VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
–––––––––––––––––––
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
––––––––––––––––––––––
TRỊNH VIẾT TRỌNG
CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Mai Hà
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Hà
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao
2.2.Tình hình thực hiện các cơ chế/chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. 47
2.3. Tiềm năng phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam ................................ 56
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM ........................................................................ 58
3.1. Kinh nghiệm ngoài nước về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và bài học
cho Việt Nam ........................................................................................................................................ 58
3.2. Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ quốc gia ...................................................... 63
3.3. Quan điểm – mục tiêu ................................................................................................................... 63
3.4. Giải pháp ......................................................................................................................................... 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .................................................................................................... 75
1. Kết luận .............................................................................................................................................. 75
2. Khuyến nghị ...................................................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................................... 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KH&CN:
khoa học và công nghệ
NC&PT:
nghiên cứu và phát triển
NC&TK
nghiên cứu và triển khai
NCPT
NNSNN
Ngoài ngân sách nhà nước
NSNN
Ngân sách nhà nước
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
DNKHCN
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
TFP
Năng suất các nhân tố tổng hợp
DANH MỤC BẢNG
TT Số hiệu
Nội dung
Trang
1 Bảng 1.1 Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&CN
12 Bảng 2.4 Tình trạng thiết bị nghiên cứu chuyên ngành trong doanh
nghiệp KH&CN
13 Bảng 2.5 Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&CN
14 Bảng 2.6 Hiện trạng nhân lực R&D trong các doanh nghiệp KH&CN
15 Bảng 2.7 Hiện trạng sử dụng chuyên gia trong các doanh nghiệp
KH&CN
16 Bảng 2.8 Tổng hợp một số khó khăn của doanh nghiệp KH&NC
trong tiếp cận với chính sách ưu đãi
41
42
43
43
44
51
DANH MỤC HÌNH
TT
Số hiệu
1
Hình 1.1
Nội dung
So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa sâu
rộng, mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức không nhỏ: kinh tế phát triển chưa bền vững, hạ tầng kỹ thuật
thiếu đồng bộ, tốc độ đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
còn ở mức thấp. Để khắc phục tình trạng trên thì doanh nghiệp khoa học và công
nghệ có vai trò quan trọng không chỉ là cầu nối đưa nhanh các nghiên cứu, ứng dụng
KHCN chuyển giao vào sản xuất mà còn đóng vai trò như một lực lượng sản xuất chủ
lực, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đóng góp cho việc xây dựng và
phát triển nền kinh tế xã hội và GDP của đất nước vì vậy việc phát triển doanh nghiệp
KH&CN là rất cần thiết. Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong nhiều văn bản có
tính chiến lược của Quốc gia như: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Quyết định số
418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/4/2012 về việc phê duyệt
chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, Quyết định số
592/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/5/2012 về việc phê duyệt
chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa
học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm,… Ở địa
phương, phát triển doanh nghiệp KH&CN cũng được đặc biệt nhấn mạnh trong các
văn bản chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN của các tỉnh, thành
phố trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Tp Hồ Chí Minh,...
Tuy nhiên, để hình thành được hệ thống doanh nghiệp KH&CN đủ mạnh trên
phạm vi toàn quốc trong bối cảnh tiềm lực KH&CN còn thấp với hơn 80% doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất, nhận thức chưa đầy đủ của các cấp, các
ngành về vai trò của doanh nghiệp KH&CN trong tăng trưởng kinh tế… thực sự trở
thành một thách thức đối với Việt Nam.
Thực tế trong thời gian qua, Nhà nước với vai trò “ bà đỡ” trong việc hỗ trợ,
thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, đổi mới và làm chủ công nghệ còn
1
2
doanh nghiệp KH&CN luôn là vấn đề đặc biệt được quan tâm ở những quốc gia có
nền kinh tế phát triển. Ngày nay, sự phát triển các doanh nghiệp KH&CN đang dần
trở thành một trong những thước đo về sự phát triển chung của các quốc gia khác
nhau. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và giới thiệu kinh nghiệm của các nước phát
triển trên thế giới trong việc phát triển doanh nghiệp KH&CN, trong đó chứa đựng,
bao hàm nhiều khía cạnh. Năm 2015, nhóm tác giả Mai Hà và đồng nghiệp xuất bản
nghiên cứu “Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ - Từ lý luận đến thực tiễn” đã
đề cập lý luận và phân tích khá tổng quát về đối tượng này.
