UỶ BAN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
CỦA QUỐC HỘI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU LUẬN CỨ KHOA HỌC
CHO CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Mã số: ĐTĐL 2003/22 Chủ nhiệm đề tài: TS. Hồ Đức Việt 6842
13/5/2008 Hà Nội, tháng 6/2007
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
1
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
TS. Nguyễn Nghĩa (Chủ nhiệm nhánh 6, Kinh nghiệm tổ chức thị trường KH&CN của các
nước),
ThS. Đỗ Xuân C
ương; KS. Nguyễn Văn Điến; KS. Nguyễn Tuấn Hưng; TS. Ngô Đặng Nhân;
KS. Phạm Hồng Trường; .
GS.TS. Đào Văn Lượng (Chủ nhiệm nhánh 7, Một số mô hình thị trường KH&CN đang hoạt
động ở Việt Nam),
ThS. Nguyễn Võ Hưng; ThS. Phan Thu Nga; CN. Nguyễn Hữu Phép; CN. Trần Thu Bích; CN.
Trần Thị Thu Thủy.
TS. Hồ Đức Việt (Chủ nhiệm nhánh 8, Những giải pháp pháp lý để tổ chức và quản lý thị
trường KH&CN ở Việt Nam),
TS. Lê Xuân Thảo; TS. Trần Văn Bình; KS. Bùi Ngọc Hoan; TS. Nguyễn Văn Tri; TS. Vũ Minh
Mão
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………….4
PHẦN I……………………………………………………………………………………………6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA
HỌC&CÔNG NGHỆ 6
I.1 Bối cảnh đề xuất vấn đề 6
I.2 Nội dung nghiên cứu 7
II.2.4 Hệ thống văn bản pháp lý về thị trường KH&CN……………………………………45
II.2.5 Môi trường phát triển kinh tế - xã hội và chính sách phát triển KH&CN…………. 45
PHẦN III 49
NGHIÊN CỨU THỰ
C TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG KHOA
HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM VÀ KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ ĐẢM BẢO SỰ HÌNH
THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 49
III.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của thị trường KH&CN ở Việt Nam thời gian qua.
Những kinh nghiệm bước đầu………………………………………………………………. 49
III.1.1 Thực trạng 49
III.1.2 Nguyên nhân thị trường khoa học & công nghệ Việt Nam chưa phát triển 58
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
3
III.1.3 Những kinh nghiệm bước đầu có thể rút ra 64
III.2 Các chính sách, cơ chế về quản lý hoạt động KH&CN……………………………… 65
III.2.1 Chính sách đầu tư và phát triển nghiên cứu KH&CN 66
III.2.2 Chính sách khuyến khích chuyển giao và ứng dụng thành tựu KH&CN 71
III.2.3 Chính sách và cơ chế quản lý các nguồn lực KH&CN 73
III.3 Các chính sách, cơ chế về kinh tế có liên quan 76
III.3.1 Chính sách đối với đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 77
III.3.2 Chính sách tài chính liên quan đến khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới
công ngh
ệ 78
III.3.3 Cơ chế quản lý kinh tế liên quan đến khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ
và tiếp nhận chuyển giao thành tựu KH&CN của trong nước 80
PHẦN IV 81
KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN, TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 81
Phụ lục 7: Danh mục sản phẩm của Đề tài 178
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
4
MỞ ĐẦU
Trong thế giới ngày nay, toàn cầu hoá về kinh tế đã trở thành xu thế không
thể đảo ngược. Đây là hệ quả của cuộc cách mạng khoa học & công nghệ
(KH&CN) lần thứ 3, đặc biệt là của sự bùng nổ công nghệ thông tin, đánh dấu sự
chuyển đổi từ nền kinh tế hậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Trong bối
cảnh này, đương nhiên thị trường KH&CN trong Tổ chức Thương m
ại Thế giới
(WTO) cũng mang đặc điểm toàn cầu hoá, giao dịch công nghệ càng gia tăng…
Ở nước ta, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận công nghệ là một quá
trình tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong công
cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, trình độ công nghệ là yếu tố quyết định năng lực
cạnh tranh quốc gia và sự phát triển kinh tế, là đ
iều kiện sống còn đối với mỗi
doanh nghiệp trước sức ép của quy luật cạnh tranh, trước các đối thủ nặng cân
trên thị trường thế giới.
