, pha
chế và sử dụng. Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, đất đai
được khoán về từng hộ gia đình và các đơn vị tự hạch toán kinh doanh thì tình
hình bảo quản, phân phối và sử dụng TTS có nhiều bất cập, rất khó khăn
trong việc quản lý và kiểm soát.
Tồn lưu dư lượng của TTS trong thực phẩm, đất, nước là nhân tố chính
gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến thành phần của đất, tác động đến
vật thủy, làm mất cân bằng sinh thái đặc biệt là các quần thể côn trùng và đây
có thể là nguyên nhân dẫn đến việc bùng nổ các loại dịch bệnh khác trong
nông nghiệp [14,18,83]. Việc sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan, không đúng đã
gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người như: gây rối loạn nội tiết,
huyết học, bệnh máu, ung thư, tai biến sản khoa, sinh con quái thai, khiếm
khuyết thần kinh, thay đổi hệ miễn dịch, hội chứng thần kinh, bệnh ngoài da,
bệnh phổi....[49,50,53,54,57,58,64,69,72,80,81,85,86,87,89,91,92,93,96,97].
Hiện tượng ngộ độc cấp do thuốc trừ sâu những năm gần đây cũng tăng cao.
Theo thống kê của Bộ Y tế, ngộ độc do thuốc trừ sâu là một trong mười
1.1. MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN, LỢI ÍCH VÀ TÁC HẠI CỦA THUỐC TRỪ
SÂU:
1.1.1. Khái niệm về thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu là danh từ chung để chỉ một chất hoặc hợp chất bất kỳ có
tác dụng dự phòng hoặc tiêu diệt, kiểm soát các sâu bệnh gây hại, kể cả vector
gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại
trong quá trình sản xuất chế biến, bảo quản, lưu trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương
thực, sản phẩm nông nghiệp, gỗ và các sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc
phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng ở trong hoặc ngoài cơ thể gia
súc [1], [98].
1.1.2. Phân loại thuốc trừ sâu
Có 3 cách phân loại:
* Phân loại theo mục đích sử dụng
- Nhóm các chất diệt nấm (fungicides)
- Nhóm các chất diệt sâu (insecticides)
- Nhóm các chất diệt cỏ (herbicides)
- Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm (rodenticides)
- Nhóm các chất trị bệnh
* Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học
- HCTS vô cơ
- HCTS hữu cơ
- HCTS nguồn gốc thực vật
* Phân loại nhóm độc theo WHO:
Dựa vào LD 50 và LC 50
1.1.3. Độc tính của thuốc trừ sâu:
- Thuốc trừ sâu xâm nhập vào cơ thể nhiều một lúc gây nhiễm độc cấp
- Thuốc trừ sâu xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc mạn tính, nó tác
tiêu diệt bệnh sốt rét. Do việc sử dụng thuốc trừ sâu tuỳ tiện, tràn lan chưa
đảm bảo quy trình an toàn đã gây ô nhiễm môi trường và động thực vật
nghiêm trọng [4]. Sau thời kỳ mở cửa thị trường tình hình sử dụng thuốc trừ
sâu càng trở nên nghiêm trọng, số người lao động tiếp xúc với thuốc trừ sâu
về cả mức độ và số loại thuốc trừ sâu ngày một tăng nhưng thường có 3 nhóm
thuốc trừ sâu chính thường dùng [12] đó là:
-> Thuốc trừ sâu lân hữu cơ rất độc, đến nay có trên 50.000 chất, có
khoảng 50 chất dùng để diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, ảnh hưởng chính dễ
gây nhiễm độc cấp tính cho người sử dụng. Những nhiễm độc mạn tính có thể
xảy ra ở công nhân nông nghiệp thao tác thường xuyên với thuốc trừ sâu, với
các biểu hiện chính là nhức đầu, choáng váng, nặng đầu, nhức thái dương,
giảm trí nhớ, mệt mỏi, chóng mặt, ăn ngủ kém, rối loạn tinh thần và trí tuệ
[29,31].