Có thể khái quát nội dung nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu về kinh nghiệm và phương thức chuyển đổi tổ chức NC&PT
sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; kinh nghiệm xây dựng và phát triển các
hình thức doanh nghiệp KH&CN: Nghiên cứu loại này đã đưa ra những phát hiện
liên quan đến yếu tố quyết định sự thành công của chuyển đổi và khuyến nghị các
chính sách hỗ trợ chuyển đổi các Viện NC&PT, thay đổi cách nhìn nhận về vai trò
của các Viện trong hệ thống đổi mới quốc gia.
Nghiên cứu về cơ sở hình thành doanh nghiệp KH&CN: Nghiên cứu loại này
đưa ra nhiều nhìn nhận và khái niệm về doanh nghiệp KH&CN, ví dụ là đối tượng
được hình thành trên cơ sở công nghệ cao (High - Technology New Firms), doanh
nghiệp dựa trên tri thức; doanh nghiệp dựa trên khoa học; doanh nghiệp dựa trên
công nghệ; doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/ và cao; doanh nghiệp vệ tinh hàn
lâm và nhiều thuật ngữ khác. Từ đó cho thấy, khó có thể đưa ra một định nghĩa
hoàn chỉnh về doanh nghiệp KH&CN, tuy nhiên bản thân tên doanh nghiệp dựa trên
tri thức, doanh nghiệp dựa trên KH&CN đã có ngụ ý và hàm ý chỉ ra rằng: Doanh
nghiệp KH&CN là những doanh nghiệp tạo ra những hàng hóa và dịch vụ đặc biệt
trên cơ sở nghiên cứu, phát triển, sở hữu và áp dụng tri thức.
* Doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm
Một là, các cấp lãnh đạo chưa thực sự có quyết tâm trong đổi mới công nghệ.
Hai là, không đủ khả năng tiếp thị.
Ba là, thiếu nguồn nhân lực giỏi về công nghệ.
Bốn là, thiếu thông tin về công nghệ.
Năm là, khó khăn trong việc huy động nguồn tài chính.
Sáu là, quá trình ra quyết định quá dài.
4
* Ở Trung Quốc, nhằm giúp người dân nông thôn thoát khỏi đói nghèo và
tiến lên cuộc sống sung túc, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp; trong đó,
thông qua chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp KH&CN, các doanh nghiệp
nông nghiệp công nghệ cao là một trong những giải pháp mang lại thành công nổi
bật. Trong những năm 70 của thế kỷ XX, hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Trung Quốc được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, đất đai, thuế, thậm chí cả thị trường...
Nhiều công ty, xí nghiệp đã được thành lập ngay tại các vùng nguyên liệu (được gọi
là các xí nghiệp Hương Trấn).
Năm 1986, nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn;
chương trình “Đốm lửa” ở Trung Quốc đã được thực hiện. Đây là biện pháp xúc
tiến phát triển kinh tế các vùng nông thôn của bằng con đường áp dụng các thành
tựu tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp, thông qua các chương trình thí điểm và sự
thành lập các “Khu công nghiệp chế biến nông sản có hàm lượng công nghệ cao”.
