VIỆN HÀN LÂM
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHẠM THỊ THU HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI TRỢ CỦA QUỸ
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC
KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
Phạm Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TÀI TRỢ
CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC KHOA
HỌC TỰ NHIÊN .......................................................................................................6
1.1. Một số khái niệm và thuật ngữ dùng trong luận văn ...........................................6
1.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ...............7
1.3. Thước đo kết quả nghiên cứu .............................................................................10
1.4. Phương thức tổ chức lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu.........................................14
1.5. Phương thức tổ chức nhóm trong hoạt động nghiên cứu ...................................16
1.6. Phương thức cung cấp tài chính cho nhiệm vụ nghiên cứu ...............................20
Chương 2: THỰC TRẠNG TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA ......................................................23
2.1. Giới thiệu về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia .........................23
2.2. Thực trạng hoạt động tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên của
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia .......................................................29
2.3. Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong
lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia ....37
Chương 3: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU TRONG KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ QUỸ
KHOA HỌC QUỐC TẾ .........................................................................................48
3.1. Kinh nghiệm về đánh giá kết quả nghiên cứu ....................................................48
3.2. Kinh nghiệm về lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu ................................................49
3.3. Kinh nghiệm xác định quy mô trong tổ chức hoạt động nghiên cứu .................54
3.4. Kinh nghiệm cung cấp tài chính cho hoạt động nghiên cứu ..............................55
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI TRỢ CHO
NCCB
Nghiên cứu cơ bản
NSF
National Science Foundation
Quỹ khoa học quốc gia Mỹ
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng
Số trang
Bảng 2.1. So sánh tỉ trọng đầu tư cho hoạt động KH&CN
28
STT
1
của Quỹ NAFOSTED với Trung ương và địa phương trong
tổng kinh phí SNKH
2
Bảng 2.2. Số lượng hồ sơ đăng ký và tài trợ đề tài NCCB
33
Hình 2.3. Kết quả công bố ISI của Việt Nam được tài trợ bởi
36
Quỹ NAFOSTED
5
Hình 2.4. Quy trình cấp kinh phí cho Quỹ NAFOSTED
44
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giúp hình thành
nên nền tảng tri thức. Việc nắm vững tri thức trong khoa học tự nhiên giúp
nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với các nước phát triển
trong lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các kết quả
nghiên cứu cơ bản có thể nhanh chóng được triển khai ứng dụng và chuyển
hóa thành thành quả ứng dụng trong sản xuất kinh doanh. Đồng thời, nghiên
cứu cơ bản của Việt Nam phát triển sẽ tạo điều kiện hội nhập với nền khoa
học công nghệ của thế giới.
Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức được vai trò của NCCB trong
KHTN, do đó, trong Nghị quyết 20-NQ/TW đã nêu rõ, khoa học tự nhiên đã
có bước phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo cơ sở cho việc hình thành một
số lĩnh vực khoa học và công nghệ đa ngành mới, góp phần nâng cao trình độ
và năng lực của khoa học cơ bản.
Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới đầu tư
cho nghiên cứu cơ bản bằng cách tài trợ cho các chương trình, đề tài thông
Đó là sự thay đổi phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Như vậy, sau khi
được phê duyệt và ký hợp đồng, các nhà khoa học sẽ được cấp ngay kinh phí
để thực hiện. Vì kinh phí của quỹ là thường xuyên, nên việc xem xét, phê
duyệt và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu không bị ngắt quãng theo quy
hoạch hàng năm như hiện nay. Khi đó, cơ chế tài chính sẽ không là rào cản,
mà là một đòn bẩy cho nghiên cứu khoa học.
Từ thực tế đó, ngay từ khi đi vào hoạt động, Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ quốc gia đã liên tục đổi mới phương thức quản lý hoạt động khoa
học nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam,
2
xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đạt trình độ quốc tế, góp phần thúc đẩy
hoạt động nghiên cứu ở các tổ chức KH&CN. Đồng thời, phương thức tài trợ
của Quỹ cũng hướng tới các chuẩn mực quốc tế, bình đẳng trong đánh giá tài
trợ hơn nữa. Trong 7 năm hoạt động, số lượng công bố quốc tế hàng năm tăng
lên nhanh chóng (khoảng 15-20%), lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng….