Việc chuyển giao công nghệ và tiếp nhận công nghệ đã được quan tâm từ
khi đất nước đổi mới, mở cửa hội nhập; nhất là từ khi Luật Đầu tư nước ngoài
được ban hành. Nhưng thị trường KH&CN nghệ ch
ưa thực sự hình thành và
phát triển như mong muốn. Đặt vấn đề “nghiên cứu luận cứ khoa học cho các
chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tập thể nghiên cứu
mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn
đang đặt ra hiện nay, tìm tòi những quyế
Các đơn vị và tổ chức có cán bộ tham gia đề tài gồm: Viện Chính sách và
Chiến lược (B
ộ Công nghiệp), Viện Nghiên cứu Tài Chính (Bộ Tài chính), Viện
Nghiên cứu Thương Mại (Bộ Thương mại), Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa
TP HCM và một số doanh nghiệp.
Trong quá trình triển khai đề tài, nhiều kết quả nghiên cứu của đề tài đã
được ứng dụng vào việc xây dựng, thẩm tra các dự thảo luật (Luật Sở hữ
u trí
tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện
tử) và xây dựng các báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi
trường của Quốc hội (Báo cáo thuyết trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và
Môi trường về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta; Báo cáo thuyết
trình của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình các cơ sở
nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ
ở nước ta).
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
6
PHẦN I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆI.1. Bối cảnh đề xuất vấn đề
Trong thế kỷ 21, vai trò của tiến bộ khoa học và công nghệ đối với sự tiến
trình phát triển kinh tế và xã hội đã ngày càng trở nên rất rõ rệt. Xu thế hội nhập
trong tiến trình phát triển trên toàn thế giới vừa đặt đất nước ta với nền KH&CN
tiến bộ công nghệ phát triển theo phương hướng quốc tế hoá và có tác dụng
thúc đẩy nhất định đối với đổi mới công nghệ doanh nghiệp; mặt khác, cũng bộc
lộ ra những vấn đề tồn tại về phát triển doanh nghiệp nước ta và về đổi mới
công nghệ của nó. Ngày nay, doanh nghiệp nước ta trong quá trình đổi mới công
ngh
ệ phải đối mặt với vấn đề về các khía cạnh sau đây: nhân tài đổi mới công
nghệ và vốn đổi mới thiếu, thiết bị công nghệ lạc hậu, chủ thể đổi mới công nghệ
doanh nghiệp xáo lộn, thiếu mạng lưới trung gian và hợp tác, còn chưa hình
thành hệ thống hỗ trợ chính sách pháp quy hoàn chỉnh.
Kinh nghiệm phát triển kinh tế các nước trên thế giới và sự thực của các
doanh nghi
ệp thành công đều hùng biện chứng tỏ đổi mới công nghệ là động lực
to lớn phát triển kinh tế, là nguồn lực tăng trưởng của cải xã hội, là con đường
tất yếu sinh tồn và phát triển doanh nghiệp. Chính vì vậy mà thông qua nghiên
cứu thị trường KH&CN, phát hiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới công nghệ của nó,
làm cho Chính phủ, các bộ/ngành và doanh nghiệp nắm vững được tình hình
chung đổi mới công nghệ của doanh nghi
ệp và cung cấp những căn cứ cho
Chính phủ, bộ/ngành ban hành chính sách và chiến lược đổi mới công nghệ
tương ứng, thúc đẩy tạo ra những thành quả KH&CN, xây dưng hệ thống dịch vụ
trung gian làm cầu nối thúc đẩy nhanh chóng chuyển hoá thành quả KH&CN vào
sản xuất nhằm nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh trạnh của doanh
nghiệp trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay có ý nghĩa lý
luận và thự
c tiễn quan trọng.