Chương trình này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy việc phổ biến
KH&CN tại các vùng nông thôn cũng như đào tạo kỹ thuật cho đông đảo nhân dân
sống ở các vùng nông thôn Trung Quốc, đồng thời đã tạo ra biện pháp khuyến khích
triển khai các công nghệ cải tiến mới để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hiện tại và tạo
ra các cơ hội cho các doanh nghiệp vệ tinh mới thành lập để sao cho họ có khả năng
khai thác được những thị phần thích hợp trên thị trường. Việc hỗ trợ về KH&CN
không chỉ dừng lại ở những doanh nghiệp lớn quốc doanh, mà nó còn được thực
nghệ ở nước ta hiện nay. Theo đánh giá của UNDP, tỉ lệ nhập khẩu thiết bị, công
nghệ mỗi năm của các nước đang phát triển thường chiếm gần 40% tổng kim ngạch
nhập khẩu nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ này rất thấp, chiếm dưới 10%. Nguồn cung ứng
công nghệ cho Việt Nam chủ yếu là nhập ngoại. Mỗi năm, Việt Nam bỏ ra trên 1015 tỷ USD mua máy móc, thiết bị, phụ tùng nhưng hàm lượng công nghệ của những
sản phẩm này lại không cao. Nhiều chuyên gia cho rằng thực chất, chúng ta mới chỉ
nhập trang thiết bị, dây chuyền công nghệ toàn bộ mà chưa chú ý nhập và khai thác
tài sản trí tuệ. Khoảng 90% công nghệ nhập từ nước ngoài có trình độ ở mức trung
bình và lạc hậu. Trong khi đó, mức đầu tư, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Việt Nam rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,2- 0,3% doanh thu của doanh nghiệp, thấp
hơn rất nhiều so với các nước khác, như ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%.
6
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu của nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận về chính sách phát triển, phân tích và đánh giá
thực trạng trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN đề xuất giải pháp chính sách phát
triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tổng quan lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về chính sách phát triển
doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
- Đánh giá được tổng quan thực trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN
- Xác định được các doanh nghiệp có tiềm năng trở thành doanh nghiệp
KH&CN ở một số địa phương tiêu biểu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng doanh nghiệp tập trung vào 02 nhóm đối tượng: (1).
Các doanh nghiệp đã được chứng nhận doanh nghiệp KH&CN (2). Các doanh
nghiệp KH&CN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Tìm ra các luận cứ khoa học để đưa ra những giải pháp về chính sách phù
hợp nhằm phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Luận
văn được kết cầu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Chương 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN và chính sách thúc đẩy
phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công
nghệ ở Việt Nam.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. Khái niệm cơ bản
1.1.1. Tổ chức khoa học và công nghệ
Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu nghiên cứu
khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ
KH&CN.[10, tr. 2]
1.1.2. Chính sách
Theo Jemes E. Anderson: Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu mà
một chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm.
Theo Học viện Hành chính: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ
thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu
nhất định.
kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ quy định.
Thông thường, doanh nghiệp KH&CN được hình thành dựa trên cơ sở áp dụng,
khai thác kết quả nghiên cứu KH&CN được tạo ra ở các viện nghiên cứu, trường
đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân; cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, chủ công
nghệ. Doanh nghiệp KH&CN thường là các doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), là
một tổ chức thuộc viện nghiên cứu, trường đại học; hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp
(start-up) nằm trong các vườn ươm công nghệ, công viên công nghệ; hoặc doanh
nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ (technology-based enterprise) có hoạt động
chính là thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cung cấp sản phẩm công nghệ phục vụ
các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Doanh nghiệp KH&CN, trước hết, cũng là một loại hình doanh nghiệp hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp. Do đó, một doanh nghiệp KH&CN có đầy đủ những
đặc điểm chung của doanh nghiệp: được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt
động, được sản xuất, kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật không cấm
và phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh những
đặc điểm của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp KH&CN còn có những đặc
điểm riêng khác biệt so với doanh nghiệp thông thường, kể cả với ý nghĩa doanh
nghiệp sản sinh công nghệ (nghiên cứu, phát triển công nghệ và chuyển giao cho
10
doanh nghiệp khác khai thác, ứng dụng) và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ
(doanh nghiệp tiếp thu và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh của
mình). Các doanh nghiệp này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư mạo hiểm khá lớn và luôn
phải đối mặt với khả năng rủi ro cao do tính rủi ro của công nghệ và những biến
động trên thị trường. Bản thân các chủ thể tạo dựng và điều hành các doanh nghiệp
này cũng có những đặc điểm riêng biệt, họ thường là các nhà khoa học, thông thạo
môi trường nghiên cứu hơn là môi trường kinh doanh. Vì vậy, Nhà nước cần trợ
giúp họ vượt qua thử thách trên thương trường để tồn tại và phát triển.
