Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ theo pháp luật lao động việt nam - Pdf 38

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Người phụ nữ Việt Nam kiên cường, dũng cảm, gan góc trong những cuộc chiến

tranh gìn giữ hòa bình dân tộc xưa thì ngày nay cũng đang dốc hết mình cho những
thành tựu phát triển của đất nước. Chiếm khoảng một nửa lực lượng lao động của xã
hội, người phụ nữ đang ngày càng chứng tỏ được bản lĩnh của mình, không những bản
lĩnh để thực hiện tốt thiên chức của người mẹ mà còn khẳng định mình trong học tập,
lao động, sản xuất. Việt Nam là một quốc gia nhỏ bé ở phương Đông, chịu ảnh hưởng
nặng nề của tư tưởng phong kiến. Với người phụ nữ, mặc dù hiện nay tư tưởng đó đã
xóa nhòa đi để phù hợp với nhịp sống của thời đại nhưng ít nhiều quan niệm “trọng
nam, khinh nữ” vẫn còn đeo đẳng họ. Do đó, vị thế của người phụ nữ trong các quan
hệ xã hội vẫn còn phần nào bị hạn chế so với nam giới. Bởi vậy, người phụ nữ cần
được quan tâm và hỗ trợ nhiều hơn từ phía cộng đồng xã hội mà trước hết phải được sự
quan tâm từ phía Đảng và Nhà nước.
Bảo hiểm xã hội là một chính sách cơ bản trong hệ thống an ninh xã hội của
Đảng và Nhà nước đối với người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng. Trong
các giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước đã có
những chính sách xã hội phù hợp với điều kiện của lao động nữ. Trong lĩnh vực bảo
hiểm xã hội, lao động nữ được hoàn toàn bình đẳng với nam giới về nghĩa vụ tham gia
bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, chính sách bảo hiểm xã hội cũng dành nhiều sự quan tâm
đối với lao động nữ trong việc hưởng một số chế độ đặc thù.
Thời gian qua, pháp luật về bảo hiểm xã hội đã có những quy định riêng tương
đối phù hợp đối với những nét đặc thù của lao động nữ và có hiệu quả trong việc bảo
vệ lợi ích của họ, nhưng vẫn còn khá nhiều điểm cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp. Đó cũng là lý do mà tôi chọn đề tài “Bảo hiểm xã hội đối với lao
động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Trên

đề bảo đảm chế độ bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ là một trong những mục tiêu
lớn của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ngay từ khi có Hiến pháp năm 1946 Nhà nước ta đã rất quan tâm đến quyền lợi
của phụ nữ. Hiến pháp 1980, 1992 kế thừa và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ ở
mức độ cao hơn. Hiến pháp năm 2013 đã đề cập một cách toàn diện hơn bình đẳng
nam nữ, khẳng định quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân.
b. Cơ sở thực tế
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động trở nên bất ổn cho người lao
động làm công ăn lương nên cần có sự san sẻ rủi ro và chính sách trợ giúp của Nhà
nước và người sử dụng lao động đối với người già, trẻ em, người sinh con… giúp
thăng bằng thu nhập bị giảm sút hay bị mất. Với những đặc thù về giới như thể lực,
tâm sinh lý, cùng với chức năng làm mẹ và trách nhiệm chăm sóc gia đình nên lao
động nữ đã gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, cần phải có chế độ bảo hiểm xã hội phù
hợp cho lao động nữ tham gia quan hệ lao động.
4.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện lý luận và thực tiễn của bảo hiểm xã hội
đối với lao động nữ theo pháp luật Việt Nam, bao gồm: Nghiên cứu khái quát chung về
bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 3

lao động nữ. Từ đó, đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo
hiểm xã hội đối với lao động nữ.
5.