-> Loại thuốc trừ sâu Clo hữu cơ được sử dụng rộng rãi từ giữa thế kỷ
XX, tuy độc tính cấp không cao bằng nhóm thuốc trừ sâu lân hữu cơ nhưng
nguy hiểm hơn nhiều. Do có tính ổn định và bền vững, tồn lưu, tích luỹ trong
đất, trong cơ thể, trong tổ chức mỡ nên dễ gây nhiễm độc mạn tính với các
triệu chứng thần kinh là chủ yếu như: cảm giác khó chịu, đau đầu, rối loạn thị
giác, chóng mặt, co cơ ngoài ý muốn và những tổn thương dị ứng ngoài da ...
[29,31].
-> Loại thuốc trừ sâu Cacbamat phát hiện năm 1923 cho đến nay có
hơn 1000 hợp chất, có trên 35 loại đã được sử dụng làm thuốc trừ sâu, nhóm
TTS chính là dẫn xuất của axit cacbamic là Cacbaryl hay Sevin, Baygon,
Dimetan, Isolan, Pyrolan, Zeetran ... [7] Độc tính của loại này ở giữa 2 loại
thuốc trừ sâu lân hữu cơ và Clo hữu cơ gây tổn thương cơ quan nội tiết, gây
phản ứng dị ứng cơ thể, có khả năng gây ung thư và ảnh hưởng đến di
truyền... [29,31]
Sự ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khoẻ sẽ càng nghiêm trọng qua
sự tác động trực tiếp và gián tiếp trong quá trình sử dụng không đảm bảo an
toàn vệ sinh lao động và phòng hộ lao động (qua da, niêm mạc, đường hô hấp
trung bình dùng 14.000 tấn/năm (4.000 tấn chất hữu hiệu) cơ cấu các loại hóa
chất sử dụng thay đổi: 55% là lân hữu cơ, 13% là Clo hữu cơ, 12% là
Cacbamat, còn lại là hóa thực vật, hợp chất thủy ngân, Asen.... Lượng thuốc
trừ sâu hữu hiệu sử dụng bình quân là 0,50 kg/ha tính chung cho cả nước.
Mức sử dụng TTS ở vùng trồng rau cao gấp 3 – 4 lần, ở cùng trồng chè cao
gấp 7 – 8 lần so với vùng trồng lúa. Trong 20 năm (1961 - 1980) đồng ruộng
Việt Nam đã phải tiếp nhận 53.000 tấn thuốc trừ sâu khó phân hủy loại Clo
hữu cơ (46.910 tấn) và Thủy ngân hữu cơ (600 tấn), chưa tính lượng DDT
được sử dụng để chống muỗi sốt rét (1200 tấn thời kỳ 1962 – 1964, 20.000
tấn thời kỳ 1976 – 1983 khoảng 2000 tấn/năm vào những năm sau) [34].
Trước năm 1990, thuốc trừ sâu trong thời kỳ này được Nhà nước đặc
quyền phân bổ theo cơ chế bao cấp. Tuy nhiên do sự chỉ đạo từ Trung ương
đến địa phương chưa được chặt chẽ, tính pháp lý chưa cao và còn hạn chế về
thông tin nên nhà nước chưa có đủ biện pháp và chính sách quản lý hợp lý các
loại thuốc trừ sâu. Bất kể thuốc trừ sâu nào kể cả thuốc trừ sâu thuộc thế hệ
cũ, chậm phân hủy trong mọi điều kiện (theo phân loại của Tổ chức Y tế thế
giới) như các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm Clo hữu cơ (DDT, 666), các hóa
chất có độ độc cấp tính thuộc nhóm lân hữu cơ (Ethylparathion) các hóa chất
có chứa Asen, Mercury vẫn được nhập khẩu và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam.
Trong khi đó những loại hóa chất này đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng ở nhiều
nước trên thế giới và trong khu vực [44].