Mặc dù Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia được cộng
đồng khoa học trong và ngoài nước đánh giá, ghi nhận những kết quả đáng
khen ngợi, như một bước tiến thành công có tính cách mạng trong quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn
đề trong thực hiện tài trợ cho hoạt động nghiên cứu trong khoa học tự nhiên
như đánh giá chất lượng đề tài, tuyển chọn nhiệm vụ, tổ chức nhóm nghiên
cứu và cơ chế tài trợ cho các đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là một trong những vấn đề được Đảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về cơ chế tài trợ
cho nghiên cứu cơ bản thông qua các Quỹ khoa học như:
- Nguyễn Văn Tuấn: Đóng góp của NAFOSTED: Lượng nhiều, chất
thấp. Báo Tuổi trẻ ngày 06/04/2013
khoa học và công nghệ quốc gia.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để thu thập, phân
tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên
cứu, bao gồm các văn bản luật pháp của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn
thi hành.
- Phương pháp phân tích và so sánh
4
- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận của luận văn
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm kết quả nghiên cứu cơ bản,
các yếu tố liên quan tới hiệu quả tài trợ của Quỹ khoa học nói chung
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
+ Phân tích, đánh giá những thành công cũng như rào cản, vướng mắc
mà Quỹ NAFOSTED đang gặp phải trong tài trợ cho khoa học tự nhiên
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài trợ cho NCCB
trong lĩnh vực KHTN của Quỹ NAFOSTED
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản
trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Chương 2. Thực trạng tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong
lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc
gia
Chương 3. Kinh nghiệm thế giới về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu
trong khoa học tự nhiên của một số quỹ phát triển khoa học và công nghệ
rộng rãi để xây dựng những lý thuyết khoa học.
6
- Danh mục ISI: Danh mục khoa học do Viện thông tin khoa học máy
tính Hoa Kỳ (Institute for Scientific Information - ISI) lựa chọn và xếp hạng.
- Chỉ số SCI (Science Citation Index): Chỉ số Trích dẫn Khoa học là
một danh mục các tạp chí xây dựng dựa trên tần suất trích của các bài báo
đăng trong đó. Danh sách này do Viện Thông tin khoa học quốc tế (ISI, hiện
nay là một bộ phận của hãng Thomson Reuteurs) lần đầu tiên công bố vào
năm 1960. Có hơn 3700 tạp chí nằm trong danh sách này, bao trùm 100 lĩnh
vực khác nhau.
- Danh mục SCIe (Science Citation Index Expanded): là danh sách
các tạp chí SCI mở rộng, với khoảng 7000 tạp chí.
1.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Hoạt động nghiên cứu trong khoa học tự nhiên có đầy đủ những đặc
điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ được nêu trong bài
báo “Những đặc điểm riêng của môi trường làm việc nghiên cứu và triển khai
và của các nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu” của tác giả Thomas E. Clark.
Những đặc điểm này cụ thể như sau:
- Tính bất định của kết quả nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu KH&CN về bản chất là hoạt động nhằm tạo ra
tri thức mới, kiểm nghiệm các giả thuyết về hoạt động và ứng xử của thế giới
vật chất và xã hội trong tự nhiên.
Một đặc tính để phân biệt với các hoạt động khác là tính bất định của
kết quả nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu KH&CN không chỉ có tính bất
định trong thời hạn thời gian dự án hay tài chính mà còn là bản chất của kết
quả. Điều này đặc biệt đúng khi ở giai đoạn cuối của nghiên cứu – giai đoạn
chuyển tiếp từ nghiên cứu cơ bản sang triển khai thử nghiệm.
kiến thức chuyên sâu nên không đánh giá được hiệu quả của kết quả nghiên
cứu.