Con người muốn tồn tại và phát triển, trước hết phải lao động. Lao động để tạo

ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân cũng như gia đình. Tuy nhiên, trong thực tế
cuộc sống, đôi khi con người bị ảnh hưởng bởi những tác động bất lợi khách quan hoặc
chủ quan làm cho khả năng lao động của họ kém đi, thậm chí có thể mất đi. Khi đó, sẽ
kéo theo sự giảm hoặc mất thu nhập, khiến họ không tự đảm bảo cho cuộc sống của
mình được no đủ và hơn hết, họ rất cần sự tương trợ, đùm bọc từ phía xã hội.Sự tương
trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố
đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các
nhà nước dưới các chế độ khác nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ
sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống bảo hiểm xã hội đã có những cơ sở để hình
thành và phát triển.
Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỉ XIX là
công trình của Chính phủ Đức dưới thời thủ tướng Bismark (1883-1889) với cơ chế ba
bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động
trong một số trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ bảo hiểm xã hội này bao gồm: chế độ
bảo hiểm ốm đau (1883), bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già,
tàn tật (1889). Trước tác dụng tích cực của bảo hiểm xã hội trong quan hệ lao động,
nhiều nước bắt đầu áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội. Trong những năm 30 của thế kỉ
XX, mô hình này của Đức đã lan dần ra Châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi
đến Bắc Mỹ và Canada. Sau chiến tranh thế giới thứ II, bảo hiểm xã hội đã lan rộng
sang các nước dành được độc lập ở Châu Á, Châu Phi và vùng Caribe. Một số nước
còn mở rộng thêm những chế độ khác ngoài bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm
mới: Social Security (an sinh, an toàn xã hội). Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có
Công ước số 102 năm 1952 về an sinh xã hội. Hiện nay, trên thế giới nói chung, người
ta coi bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành của an sinh xã hội và được tất cả các
nước thừa nhận là một trong những quyền của con người.
Ở nước ta, xét về mặt lịch sử, bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm 30 của
thế kỷ XX, một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế độ
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp

đổi mới, cải cách chế độ bảo hiểm xã hội. Để cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Lao
động, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ Bảo
hiểm xã hội; Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều
lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ
quân đội nhân dân và công an nhân dân và Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về
việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Với sự sửa đổi, bổ sung một số điều của
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 6

Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 được
ban hành. Tiếp đó, trên cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập
WTO về chính sách an sinh xã hội cùng với sự chín muồi về nhận thức, về điều kiện
kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ
9, Quốc hội khóa XI nước ta đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội và có hiệu lực từ ngày
01/01/2007. Như vậy, việc xây dựng và pháp triển pháp luật bảo hiểm xã hội ở nước ta
luôn phản ánh và song hành với các nhu cầu của đời sống trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Có thể nói, nhờ bảo hiểm xã hội mà những khó khăn, bất hạnh của con
người được khắc phục và giảm thiểu, từ đó góp phần làm cho xã hội tồn tại và phát
triển trong thế ổn định và bền vững.
Khi bàn đến khái niệm bảo hiểm xã hội thì tùy theo góc độ nhìn nhận mà khái
niệm bảo hiểm xã hội được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo Từ điển tiếng Việt, bảo hiểm xã hội là “sự bảo đảm những quyền lợi vật
chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị
tai nạn lao động…”
Theo Từ điển Luật học, “bảo hiểm xã hội là bảo hiểm thu nhập cho người lao
động trong một số trường hợp do Nhà nước tổ chức quản lý”.
Xét dưới góc độ kinh tế, bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm bảo
thu thập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng
lao động.

là một điều thực sự cần thiết và quan trọng.
Về khái niệm bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, từ trước đến nay chưa có
một văn bản nào quy định về khái niệm này, nhưng từ định nghĩa chung về bảo hiểm
xã hội quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 ta có thể đưa ra
cách hiểu chung nhất về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ như sau:
Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho lao động nữ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Trong quan hệ bảo hiểm xã hội, khi lao động nữ tham gia bảo hiểm xã hội cũng
sẽ được hưởng quyền lợi như những người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khác.
Nhưng vì lao động nữ có những yếu tố đặc thù nên một số chế độ bảo hiểm xã hội chủ
yếu áp dụng cho họ và một số quyền lợi dành cho họ được xác định khác so với lao
động nam. Qua những quy định tại chương XII của Bộ luật Lao động 2012, Luật bảo
hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn, có thể thấy những chế độ bảo hiểm
xã hội mang tính chất đặc thù hay áp dụng đối với lao động nữ là các chế độ: chế độ
bảo hiểm ốm đau, chế độ thai sản và chế độ hưu trí.

Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 8

1.2.