Từ năm 1991 trở lại đây thuốc trừ sâu được lưu hành trên thị trường
như các vật tư hàng hóa khác. Do xác định được tính đặc thù của thuốc trừ
sâu là loại vật tư đặc biệt nên Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
(Nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) (bộ NN-PTNT) đã có chủ
trương và biện pháp quản lý chặt chẽ từ khâu đăng ký sử dụng, xuất nhập
khẩu, sản xuất, gia công đóng gói, kinh doanh đến khâu sử dụng thuốc trừ
sâu. Từ đó nhằm tuyển chọn các loại thuốc trừ sâu để cho phép sử dụng, đồng
diệt nấm chiếm 18%. Các loại thuốc trừ sâu được dùng chủ yếu cho lúa, màu,
cây ăn quả với mức độ khá cao: từ 21.400 tấn năm 1991 lên 30.000 tấn. Năm
1994 lượng hóa chất trung bình là 0,4 – 0,5 kg/ha [7]. Diện tích canh tác có sử
dụng thuốc trừ sâu là 0,48% (1960) lên 50% (1980) và trên 90% (1990) [44]
Kết quả điều tra mức độ sử dụng thuốc trừ sâu năm 1982 – 1993 ở 8
huyện thuộc đồng bằng sông Hồng cho thấy các thuốc trừ sâu được sử dụng
chủ yếu là nhóm lân hữu cơ (58%) trong đó phổ biến nhất là Wolfatox (22,53
– 35,4%) là monitor (18,38 – 91,13%). Trong nhóm Carbamat (35%) thì
Padan được sử dụng nhiều nhất (3,94 – 16,91%). Trong các loại hóa chất diệt
nấm thì Vanidacin được dùng nhiều nhất ở vùng trồng lúa (67%). Nghiên cứu
về dư lượng thuốc trừ sâu trong chè khô tại Yên Bái (1997) thấy hơn 10 loại
thuốc trừ sâu đã được sử dụng, 53,6% hộ sử dụng thuốc trừ sâu bị cấm là
Monitor. Thậm chí trong đó có hộ phun tới 3 lần trong tháng. Phân tích dư
lượng Trebon và Monitor trong 60 mẫu chè cho thấy 28,4% mẫu chè có dư
lượng Monitor, 15% mẫu chè tươi có dư lượng Trebon [27,28]
Theo cục bảo vệ thực vật thuộc bộ NN-PTNT đến tháng 6/2001 nhiều
loại hóa chất clo hữu cơ chứa thủy ngân, Asen và các kim loại nặng, hóa chất
lân hữu cơ có độ độc cao như Methyl Parathicon, Methamidophos,
Phosphamidon v...v.... đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng. Tuy nhiên, các loại
hóa chất này vẫn còn nhập lậu và sử dụng khá nhiều như như Wolfatox,
Monitor (trên 40% số hộ sử dụng), Kelthan (80%), DDT và 666 (hơn 2%)
[5,7].
Dưới đây là lượng thuốc trừ sâu nhập hàng năm theo đường chính
ngạch của Bộ NN-PTNT [35].
TTS nhập khẩu sử dụng ở Việt Nam thời kỳ 1991 – 1998.
Năm
1991
1992
Theo số liệu thống kê của Cục bảo vệ thực vật thuộc bộ NN-PTNT, cả
nước có 19.378 cửa hàng đại lý kinh doanh thuốc trừ sâu; Chỉ riêng một đợt
kiểm tra cuối năm 2002 ở 9.201 cửa hàng trên cả nước, đã phát hiện 2.460
cửa hàng (26,5%) có vi phạm. Điều tra 6.840 hộ nông dân có 60,8% số hộ sử
dụng thuốc trừ sâu không đúng quy trình kỹ thuật, 2,2% số hộ sử dụng hóa
chất cấm, 1,8% số hộ sử dụng hóa chất ngoài danh mục. Lượng hóa chất độc
cấm sử dụng nhập lậu bị thu giữ khá lớn: 1.600 chai Methamidophos bị thu
giữ ở huyện Đông Anh – Hà Nội, 1,1 tấn thuốc chuột Trung Quốc bị thu giữ ở
Thừa Thiên Huế, 2 tấn Methamidophos bị thu giữ ở Hưng Yên và nhiều
trường hợp khác. [11]
Tuy lượng thuốc trừ sâu bình quân trên 1ha đất cây trồng của nước ta
còn thấp so với các nước trong khu vực, nhưng điều đáng lưu ý là ở nước ta
vẫn dùng một số loại hóa chất Clo hữu cơ hoặc lân hữu cơ có độc tính cao mà
nhiều nước trên thế giới đã cấm sử dụng từ lâu. Một số thuốc trừ sâu có tác
dụng bảo vệ cây trồng tốt, ít ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người