I.2. Nội dung nghiên cứu
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính
sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở việt
nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Mã số ĐTĐL –
2003/22 , thời gian thực hiện 9/2003 - 9/2006.
Khối lượng công việc trong mỗi nội dung không ít; đặc điểm và tính chất
cũng khá riêng biệt, nên đề tài tổ chức thực hiện 8 nội dung nói trên thành 8 đề
tài nhánh. Các đề tài nhánh đã lựa chọn phương pháp thích hợp để tiếp cận, giải
quyết vấn đề cho phù hợp với thực tiễn. Có đề tài nhánh đã phải tổ chức điều
tra, khảo sát ở trong nước (đề tài nhánh 2: điều tra, kh
ảo sát về năng lực sáng
tạo công nghệ ở 50 tổ chức KH&CN thuộc các Viện, các trường Đại học; đề tài
Nhánh 3: khảo sát, điều tra nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ mới của
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
9
100 doanh nghiệp…) và tham quan khảo sát, học tập kinh nghiệm ở nước ngoài.
Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của mỗi đề tài nhánh có khác nhau, nhưng
phương pháp nghiên cứu đều theo định hướng của đề tài là:
- Thu thập, tổng hợp thông tin, kết quả các đề tài nghiên cứu trong và
ngoài nước từ các nguồn hiện có (lưu trữ và trên mạng…), phân tích, đánh giá,
rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyế
t.
- Nghiên cứu, thẩm định, phân tích số liệu đã thu thập khi điều tra, khảo
sát thực tiễn; so sánh giữa thực tiễn và văn bản hiện hành, tìm hiểu nguyên
nhân và đề xuất khuyến nghị.
- Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề xuất, khuyến nghị; phối
hợp thí điểm áp dụng (đóng góp ý kiến có liên quan hoạt động KH&CN và thị
trường KH&CN…trong các dự án Luật; tổ ch
ức Chợ công nghệ & thiết bị).
I.4. Tổng quan tình hình phát triển thị trường công nghệ các
nước trên thế giới
Thị trường công nghệ là một hình thức mới thúc đẩy liên kết khoa học với
học Toàn quốc năm 1978, đã trình bày rõ ràng quan điểm mác-xít rằng khoa học
và công nghệ là lực lượng sản xuất, và rằng hiện đại hoá khoa học và công nghệ
là chìa khoá cho việc thực hiện 4 hiện đại hoá. Quan điểm mác-xít này đã đặt
nền móng cho việc thương mại hoá thành quả công nghệ và phát triển thị trường
công nghệ về mặt lý luận và tư t
ưởng. Do đó hoạt động mua bán công nghệ đã
hướng vào thành quả công nghệ khi thị trường công nghệ bắt đầu nảy nở. Tại
giai đoạn này, hoạt động thị trường công nghệ được đặc trưng bởi sự tự nguyện
hợp tác giải quyết các vấn đề khó giữa các viện nghiên cứu và các đơn vị sản
xuất. Các viện nghiên cứu bắt đầu chuyển giao có hoàn trả
các thành quả công
nghệ cho các đơn vị sản xuất, tham gia vào các dịch vụ tư vấn kỹ thuật và các
dịch vụ khác, và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật
trong sản xuất.
Giai đoạn 2, tức là giai đoạn khởi động (1982-1985). Tại Hội nghị Khen
thưởng KH&CN Quốc gia tổ chức vào năm 1982, đã đưa ra nguyên tắc chiến
lược “xây dự
ng kinh tế phải dựa vào khoa học và công nghệ và công tác khoa
học và công nghệ phải hướng vào xây dựng kinh tế”. Nguyên tắc này đã thúc
đẩy phối hợp phát triển giữa khoa học và công nghệ, kinh tế và xã hội và thúc
đẩy hình thành thị trường công nghệ. Hoạt động của thị trường công nghệ tại
giai đoạn này bắt đầu được chỉ đạo và tổ chức. Do đó, đã xuất hiện các mô hình
và kênh quản lý khác nhau, quy mô và phạm vi c
ủa thị trường công nghệ thường
xuyên được mở rộng, và thị trường công nghệ bắt đầu được hình thành.