Kết quả nghiên cứu là tri thức nên khó có thể dự đán trước được chính
xác chất lượng, số lượng hay tính hữu ích của tri thức được sinh ra từ bất kỳ
dự án nghiên cứu nào. Tuy nhiên các đơn vị hành chính quản lý về ngân sách
luôn muốn thấy được các bằng chứng cụ thể định lượng các nguồn lực đầu tư
trong nghiên cứu có kết quả hữu hình hoặc tác động của kết quả nghiên cứu
trong khung thời hạn ngân sách nhất định hoặc trong chu trình đánh giá nhất
định.
Ngay cả khi đo lường được thì độ trễ giữa sự thành công của nghiên
cứu cũng như tác động của nó sẽ rất lớn, dẫn đến việc khó sử dụng những
hiểu biết về kết quả nghiên cứu làm cơ sở để lập kế hoạch cho tương lai.
Trong một số trường hợp, tác động của kết quả nghiên cứu phải chờ đợi sự
phát triển của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật khác trước khi có thể thấy tác
động hoặc sự ứng dụng của nó.
Một khó khăn nữa mà các nhà quản lý R&D phải đổi mặt là tiến hành
đánh giá các đóng góp hàng năm của các nhà khoa học một cách công bằng
và chính xác. Đánh giá sự đóng góp của các nhà khoa học đối với lĩnh vực
9
hoặc tác động cuối cùng mà những đóng góp này sẽ có được trong tương lai
có thể là một thách thức vô cùng lớn.
- Nghiên cứu không thể bị dừng lại rồi tái khởi động một cách dễ dàng
Một trong những hệ quả quan trọng nhất của sự thay đổi nhanh chóng
nền tảng tri thức khoa học là việc các nghiên cứu vốn đã mang đặc tính dài
hạn nên không thể bị dừng lại rồi tái khởi động một cách dễ dàng và nhanh
chóng như dây chuyền sản xuất. Nếu đề tài bị dừng lại, nhà khoa học sẽ phải
tiếp tục làm việc trong các dự án khác hoặc chuyển sang tổ chức các nghiên
đến cộng đồng khoa học quốc tế mà trong đó các nhà khoa học cẩn thận mô tả
lí do làm nghiên cứu, phương pháp thực hiện, kết quả và ý nghĩa của nghiên
cứu đó.
Có thể nói rằng bài báo khoa học chính là sợi chỉ xuyên suốt quá trình
nghiên cứu, từ khi bắt đầu tới khi kết thúc. Các bài báo khoa học là một thước
đo cho nghiên cứu cơ bản và khám phá khoa học, và xuất bản từ lâu đã được
sử dụng làm một chỉ số về năng suất khoa học của các trường đại học, các
viện nghiên cứu của chính phủ các tổ chức khác. Các bài báo là những công
cụ chính để phổ biến và đánh giá các kết quả nghiên cứu, và là cơ sở cho
chuyển giao kiến thức. Khi bắt đầu một đề tài, người nghiên cứu sẽ phải tìm
đọc các bài báo của các tác giả khác về lĩnh vực đó nhằm hai mục đích: học
những kiến thức nền tảng và nắm bắt xu thế nghiên cứu của đề tài. Từ đó, nhà
nghiên cứu định ra con đường của mình, tìm hướng nghiên cứu riêng của
mình. Một công trình nghiên cứu chỉ được coi là có giá trị khoa học khi kết
quả của nó có thể được viết thành các bài báo đăng trên các tạp chí hoặc báo
cáo ở các hội nghị khoa học quốc tế được thẩm định về chuyên môn thông
qua phản biện của các chuyên gia (peer-review, có người gọi là “bình duyệt”).
Bắt đầu bằng việc đọc và học từ những bài báo của người khác và kết thúc ở
11
việc công bố bài báo của chính bản thân mình, đó là một chu trình bắt buộc
của nghiên cứu.