thường có giá thành cao. Theo cục bảo vệ thực vật thuộc Bộ NN-PTNT
(1999) có 269 loại hóa chất và 735 tên thương phẩm thuốc trừ sâu được phép
sử dụng ở Việt Nam. Trong đó có 26 loại hạn chế sử dụng. Bộ NN-PTNT
cũng công bố danh sách 26 loại thuốc trừ sâu bị cấm hoàn toàn ở Việt Nam
trong đó 18 loại hóa chất trừ sâu, 6 loại hóa chất trừ bệnh, 1 loại hóa chất trừ
chuột và một loại hóa chất trừ cỏ [16]
Vấn đề đáng lo ngại nhất ở nước ta hiện nay là khâu bảo quản và sử
dụng hóa chất. Hệ thống phân phối và bảo quản từ Trung ương đến địa
phương đều không đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh theo quy định. Các nhà
kho thiết kế không đúng tiêu chuẩn vệ sinh, nền nhà hư hỏng, mái dột nát,
không có hệ thống thông khí. Trong kho, chứa nhiều loại thuốc trừ sâu khác
nhau, để lộn xộn vương vãi ra nền nhà, hệ thống thoát nước tại kho không tốt,
khi mưa to nước ngập vào kho rồi chảy ra ngoài gây ô nhiễm môi trường.
đó đặc biệt nguy hiểm là có những loại đã bị cấm sử dụng từ lâu nhưng vẫn
được người nông dân ở các nước đang phát triển, các nước thuộc Thế giới thứ
3 sử dụng bởi những loại hóa chất này có hiệu lực diệt sâu bệnh tương đối
cao, giá thành lại thấp. Tuy nhiên, đây là những loại hóa chất cực độc hoặc rất
độc có thời gian tồn lưu trong môi trường rất dài, do vậy đã có những ảnh
hưởng không nhỏ tới môi trường và sức khỏe con người [41,60]
1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC
KHỎE CON NGƯỜI
Sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp với dư lượng tồn lưu lớn đã
ảnh hưởng lớn và làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên, biểu hiện như: đất bị
thoái hóa, khô cằn biến thành những vùng sa mạc.... Cuộc “cách mạng xanh”
ở Ấn Độ tuy đã mang lại những thành công to lớn trong việc tăng sản lượng
lương thực cho nước này nhưng đồng thời một diện tích lớn đất trồng đã trở
nên hoang hóa hoặc không thể canh tác được do ảnh hưởng của thuốc trừ sâu.
Ngoài ra thuốc trừ sâu còn được tích đọng trong mắt xích thức ăn từ đó gây
ảnh hưởng lâu dài tới cuối cùng là sức khỏe con người [94]
Năm 1972 ủy ban về sử dụng an toàn thuốc trừ sâu của Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) đã thống kê ở 19 nước và ước tính trên thế giới hàng năm có
khoảng 500.000 người bị nhiễm độc thuốc trừ sâu. Mặc dù đã có các biện
pháp điều trị bằng các hóa chất chống độc đặc hiệu, nhưng tỷ lệ tử vong cũng
lên đến 1% (FooGaisim; 1985). Cũng theo Tổ chức Y tế Thế giới (1986 các
vụ nhiễm độc thuốc trừ sâu không chủ định hàng năm có thể vượt quá 1 triệu
người với tỷ lệ tử vong 0,4 – 0,9%)
Các nghiên cứu khác cho thấy số tử vong do ngộ độc thuốc trừ sâu dao
động từ 750.000 người (Bull; 1982) đến 2.000.000 (Escap; 1983). Các vụ ngộ
độc do tiếp xúc nghề nghiệp ước tính khoảng 70% trong số những vụ nhiễm
độc không chủ định. Ngoài ra có khoảng 2 triệu vụ nhiễm độc cấp do tự tử
thu được kết quả tương tự trong những phân tích về thuốc diệt cỏ, thuốc diệt
côn trùng và một vài loại thuốc trừ sâu. Tỷ lệ chênh lệch còn tăng nhiều hơn
khi xét đến những thuốc trừ sâu có tiềm năng gây ung thư. (OR[một loại
TSS]=1.30, 95% CI=0.90-1.88; OR[2 hoặc 4 loại]=1.54, CI=1.11-2.12; OR[5
loại hoặc hơn]=1.94, CI=1.17-3.23). Cũng tìm thấy những nguy cơ cao ở
những trường hợp dùng malathion kết hợp với một vài thuốc trừ sâu khác.