- So với các hàng hoá khác, hàng hoá KH&CN được sản xuất và phát triển
muộn hơn so với các hàng hoá vật thể thông thường.
1.2. Vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ
1.2.1. Đẩy nhanh ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào thực
tiễn sản xuất, kinh doanh
Do hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là sản xuất, kinh doanh các
sản phẩm là kết quả của nghiên cứu KH&CN nên vấn đề gắn kết giữa nghiên cứu
ứng dụng với tổ chức sản xuất trong thực tiễn trong doanh nghiệp KH&CN đương
nhiên nằm trong một quy trình liên tục và chặt chẽ [06, tr. 09].Bên cạnh đó, doanh
nghiệp KH&CN còn tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ cho các tổ chức
kinh tế - xã hội bên ngoài. Thông qua các hoạt động này sẽ tạo điều kiện để thúc
đẩy nhanh quá trình chọn lọc và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay, vấn đề
chọn lọc, nghiên cứu ứng dụng và đổi mới nhanh công nghệ sản xuất, kinh doanh
nhằm cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan
trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
1.2.2. Trực tiếp đóng góp giá trị cho nền kinh tế
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN và chuyển giao công nghệ,
doanh nghiệp KH&CN còn trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng
hóa phục vụ sản xuất và đời sống của người dân. Do vậy, doanh nghiệp KH&CN
tạo gia giá trị đóng góp vào nền kinh tế quốc dân.[06, tr. 10].
12
Nhiều nghiên cứu hiện nay đã cho phép tính toán một cách tương đối chính
xác hàm lượng đóng góp của KH&CN trong nền kinh tế của mỗi địa phương hay mỗi
quốc gia thông qua phân tích chỉ số năng suất tổng hợp TFP (trong hàm sản xuất
Cobb-Douglass thì
bộ trong các doanh nghiệp KH&CN sẽ góp phần thúc đẩy quá trình đi tắt, đón đầu, góp
phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Thực tế, trình độ công nghệ sản xuất ở nước ta hiện còn ở mức thấp, trong khi
nguồn lực về vốn, nhân lực kỹ thuật cao và thông tin công nghệ hạn chế. Do đó, để
đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, thì không có cách nào khác tốt hơn là phải
lựa chọn được các công nghệ tiên tiến, công nghệ phù hợp để ứng dụng nhanh vào
sản xuất, từ đó gia tăng nhanh chóng chất lượng và sản lượng sản phẩm hàng hóa ở
nước ta. Điều này sẽ được thực hiện hiệu quả nếu hình thành được hệ thống các
doanh nghiệp KH&CN đủ lớn với vai trò là đơn vị trung gian vừa tiếp thu, vừa ứng
dụng và chuyển giao công nghệ mới vào thực tiễn.
1.2.5. Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động khoa học và công nghệ nói
chung và hoạt động nghiên cứu triển khai nói riêng
Là loại hình đơn vị vừa tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển vừa là
đơn vị “tiêu thụ” các sản phẩm KH&CN của các tổ chức KH&CN bên ngoài, có thể
nói doanh nghiệp KH&CN là một chủ thể quan trọng trong hệ thống KH&CN của
mỗi quốc gia. Do đó, hoạt động của doanh nghiệp tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự phát
triển của hoạt động KH&CN nói chung [06, tr. 12].