Bởi vì chỉ có nhà khoa học cùng chuyên môn mới có khả năng thẩm
định giá trị của một công trình nghiên cứu, cho nên các báo cáo khoa học phải
công bố trên các tập san khoa học có hệ thống bình duyệt (peer reviewed
journal) nghiêm chỉnh. Hệ thống bình duyệt là một cơ chế khoa học nhằm loại
bỏ các công trình nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn hay các trường hợp gian
lận khoa học. Tuy hệ thống này không hẳn hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay
chưa có hệ thống nào tốt hơn, nên cộng đồng khoa học quốc tế vẫn phải dựa
- SSCI (Social Sciences Citation Index) gồm 2697 tạp chí và 3500 công
trình của 50 ngành. A&HCI (Art and Humanities Citation Index) gồm 1470
tạp chí và 6000 công trình. Đây là những tạp chí thuộc lĩnh vực Nghệ thuật,
Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- CPCI (Conference Proccedings Citation Index) gồm 110000 tuyển tập
hội nghị.
1.3.2.Hệ số ảnh hưởng Impact factor (IF)
Đánh giá chất lượng một công trình khoa học hay một bài báo khoa học
không phải là việc làm đơn giản vì nó đòi hỏi thời gian và phương pháp đánh
giá. Một công trình nghiên cứu cơ bản sau khi công bố có khi phải chờ đến 20
năm hay lâu hơn mới có khả năng ứng dụng, hay được cộng đồng khoa học
chấp nhận. Tuy nhiên, đối với các hội đồng đánh giá, họ không thể chờ đến
20 năm sau để đánh giá một nhà khoa học; họ cần những chỉ số ngắn hạn
nhưng đáng tin cậy để làm “thước đo” chất lượng nghiên cứu của một nhà
khoa học.
13
Một trong những thước đo phổ biến hiện nay là hệ số ảnh hưởng hay
impact factor (IF). IF là số lần trích dẫn trung bình của những bài báo khoa
học đã được công bố 2 năm trước. IF chỉ tính cho những tập san được liệt kê
trong danh bạ ISI hay Journal Citation Report của ISI.
Chỉ số IF tuy được sử dụng rộng rãi, nhưng cũng bị phê phán rất nhiều,
Do một số khiếm khuyết của IF đã được chỉ ra trong quá khứ bao gồm những
vấn đề liên quan đến văn hóa ngành, cách tính toán, IF không biết đến sự khác
biệt về “văn hóa” giữa các ngành khoa học, như ngành toán thường có chỉ số
trích dẫn thấp hơn ngành vật lí; IF không thể phân biệt xu hướng tác giả tự
trích dẫn bài báo của mình; IF trung bình hóa quá đáng, bởi vì trong thực tế
chỉ có khoảng 20% trích dẫn của một tập san có thể chiếm đến 80% tổng số
cầu đặt ra cũng như đánh giá chất lượng các đề tài này, đồng thời, hội đồng sẽ
cố vấn cho các nhà nghiên cứu những vấn đề về chuyên môn. Lý thuyết thông
tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những
năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện
đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là
George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải
Nobel kinh tế. Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành ký kết
hợp đồng. Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua
không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị
đích thực của hàng hóa. Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để
sản xuất hàng có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất
lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường. Rốt cuộc trên thị trường
chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu- những “trái chanh” bỏ đi, hàng
tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho cả hai bên.
15
- Yêu cầu đối với thành viên nhóm nghiên cứu
Trong nhiều ngành khoa học hiện đại, các nhà khoa học cần phải làm
việc theo nhóm. Phân bổ nguồn lực là một công cụ hiệu quả để khuyến khích
sự hợp tác giữa các nhóm và tránh tình trạng các nhóm làm việc một cách
riêng rẽ với những dự án không có sự liên hệ với nhau. Thành viên hội đồng
phải có khả năng đánh giá mang tính chuyên môn về một người, một nhóm
hay một dự án chứ không phải chỉ đơn giản là đếm số lượng công bố khoa
học hay áp dụng các chỉ tiêu thống kê đại loại tương tự như vậy, vốn đã trở
thành mốt trên toàn thế giới trong những năm gần đây.