Những phân tích này củng cố và mở rộng những nghiên cứu trước rằng: nguy
cơ bệnh lympho non Hodgkin tăng theo số lượng thuốc trừ sâu được sử dụng
và một số kiểu kết hợp thuốc trừ sâu.
Hay trong nghiên cứu “Liên quan giữa các chất ô nhiễm hữu cơ mãn
tính ở nhau thai với nguy cơ khuyết tật ống thần kinh”[88]: Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện để phát hiện mối liên hệ giữa những mức độ nhau thai
bị ô nhiễm hữu cơ mãn tính nhất định và nguy cơ khuyết tật ống thần kinh
(NTDs) ở cụm dân cư Trung Quốc bị khuyết tật ống thần kinh khá phổ biến.
80 trường hợp thai nhi hoặc bé sơ sinh bị khuyết tật ống thần kinh, trong khi
nhóm đối chứng là 50 em sơ sinh khỏe mạnh, không khuyết tật. Độ tập trung
PAHs, o,p'-DDT and metabolites, and á-HCH ở nhau thai tăng cao liên quan
đến nguy cơ khuyết tật ống thần kinh tăng lên ở cụm dân cư này.
Nghiên cứu “Đánh giá phơi nhiễm thuốc trừ sâu với thời gian ngắn và
dài trên học sinh nông thôn tại Nicaragoa”[91]: Nghiên cứu bao gồm 132 trẻ
em có bố mẹ là nông dân tự cung tự cấp hoặc là công nhân đồn điền hoặc đã
có lịch sử về nông nghiệp. Kết quả tìm thấy: Chất lắng cặn thuốc trừ sâu trong
nước tiểu cho thấy độ phơi nhiễm môi trường cao ở trẻ em nông thôn
Nicaragua. Chỉ số định lượng về việc cha mẹ sử dụng thuốc trừ sâu là tiêu
chuẩn về độ phơi nhiễm của trẻ em trong các thời kỳ khác nhau hữu ích để
đánh giá các ảnh hưởng đối với sự phát triển của sức khỏe.
Tìm hiểu “Biến đổi gen, sử dụng thuốc trừ sâu và nguy cơ ung thư
tuyến tiền liệt” người ta quan sát thấy một vài tương tác thuốc trừ sâu – SNP
trong các gen stress oxidative và enzym pha I/II và nguy cơ tuyến tiền liệt.
nhiễm đồng tăng lên so với nhóm đối chứng, cùng với mức độ TBARS,
protein carbonyls, và nitrate+nitrite. ở nhóm phơi nhiễm, việc phân tích átocopherol and the FRAP thấp hơn còn LDH, transaminases, GGT, ALP,
urea, creatinine, CRP and MTs thì cao hơn so với nhóm đối chứng. Các
loại bạch cầu cũng khác nhau giữa 2 nhóm.
Tìm hiểu “Mức Cholinesterase và tình trạng bệnh tật của những
người phun thuốc trừ sâu tại Bắc ấn Độ” [85] cho thấy: Nguy cơ ức chế và
những triệu chứng cholinesterase lớn hơn ở nhóm làm việc trên máy kéo so
với nhóm phun thuốc đeo balô và ở cả 2 nhóm so với nhóm đối chứng.
Nghiên cứu này kiến nghị: Phơi nhiễm nghề nghiệp ở những người phun
thuốc trừ sâu ở Bắc ấn Độ cần phải được giám sát tốt hơn, có lẽ là bằng
cách thiết kế lại những thiết bị phun thuốc.
Nghiên cứu “Sử dụng thuốc trừ sâu và những vấn đề liên quan đến
sức khỏe ở những nông dân làm việc tại nhà kính tại bờ biển Oman” [65]
nghiên cứu thói quen dùng thuốc trừ sâu và những vấn đề sức khỏe do phơi
nhiễm thuốc trừ sâu trên 74 nông dân nhà kính ở bờ biển Oman cho thấy:
Một vài triệu chứng sức khỏe do phơi nhiễm thuốc trừ sâu theo như kể lại
là kích ứng da (70.3%); cảm giác bỏng rát (39.2%), đau đầu (33.8%), nôn
mửa (29.7%) và chảy nước bọt (21.6%).