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
11
Giai đoạn 3, tức là giai đoạn phát triển thị trường công nghệ (1985-đến
và xu hướng này liên tục gia tăng
− Khi tỷ trọng đầu tư vào nghiên cứu và triển khai (R&D) của Trung Quốc
liên tục tăng, và việc thực hiện hàng loạt các chính sách ưu đãi khuyến
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
12
khích đổi mới khoa học, kỹ thuật, ý thức về đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp đã được nâng lên rất nhiều, phát triển công nghệ đã trở
thành một động lực thực tế trong phát triển doanh nghiệp. Doanh thu từ
các hợp đông phát triển công nghệ chiếm vị trí hàng đầu trong 4 hình
thức hợp đồng năm 2003, khoảng 42.607 tỷ Yuan = 5,13 tỷ USD, tăng
17% so với năm trước; 58.591 hợp đồ
ng đã được ký kết, tăng 21% so
với năm trước.
− Thị trường công nghệ đã dần trở thành các kênh quan trọng trong việc
công nghiệp hóa các kết quả từ các dự án của các kế hoạch KH&CN ở
tất cả các cấp
− Có 33.113 kết quả từ các dự án của các chương trình KH&CN của các
chính quyền các cấp được đưa ra thị trường công nghệ năm 2003,
chiếm 12,4% tổng số các hợ
p động công nghệ trong năm; tỉ lệ các kết
quả thuộc các dự án KH&CN tại tất cả các cấp được chuyển giao và
chuyển hóa thông qua thị trường công nghệ đã tăng đáng kể, doanh
thu của hợp đồng đạt 20,7 tỉ Yuan = 2,5 tỷ USD, tăng 62,7% so với
năm trước, chiếm 19,2% giá trị giao dịch của các hợp đồng công nghệ.
− Doanh thu từ hợp đồng công nghệ của các doanh nghiệp tiếp t
ục được
quan tâm hàng đầu, các doanh nghiệp trở thành chủ thể của quá trình
đổi mới công nghệ
i bỏ những
“phế phẩm” là điều không thể tránh khỏi trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, và
có thể gây khó khăn cho quá trình phổ cập và chuyển giao những kết quả nghiên
cứu KH&CN. Do đó, việc nghiên cứu những biện pháp giảm thiểu những tác
động không mong đợi trong quá trình sự phát triển của thị trường công nghệ là
hết sức cần thiết.
Cơ sở pháp lý để thúc đẩy hoạt động thị
trường công nghệ tại Trung
Quốc là:
Luật Hợp đồng Công nghệ (1987); Luật Hợp đồng (1999); Luật Thúc đẩy
Chuyển hóa Thành quả KH&CN (1996); Điều lệ Quản lý Thị trường Công nghệ
(1987-2002); Biện pháp quản lý Chợ giao dịch công nghệ (1991); Biện pháp
quản lý đăng ký công nhận hợp đồng công nghệ (2000); Biện pháp tạm thời
quản lý người môi giới công nghệ (1998-2002) …
Về mặt luật pháp quy định, Trung Quốc đ
ã xây dựng được một hệ thống
luật pháp tương đối đồng bộ, phục vụ quản lý thị trường công nghệ, dễ định
dạng các vấn đề cơ bản: Ai được tham gia thị trường công nghệ; Ai quản lý thị
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
14
trường công nghệ; Khái niệm về quan hệ giao dịch công nghệ; Nội dung hoạt
động của hệ thống dịch vụ giao dịch công nghệ; Người môi giới công nghệ; Định
giá tài sản công nghệ; Quyền được hưởng đối với hợp đồng công nghệ; Nội
dung hoạt động của chợ công nghệ; Điều kiện tổ chức chợ; Quyền của các pháp
nhân và đơn vị được tổ
chức chợ; Chức năng quản lý chợ của các cơ quan
được giao
Sự hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Trung Quốc, chính là
thể dần dần tự lực dựa vào kinh phí vận hành của mình. Theo đánh giá, riêng
năm 1985 thu nhập của các tổ chức nghiên cứu khoa học dân sự đã đạt được
470 triệu Yuan từ việc bán thành quả công nghệ.