Quá trình nghiên cứu và tiêu thụ các kết quả nghiên cứu KH&CN, doanh
nghiệp KH&CN sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn cho các nhà nghiên cứu sáng tạo, từ
đó góp phần thúc đẩy cạnh tranh nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu
KH&CN. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động nghiên cứu KH&CN, doanh nghiệp
KH&CN sẽ góp phần phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, nguồn lực
KH&CN của quốc gia.
14
1.3. Đặc điểm nhận biết và thực trạng doanh nghiệp tiềm năng trở thành
doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam
1.3.1. Cơ sở vật chất khoa học và công nghệ
- Về tình trạng sử dụng: các thiết bị luôn ở trong tình trạng sử dụng tốt.
- Về khả năng đáp ứng nhu cầu: hệ thống thiết bị đáp ứng khá cao các nhu
cầu của doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
*. Công nghệ chủ yếu
Đặc điểm công nghệ là một trong những chỉ tiêu nhận biết doanh nghiệp
KH&CN và doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, thông qua xem xét một số chỉ tiêu
công nghệ như sau:
- Về xuất xứ công nghệ: thường có nguồn gốc từ hoạt động chuyển giao hoặc
mua từ địa chỉ có độ tin cậy cao.
- Về thế hệ công nghệ: công nghệ sử dụng thường ở tình trạng mới hoặc mới
nhất so với thị trường trong nước với nhiều ưu thế tích cực, do đó nó có khả năng
góp phần nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Mức độ đáp ứng nhu cầu của công nghệ: công nghệ áp dụng có mức độ đáp
ứng nhu cầu cao.
1.3.2. Nhân lực khoa học và công nghệ
*. Nhân lực có trình độ, nhân lực trình độ cao và công nhân kỹ thuật
- Đối với nhân lực trình độ chuyên sâu (GS/PGS): thường ít thấy trong các
doanh nghiệp KH&CN tiềm năng.
- Đối với nhân lực trình độ cao (TS/ThS): Trong doanh nghiệp KH&CN tiềm
năng, lực lượng nhân lực trình độ cao thường có tỷ trọng ít hoặc trung bình, nhưng
tham gia chủ yếu vào hầu hết các khâu công việc quan trọng như quản lý, điều
hành, nghiên cứu phát triển…
- Đối với nhân lực trình độ đại học/cao đẳng: thường tham gia vào các khâu
cuối của quá trình nghiên cứu phát triển và trực tiếp vận hành hoạt động sản xuất.
- Đối với nhân lực trình độ TC/CNKT: lực lượng này thường chiếm tỷ trọng
nhỏ, chủ yếu tham gia vào các hoạt động phụ trợ (vận chuyển, đóng gói…).
*.Nhân lực R&D
- Đối với nhân lực R&D trình độ chuyên sâu (GS/PGS): thường ít xuất hiện
trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng.
17
1.4. Thực trạng doanh nghiệp tiềm năng trở thành doanh nghiệp khoa học và
công nghệ
1.4.1. Thực trạng phân bố và quy mô
Thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP và những chính sách về Doanh nghiệp
KH&CN khác. Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã phát triển cả về quy
mô cũng như chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát
triển của KH&CN và kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo của Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học công
nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp
đã đủ điều kiện để được công nhận là doanh nghiệp KH&CN và đang có xu hướng
ngày càng gia tăng (trong đó có trên 300 doanh nghiệp được hình thành từ các viện
nghiên cứu, trường đại học) [06].
Bảng 1.1: Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&CN tiềm năng
STT
Số
Tiêu chí
lượng
Tỷ lệ
Loại hình pháp lý của doanh nghiệp
1
Công ty TNHH
24
8,0%
Trên 5 năm
258
87,0%
Dưới 1 tỷ đồng
30
10,0%
Từ trên 1 tỷ đến 5 tỷ đồng
133
45,0%
Từ trên 5 tỷ đến 20 tỷ đồng
83
28,0%
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp
2,1%
Công nghệ vật liệu mới
3
1,1%
Công nghệ bảo vệ môi trường
15
5,1%
Công nghệ năng lượng mới
2
0,6%
Công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác
16
5,4%
Lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp
4