Cũng tìm hiểu mối nguy cơ của TTS đối với sức khỏe, nghiên cứu
“Phơi nhiễm thuốc trừ sâu Organophosphate và ảnh hưởng đến lúc sinh con
ở Thượng Hải, Trung Quốc”[96] điều tra mức độ phơi nhiễm
organophosphate ở phụ nữ có thai và mối liên quan giữa phơi nhiễm
organophosphate và những ảnh hưởng đến lúc sinh con ở Thượng Hải với
187 phụ nữ có thai khỏe mạnh từ tháng 9/2006 đến tháng 1/2007. Nghiên
cứu này cho thấy mức độ thuốc trừ sâu cao có thể ảnh hưởng nghiêm trọng
đến khoảng thời gian mang thai mặc dù mối liên hệ này không thấy ở bé
trai. Xét thấy mức độ thuốc trừ sâu trong nước tiểu của bà mẹ ở Thượng
Hải cao hơn nhiều so với ở các nước phát triển. Nghiên cứu này khuyến
carbamat) tỷ lệ hiện mắc xác định được là 18,26 %. Nước ta có khoảng 13
triệu hộ làm nông nghiệp, nếu tính mỗi hộ có từ 1 – 2 người phun thuốc trừ
sâu thì ít nhất cũng có 15 – 20 triệu người phải trực tiếp tiếp xúc với thuốc
trừ sâu. Như vậy ước tính sẽ có trên 2 triệu người nhiễm độc thuốc trừ sâu
mạn tính nghề nghiệp trong thời vụ phun, rắc, pha trộn thuốc trừ sâu [41]
Lê Trung (2001) [40] khi điều tra qua phiếu câu hỏi do các thầy
thuốc hỏi trực tiếp ở 898 nông dân tiếp xúc với thuốc trừ sâu thấy một số
trường hợp sảy thai (13,36%), đẻ non (3,34%), con dị tật (1,56%), gia đình
có người ung thư (3,9%). Lê Đình Minh (1990) khi theo dõi 310 sản phụ
sinh đẻ tại Trạm Y tế của 1 xã chuyên canh rau ngoại thành Hà Nội thấy có
37 ca sảy thai (11,9%), 10 ca đẻ non (3,2%), 4 ca thai chết lưu (1,2%), 12
ca dị tật (3,8%) [36]
Theo Lê Trung, Hà Huy Kỳ (2001) [39] khi điều tra hỏi hồi cứu 898
đối tượng phun thuốc trừ sâu đã phát hiện ra 164 lần nhiễm độc, có người
nhiễm độc tới 3 – 4 thậm chí là 5 lần. Đây là loại nhiễm độc phải điều trị tại
nhà, phải nghỉ việc hoặc điều tra tại y tế cơ sở. Tỷ lệ số lần nhiễm độc này
là 28,6%. Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường (1994) đã điều tra
các đối tượng phun y tế là carbamat tại 3 xã thuộc huyện Từ Liêm – Hà Nội
có 26 trường hợp phải điều trị tại nhà chiếm tỷ lệ 6,5% các trường hợp
phun [8]
Các điều kiện kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển còn thấp,
người dân còn phải sống trong tình trạng thiếu dinh dưỡng, nhiều khi phải
lâm vào tình cảnh đói kém, cơ thể họ dễ nhiễm độc với hóa chất trừ sâu mà
họ phải tiếp xúc. Do vậy số lượng người bị nhiễm độc thuốc trừ sâu hàng
năm rất lớn. Người ta ước tính hàng năm có khoảng 25 triệu người bị
nhiễm độc thuốc trừ sâu, hầu hết số nạn nhân này đều ở các nước đang phát
triển. Theo Tổ chức Y tế thế giới, số người bị nhiễm độc cấp tính hàng năm
khoảng 500.000 người, trong đó có khoảng 14.000 người bị chết và hầu hết
biết về mức độ độc hại của thuốc trừ sâu nên chỉ quen dùng một loại hóa
chất. Thường là những loại có độc tính cao đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam
như Monitor, Wolfatox... và thậm chí cả DDT nữa [38].