4) Thị trường công nghệ
đã thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Nó đã trở
thành chỗ dựa kỹ thuật cho các doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển sản xuất
của các doanh nghiệp. Khi các thiết bị hiện tại đã lỗi thời và kỹ thuật đã lạc hậu
tại rất nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc, thì rất khó áp dụng những thành quả
kỹ thuật và công nghệ mới, đặc biệt tại các doanh nghiệp nhỏ, v
ừa và các doanh
nghiệp nông thôn. Trước đây việc mua công nghệ không có chỗ đứng. Còn hiện
nay các doanh nghiệp có thể thoả mãn yêu cầu về công nghệ của mình thông
qua thị trường công nghệ. Doanh nghiệp cũng có thể mời thầu các dự án để giải
quyết các vấn đề kỹ thuật của mình.
5) Thị trường công nghệ đã tao điều kiện thuyên chuyển hợp lý và lưu
động của những lao động có tài năng.
Đó là cơ hội phong phú cho những người
mong muốn làm việc cho 4 hiện đại hoá. Cán bộ khoa học và công nghệ là
những người đi đầu trong việc phát triển lực lượng sản xuất mới. Thông qua thị
trường công nghệ, những thành quả công nghệ đạt được của các cán bộ
KH&CN có thể thường xuyên được chuyển giao vào lĩnh vực sản xuất, và về
phần mình, một mặt, khu vực sản xuất c
ũng hỗ trợ tạo ra những thuyên chuyển
các cán bộ giỏi một cách hợp lý và lưu động công việc hợp lý của những người
có tài với số lượng lớn, mặt khác cũng phát huy đầy đủ những sáng kiến của họ
trong quá trình chuyển giao các thành quả công nghệ.
I.4.2. Hiện trạng phát triển của thị trường công nghệ ở Hàn
Quốc
Sau khi Chính phủ Hàn Quốc ban hành Luật Khuyến khích chuyển giao
có hệ thống theo đuổi sau đó nhằm hỗ trợ trong đàm phán cũng như giải thích
các điều khoản trong hợp đồ
ng và những vấn đề liên quan đến pháp luật.
Chợ thương mại hoá công nghệ của Trung tâm chuyển giao công nghệ
Hàn Quốc (KTTC) được hình thành và khởi động như là một phần của chương
trình thương mại hoá đó nhằm bảo đảm các yêu cầu như vậy về môi trường mở
cho người mua tìm kiếm công nghệ. Chợ thương mại hoá công nghệ được khép
kín giữa các khâu: cung cấp công nghệ; kiểm tra (thẩm định) công nghệ
và đầu
tư công nghệ. Như vậy nguồn cung cấp công nghệ, người mua và các nhà đầu
tư được kết nối với nhau tạo ra hiệu ứng hoà hợp.
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
17
Chợ thương mại hoá công nghệ trong thế kỷ 21 (TCM) là nơi, mà ở đó các
nhà đầu tư, người bán và người mua công nghệ gặp nhau do đó làm tăng cơ hội
gắn kết với nhau. Bắt đầu từ tháng 8/2001, TCM21 được tổ chức thường xuyên
1 lần/tuần, phạm vi công nghệ trình diễn được mở rộng gồm các công nghệ của
các viện, trường, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cũng như công nghệ c
ủa nước
ngoài. Việc cung cấp thường xuyên cho thị trường sẽ giảm thời gian và những
chi phí không cần thiết trong việc tìm kiếm đối tác và công nghệ tiềm năng cũng
như tiến tới xây dựng hệ thống chuyển giao công nghệ với chi phí hiệu quả.