- Sự tham gia của thành viên nhà khoa học quốc tế trong hội đồng
Sự hiện diện của các thành viên nhà khoa học quốc tế trong hội đồng
cũng là một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của hội đồng
bắt kiến thức lý thuyết và tham gia tích cực vào chương trình nghiên cứu của
nhóm để tạo ra những thành tựu khoa học mới, những ý tưởng mới, những sản
phẩm khoa học công nghệ mới.
Khái niệm về nhóm nghiên cứu mở rộng – các nhóm nghiên cứu là tập
hợp của nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ và có thể rất nhiều thành viên - được
Valerie I. Sessa đưa ra là tập hợp các nhà khoa học hay các trung tâm, phòng
thí nghiệm liên kết với nhau trên một hay một số lĩnh vực nhằm nghiên cứu
và phát triển những hoạt động khoa học và công nghệ ở trình độ cao trong
những lĩnh vực khoa học khác nhau. Các nhóm nghiên cứu sẽ đóng vai trò
trung gian trong hệ thống tổ chức trung tâm, viện, trường. Các nhóm sẽ liên
kết các cá nhân lại với nhau trong khoảng thời gian cố định và liên kết với
nhau dưới dạng hệ thống hoàn chỉnh. Nói cách khác, các nhóm nghiên cứu
đóng vai trò là tổ chức nhỏ tập hợp các cá nhân hoạt động nghiên cứu khoa
17
học và phát triển công nghệ và các trung tâm, viện, trường là nơi tổ chức tập
hợp các nhóm nghiên cứu lại theo hướng tương hỗ hoặc song song với nhau.
Từ các định nghĩa nêu trên có thể diễn đạt khái niệm về nhóm nghiên
cứu như sau: "Nhóm nghiên cứu là một tập thể những người làm công tác
nghiên cứu được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín và năng lực đủ để có
thể tiến hành một hướng nghiên cứu trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định
tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu nhằm tạo ra những sản phẩm khoa
học công nghệ mới".
Một xu thế hiện rõ trong hoạt động khoa học là hoạt động này ngày
càng mang tính tập thể và tài năng của các nhà khoa học lỗi lạc chỉ bộc lộ
thông qua gắn liền với tập thể. Con số các nhà bác học lo sáng tạo những mốc
mới trong khoa học, lo khám phá những trang sử mới trong khoa học hợp
thành một bộ phận tương đối nhỏ trong đội ngũ đông đảo các bộ khoa học
tưởng của các cá nhân hoặc nhu cầu hợp tác của một số cá nhân hoặc các
nhóm nghiên cứu nhỏ hơn từ các chuyên ngành khác nhau. Chức năng chính
là nghiên cứu và tham gia đào tạo. Cấu trúc quản lý đơn giản, linh động. Bản
thân các thành viên cũng có các nhiệm vụ nghiên cứu đơn ngành, riêng biệt.
- Trung tâm nghiên cứu lớn hình thành theo nhu cầu của cơ sở hoặc
theo mô hình các vườn ươm công nghệ, có chức năng nghiên cứu và đào tạo.
Được tổ chức và quản lý bởi một Ban lãnh đạo mà Giám đốc là người trực
tiếp điều hành và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên. Trung tâm có thể có nhân
sự, cơ sở vật chất, địa điểm cố định hoặc chia sẻ với các đơn vị.
- Phòng thí nghiệm quốc gia được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất đầy
đủ, nghiên cứu theo các nhiệm vụ được đề xuất từ dưới lên, có tính kế hoạch
cao và có tổ chức với cấu trúc chặt chẽ. Cán bộ nghiên cứu có thể linh động
chuyển đổi giữa các nhóm nghiên cứu tham gia.
19