Tình hình ô nhiễm môi trường và nhiễm độc thuốc trừ sâu ở Việt
Nam đã được nghiên cứu từ rất lâu ở cả cấp TW đến địa phương (Viện Y
học lao động – Vệ sinh môi trường, viện Pasteur Nha Trang, Đại học Y Hà
Nội, Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Sở Y tế tỉnh, thành phố
v..v...).
Sự thâm nhiễm của hóa chất độc hại do tiếp xúc của người sử dụng
thuốc trừ sâu gây bệnh tật do nhiễm độc, trường hợp nặng gây tử vong.
Nhiều người nông dân có biểu hiện triệu chứng nhiễm độc do tiếp xúc sử
dụng thuốc trừ sâu, tỉ lệ mắc các triệu chứng như chóng mặt: 76%, đau đầu
69,7%, ngứa 36,6%, nôn 17,7%, mất ngủ 13,1%. Những biểu hiện này
không chỉ làm giảm sút sức khỏe của con người mà còn làm giảm sút khả
năng lao động và tăng chí phí chăm sóc sức khỏe.
Cùng với sự tăng không ngừng lượng thuốc trừ sâu được tiêu thụ, đã
xảy ra nhiều trường hợp nhiễm độc thuốc trừ sâu. Theo số liệu thống kê
năm 1999 của Vụ Y tế Dự phòng – Bộ Y tế có 345 người tử vong và 8.808
người bị bệnh nặng liên quan tới tiếp xúc sử dụng thuốc trừ sâu. Các trường
hợp nhiễm độc nhẹ cần điều trị ở bệnh viện, không có trong báo cáo.
Nguyên nhân là do thiếu tuyên truyền giáo dục về an toàn khi tiếp xúc, sử
dụng thuốc trừ sâu, thiếu phương tiện chẩn đoán và phát hiện kịp thời
những trường hợp nhiễm độc thuốc trừ sâu, hệ thống thanh, kiểm tra giám
sát còn yếu kém. Tình trạng tai nạn xảy ra do tự tử, do nhầm lẫn uống vào,
tình trạng nhiễm độc do nghề nghiệp tiếp xúc liều cao hóa chất độc hại khi
pha phun trong sản xuất nông nghiệp. Những hóa chất độc tính cao, nồng
độ đậm đặc, do sử dụng không đúng quy cách trong lựa chọn hóa chất. Do
đầu (67,3%), mất ngủ (31,4%), mồ hôi tay chân ra nhiều (37,4%), bệnh
ngoài da (17,5%).... Nghiên cứu này đã đề ra một số giải pháp can thiệp
như tổ chức đội phun hóa chất chuyên trách, có huấn luyện tốt, có trang bị
phòng hộ đầy đủ, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khám tuyển, khám định
kỳ, cải tạo các kho thuốc trừ sâu của các HTX. Sửa chữa, cải tiến bơm hóa
chất. Một số nghiên cứu khác đã đề cập về hướng dẫn sử dụng an toàn
thuốc trừ sâu cho người sử dụng bao gồm các lĩnh vực vệ sinh an toàn lao
động như hiểu biết thấu đáo độc tính và mối nguy hiểm của hóa chất sử
dụng. Những con đường gây nhiễm độc, những nguyên tắc cơ bản trong sử
dụng an toàn thuốc trừ sâu; sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân trong
phòng chống nhiễm độc (Chương trình 58-01;1986). Trong một nghiên cứu
khác gần đây, thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu ở nhiều nơi trong nước qua
điều tra còn tồn tại những vấn đề: 70% thuốc trừ sâu do tư thương cung cấp
không được kiểm soát chặt chẽ Nhiều loại hóa chất trong danh mục cấm
của Nhà nước vẫn được sử dụng. Liều lượng hóa chất và số lần phun vượt
quá định mức kỹ thuật. Người phun hóa chất không mang đủ phương tiện
bảo vệ cá nhân, không có nơi thu gom, xử lý bao bì đựng hóa chất và rửa
bình bơm sau khi phun. Không có nơi bảo quản hóa chất một cách an toàn.