Từ năm 2000, KTTC được giao xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ từ các
trường đại học, các viện nghiên cứu và các công ty. Đến tháng 12/2003 có
khoả
ng 13.000 người đăng ký truy cập vào 900 trang thông tin có nội dung
chuyên sâu về phân tích thị trường; về xu hướng thị trường trong 230 lĩnh vực
công nghệ và gần 5.000 số liệu liên quan đều có thể được cung cấp.
ứu khoa học với cơ hội thương mại. Hầu hết các
công nghệ, đặc biệt là các công nghệ được nghiên cứu từ các trường đại học và
các viện nghiên cứu rất cần phát triển nhân rộng hoặc bảo vệ bằng độc quyền
sáng chế để áp dụng trong các ngành công nghiệp.
Việc đầu tư kinh doanh công nghệ không được hiểu biết rộng rãi trong các
trường đại học và các viện nghiên cứ
u ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, gần đây nhiều
nhà tạo ra công nghệ đã bắt đầu nhận ra rằng không chỉ có việc chuyển giao
công nghệ họ quan tâm mà còn phải biết được công nghệ của họ đã được
thương mại hoá như thế nào. Thay vào đó nhiều viện nghiên cứu đang tìm kiếm
cơ hội liên doanh với một hay nhiều đối tác. Điều này được xem như là mô hình
mới về chuyể
n giao công nghệ, do đó khả năng thương mại hoá được nâng lên
một bước. Sự hợp tác trực tiếp giữa các nhà sáng chế với các đối tác thương
mại sẽ tăng cơ hội thương mại hoá công nghệ lên mức cao nhất. Gần đây đã
thành lập Liên doanh giữa Viện Nghiên cứu Năng lương Nguyên tử (KAERI) với
Công ty Kolmar của Hàn Quốc (cổ phiếu của Công ty này được niêm yết trên thị
trườ
ng chứng khoán Hàn Quốc), KAERI sẽ đầu tư nghiên cứu công nghệ,
Kolmar sẽ cung cấp vốn.
I.4.3. Hoạt động chuyển giao và thương mại hoá công nghệ
ở CHLB Đức
Đối với CHLB Đức, do nền kinh tế cơ bản là nền kinh tế thị trường, nên họ
không quá nhấn mạnh hay phân biệt thị trường KH&CN, thị trường công nghệ.
Về cơ bản, ở Đức đã có đầy đủ các thị trường, và Nhà nước khi cần can thiệp
để khuyến khích chuyển giao công nghệ thì ban hành các chính sách cụ thể cho
từng thời kỳ. CHLB Đức đặc biệt quan tâm tới việc chuyển giao công nghệ t
ừ
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới,
đầu tư cho phát triển công nghệ và nâng trình độ nghiên cứu ở các
viện và trường đại học.
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
20
− Mức đầu tư của ngân sách hiện nay cho KH&CN chiếm 3% GDP, đây
là số kinh phí do Bộ Liên bang về Giáo dục và Nghiên cứu nắm; ngoài
ra các Bộ liên bang về ngành sản xuất cũng được duyệt kinh phí
nghiên cứu riêng từ ngân sách Nhà nước. Các bang cũng có ngân
sách tương tự cho KH&CN. Quốc hội quyết định hàng năm tăng thêm
7% mức kinh phí cấp cho KH&CN, do đó điều kiện cho hoạt động
KH&CN ngày càng tốt hơn.