Tỷ lệ nhiễm độc mạn tính nghề nghiệp do thuốc trừ sâu khá cao (18,26%),
xấp xỉ với tỷ lệ nhiễm độc cấp tính nghề nghiệp thể nhẹ. Nhận thức của
nông dân về an toàn thuốc trừ sâu còn thấp, khả năng tài chính hạn hẹp nên
không đủ tiền mua hóa chất tốt, bình bơm tốt và phương tiện bảo vệ cá
nhân còn nhiều vấn đề quản lý thuốc trừ sâu, tổ chức bảo vệ thực vật, kỹ
thuật bảo vệ thực vật và cơ sở y tế v.v....[37]. Phạm Duệ [15] nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ và lâm sàng, cận lâm sàng của ngộ độc thuốc trừ sâu mới
xuất hiện Nghiên cứu thuần tập cắt ngang mô tả, 194 bệnh nhân ngộ độc
thuốc trừ sâu vào điều trị tại bệnh viện Bạch Mai trong 2 năm 2005-2006
được chẩn đoán ngộ độc thuốc trừ sâu. Kết quả cho thấy các ngộ độc cấp
trong các phòng trong nhà và 14.9% chứa trong phòng ngủ. Các thiết bị bảo
hộ cá nhân (PPE) như khẩu trang, kính mắt và kính che mặt toàn bộ hầu như
không được sử dụng khi phun thuốc trừ sâu. Nghiên cứu này kiến nghị: cần
phải đề xuất một điều luật trong Bộ luật thuốc trừ sâu ở Oman, yêu cầu bắt
buộc các chủ nhà kính cung cấp cho nông dân các thiết bị bảo hộ. Đồng thời,
cần tổ chức các chương trình đào tạo thường xuyên cho các nông dân sử dụng
thuốc trừ sâu trong nhà kính để giúp họ nâng cao khả năng đối phó với những
hóa chất nguy hiểm.
Nghiên cứu của Trần Như Nguyên (2004) về nguy cơ nhiễm thuốc trừ
sâu tại hộ gia đình ở Thanh Trì - Hà Nội cho thấy có 100% số hộ nông nghiệp
sử dụng hóa chất trừ sâu trong đó 80% là Monitor và Filitor, 15% là Wolfatox
(là những hóa chất không được phép lưu hành), còn 5% là loại khác [28]
Nghiên cứu của Cầm Bá Thăng và Cao Bá Lợi ở Kim Bảng – Hà Nam
(1996) cho thấy người dân ở đây có nhiều hành vi nguy cơ nhiễm thuốc trừ
sâu khi đi phun hóa chất trừ sâu cho lúa như: 70% phun vào giờ nắng nóng,
phun 3 – 5 lần trong một tuần (trong thời vụ); 31,7% sử dụng bình phun bị rò
rỉ, 70,6% rửa bình bằng tay trần, 100% chai, lọ, túi, gói phun xong vất tùy
tiện; 65,85% dây dính trên da sau khi phun, 95% số hộ gia đình có lưu giữ
thuốc trừ sâu trong nhà [36]
Điều tra sức khỏe và tình hình bệnh tật của lao động nữ ngành nông
nghiệp trồng cà phê (2000) cho thấy trong số công nhân ngành cà phê sử dụng
thuốc trừ sâu thì có 54,6% được xã tuyên truyền, 70,2% do khuyến nông
hướng dẫn, 39,5% do truyền miệng theo kinh nghiệm, 52,7% do đài báo tivi.
Lao động là nông dân, số có nhận thức về sử dụng, bảo quản thuốc trừ sâu do
xã tuyên truyền chiếm 23,2%; do cán bộ khuyến nông hướng dẫn 42,1%; do
đài báo, ti vi chiếm 61,4%[32]
Nghiên cứu của Vụ Y tế Dự phòng – Bộ Y tế (2000)[4] ở 8 tỉnh nông
nghiệp trọng điểm đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam cho thấy trong số
phụ nữ đi phun thuốc trừ sâu có 42,5% được cán bộ khuyến nông hướng dẫn,
khi tiếp xúc nên tỷ lệ nắm vững những nguyên tắc này còn thấp (24,7%). Việc
xử lý dụng cụ và bao bì sau khi phun thuốc trừ sâu còn chưa đúng cách, thiếu
an toàn[20].