I.4.4. Tổ chức hội chợ kinh tế có nội dung công nghệ ở các
nước
Hội chợ, triển lãm kinh tế kỹ thuật, cũng như máy móc, thiết bị, phương
tiện…là hoạt động bình thường của các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển. Hội chợ, triển lãm ở các nước, là dịp tiếp xúc, tìm hiểu giữa bên “cầu” và
bên “cung” công nghệ, mà nguồn cung chủ yếu là các hãng lớn. Nhiều hãng lớn
của các nước công nghiệp pháp triển thường tiếp thị theo hình thức mở c
ửa đón
các đoàn tham quan đến thăm (như hãng Boing của Mỹ, hãng Thomson của
Pháp…). Cách tiếp thị này không ngoài mục đích giới thiệu chất lượng sản phẩm
của Hãng do ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại. Có hãng sản xuất
(như Thomson) còn mua lại (thưởng bằng tiền) những ý tưởng, những cải tiến
kỹ thuật và công nghệ đối với sản phẩm của hãng mà khách hàng (thườ
ng là
viện nghiên cứu, trường đại học) trong quá trình sử dụng đã đề xuất hoặc cải
công nghệ nói riêng. Các chính sách kinh tế (tài khoá-tiền tệ, cạnh tranh, đầu tư
,
hội nhập và chính sách công nghiệp) giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát
triển thị trường công nghệ.
I.4.5. Nhận xét chung
Đa số các nước công nghiệp phát triển thường xuyên tổ chức thị trường
KH&CN dưới dạng Hội chợ triển lãm sản phẩm, trong đó các đơn vị nghiên cứu
khoa học cũng như doanh nghiệp có tiềm lực đều bình đẳng tham gia Hội chợ,
đôi khi có quốc gia có chú ý riêng đến thành quả KH&CN nên đã tổ chức Hội chợ
triển lãm thành quả công nghệ cao như TechnoMart IV tại Phúc Châu Trung
Quốc, năm 2001. Về phía Nhà nướ
c, thông thường chỉ xây dựng các thiết chế
chủ yếu hỗ trợ cho hoạt động này, chứ không xây dựng thị trường KH&CN cố
định mà chỉ tổ chức các Hội chợ triển lãm;
Quản lý thị trường công nghệ có hệ thống và thống nhất là một hình thức
sáng tạo của Bộ KH&CN Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị
trường.
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
22
Về mặt tổ chức, tại Trung Quốc đã hình thành mạng lưới quản lý xuyên
suốt từ trung ương đến địa phương (tại Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc
có một đơn vị làm nhiệm vụ quản lý thị trường công nghệ - Trung tâm Thúc đẩy
Quản lý Thị trường công nghệ Trung Quốc - với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng
những văn bản pháp quy quản lý thị trường công ngh
ệ và tổ chức công tác đào
tạo, thống kê, đánh giá trong toàn quốc. Tại từng tỉnh, Sở Khoa học và Công
nghệ chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý toàn diện thị trường công nghệ trong
phạm vi của mình phụ trách).
công nghệ tốt hơn để phục vụ nghiên cứu sáng tạo
− Có chế tài cụ thể, b
ảo đảm hiệu lực thực thi luật pháp (của các đối
tượng tham gia thị trường và đặc biệt là của cán bộ, công chức và các
cơ quan của Nhà nước).
− Coi trọng và tạo điều kiện thành lập nhiều trung tâm tư vấn môi giới,
chuyển giao công nghệ, các tổ chức dịch vụ trung gian.
− Việc lồng ghép nội dung quảng bá và giao dịch công nghệ trong các
Hội chợ, Triển lãm kinh tế, kỹ thuậ
t là dịp tốt cho các đối tượng “cung-
cầu” công nghệ (trong, ngoài nước), tìm đối tác và đặt quan hệ.
− Trong điều kiện của Việt Nam, việc quản lý hoạt động của thị trường
công nghệ vẫn cần có một tổ chức do Nhà nước quy định và giao chức
năng. Tổ chức này nên là một đơn vị thuộc Bộ KH&CN, ở các tỉnh là
một đơn vị thuộc Sở KH&CN.
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI ĐTĐL 2003/22
TTCN-2007
24
PHẦN II
CƠ SỞ KHOA HỌC, YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
II.1. Cơ sở khoa học hình thành và phát triển thị trường
KH&CN
II.1.1. Khái niệm thành quả KH&CN (sản phẩm KH&CN)