Sự cần thiết phải thực hiện bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ
Khái niệm lao động nữ và tính đặc thù của lao động nữ:

Lao động nam và lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động đều được hưởng


Trang 9

Trước hết ta thấy, xét về mặt thể lực thì nữ giới yếu hơn nam giới nhưng bù lại
họ có đức tính kiên trì, khéo léo, cần cù, chịu khó… nên rất thích hợp đối với ngành
nghề, công việc đòi hỏi độ phức tạp, khéo léo, kiên trì như: dệt may, thêu, đan lát…
Ngoài ra, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nói đến lao động nữ là nói đến một nửa nhân
loại; và nửa nhân loại này đã sinh ra nửa nhân loại còn lại. Đó chính là thiên chức làm
mẹ của lao động nữ, một đặc thù rất quan trọng của lao động nữ. Tuy nhiên, trên thực
tế và theo truyền thống (đặc biệt ở những nước phương Đông) ngoài chức năng sinh
con, trách nhiệm thực hiện các công việc gia đình, chăm sóc con cái… phần lớn thường
do người phụ nữ đảm nhiệm. Và chính những công việc gia đình mất nhiều thời gian
đã phần nào làm giảm đi cơ hội học tập, thăng tiến của lao động nữ, dẫn đến sự bất
bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam ngày càng lớn. Trước đây, do tập tục,
quan niệm, thói quen, cùng tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong xã hội, người phụ nữ
thường chỉ được giao những công việc có tính chất nội trợ đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo
thủ công mà ít được tham gia công việc có tính chất linh hoạt, áp dụng công nghệ, máy
móc… Song ngày nay, vai trò của người phụ nữ ngày càng được thừa nhận và được
khẳng định trong mọi ngành, nghề, lĩnh vực hoạt động xã hội. Kinh tế thị trường phát
triển đã và đang tạo ra rất nhiều thuận lợi và cơ hội cho lao động nói chung và lao động
nữ nói riêng. Xu hướng phụ nữ tham gia vào quá trình sản xuất ngày càng tăng cao cả
về số lượng và chất lượng. Và với tính đặc thù của mình, lao động nữ cần được quan
tâm đúng mức từ phía Nhà nước, xã hội để họ thực sự có được vị trí độc lập trong đời
sống xã hội và gia đình, là nền móng vững chắc cho sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của
phụ nữ trong bối cảnh hội nhập hiện nay.


Sự cần thiết phải thực hiện bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ:

Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận

triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay và mai sau.
Tuy nhiên, với tính đặc thù của mình, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ đã
gặp không ít khó khăn khi tham gia vào các quan hệ lao động, cụ thể:
Thứ nhất, do lao động nữ có thể lực yếu hơn nam giới nên trong quá trình lao
động, thường khả năng bị ốm cao hơn đặc biệt khi làm việc trong các ngành nghề, công
việc nặng nhọc, độc hại. Mặt khác, với thiên chức làm mẹ của mình, khi con bị ốm
đau, lao động nữ thường phải nghỉ việc để chăm sóc con (thực tế lao động nam cũng
nghỉ việc để chăm sóc con khi con bị ốm song trong trường hợp này không nhiều, mà
chủ yếu là lao động nữ). Chính trong thời gian này, do phải nghỉ việc nên thu nhập của
lao động nữ tạm thời bị gián đoạn. Thêm vào đó, chi phí chữa trị bệnh tật cho bản thân
hay trong trường hợp con ốm tăng lên đáng kể. Do vậy, cần phải có nguồn đảm bảo
cho những chi phí tăng lên hoặc thu nhập bị mất đó, giúp lao động nữ nhanh chóng trở
lại làm việc, ổn định thu nhập.
Thứ hai, lao động nữ ngoài công việc hàng ngày, họ còn mang một trọng trách
rất lớn là tái sản xuất sức lao động cho toàn xã hội. Chỉ có lao động nữ mới có khả
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 11

năng mang thai và sinh nở. Trong suốt quá trình này, nguồn thu nhập của họ bị mất khi
công việc tạm thời bị gián đoạn, chi phí tăng lên đột xuất do người lao động cần phải
sắm sửa những vật dụng cần thiết cho việc nuôi con nhỏ và cần một chế độ ăn uống,
bồi dưỡng ở mức cao hơn bình thường. Do đó, để bù đắp khoản chi phí tăng thêm,
khoản thu nhập bị mất, mặt khác có điều kiện để chăm sóc sức khỏe của mình trong
thời gian mang thai, sinh nở, chuẩn bị những điều kiện tốt nhất cho sự ra đời của đứa
trẻ thì rất cần phải thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản đối với lao động nữ.
Thứ ba, cũng như những lao động khác, khi về già, không còn khả năng lao
động thì tiền lương hưu cũng là một khoản thu nhập chủ yếu và là chỗ dựa chính nhằm
đảm bảo cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho người lao động nữ trong suốt quãng


Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ theo quy định của ILO và pháp luật
của một số nước
Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ là vấn đề mà ILO và các quốc gia hết sức

quan tâm. Ngay từ khi mới thành lập (1919), ILO đã dành những Công ước đầu tiên để
đảm bảo quyền lợi cho lao động như Công ước số 3, số 4 (năm 1919), đặc biệt ngày
28/6/1952 ILO đã thông qua Công ước số 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội.
Công ước quy định 9 dạng trợ cấp gồm: trợ cấp ốm đau, chăm sóc y tế, trợ cấp thai sản,
tuổi già, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tử tuất, thất nghiệp và trợ cấp gia
đình. Trong đó, trợ cấp thai sản, tuổi già mang tính đặc thù, có những quy định riêng
đối với lao động nữ.
Đối với trợ cấp thai sản, các trường hợp được bảo vệ gồm: thai nghén, sinh đẻ
và những hậu quả tiếp theo và sự gián đoạn thu nhập nảy sinh. Công ước quy định mức
trợ cấp tối thiểu so với thu nhập trước đó của lao động nữ được hưởng là từ 45% 70%.
Về trợ cấp tuổi già, thì độ tuổi quy định không được quá 65, tuy nhiên cơ quan
có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn xét theo khả năng làm việc của
người cao tuổi trước đó. Và mức trợ cấp tối thiểu so với trước đó của đối tượng được
hưởng là 40%. Đồng thời để tránh sự lợi dụng tiền trợ cấp một khi chưa có đủ các điều
kiện ở mức độ thời gian làm việc và đóng bảo hiểm xã hội, Công ước có định ra thâm
niên tham gia bảo hiểm xã hội là không quá 30 năm đóng góp hoặc không quá 20 năm
thường trú. Với việc định ra các dạng trợ cấp bảo hiểm xã hội đặc biệt là các dạng trợ
cấp đặc thù dành cho lao động nữ, cũng như quy định các mức trợ cấp, cách thức trả
trợ cấp… Có thể coi Công ước số 102 như là một “Điều lệ mẫu về bảo hiểm xã hội” để
cho các thành viên của ILO áp dụng.
Hiện nay hầu hết pháp luật của các quốc gia đều có những quy định về bảo hiểm
xã hội và thực hiện bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ.
Đức là nước đầu tiên thiết lập bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, sự phát
triển của bảo hiểm được thực hiện từng bước: Bảo hiểm ốm đau và thai sản được thiết
lập năm 1883, Bảo hiểm tuổi già và tàn tật năm 1889, Bảo hiểm tai nạn lao động năm

thai sản, thời gian nghỉ đẻ là 28 tuần (4 tuần trước khi sinh và 24 tuần sau khi sinh). 10
tuần cuối có thể được dành cho người cha thay vì cho người mẹ; Người cha có quyền
nghỉ phép dành cho cha mẹ 2 tuần trong thời gian 14 tuần đầu tiên khi sinh. Trợ cấp
đối với kì nghỉ dành cho cha mẹ có thể được lựa chọn dành cho người cha hoặc người
mẹ đang làm công ăn lương hoặc lao động tập thể để tạo điều kiện cho họ chăm sóc
con dưới 9 tuổi trong thời gian nhiều hơn thời gian nghỉ phép dành cho cha mẹ. Với
trợ cấp hưu trí, gồm: trợ cấp tuổi già và được bổ sung bằng trợ cấp do đóng góp. Pháp
luật Đan Mạch ấn định tuổi nghỉ hưu chung cho cả hai giới là 67 tuổi. Để thay thế cho
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 14

tuổi nghỉ hưu khá cao này, nhiều hệ thống hưu trí trước tuổi đã được thiết lập. Năm
2004 giảm xuống 65 tuổi đối với trợ cấp hưu trí cơ bản. Mức trợ cấp tuổi già được chi
trả theo tỷ lệ toàn phần cho tất cả người Đan Mạch cũng như người nước ngoài trong
khoảng thời gian từ 15 tuổi đến 67 tuổi đã có 40 năm cư trú thường xuyên ở Đan
Mạch. Tuổi để được trợ cấp này trong một thời gian dài là 67, nhưng từ năm 1999, tuổi
đó là 65 trong khi tuổi để được trợ cấp bổ sung vẫn là 67; số tiền này (44.508 cua – ron
một năm), được tính toán lại hàng năm dựa theo chỉ số lương của nhân viên và công
nhân, chiếm khoảng 40% lương trung bình. Riêng với trợ cấp do đóng góp được chi trả
từ nguồn đóng góp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động,
người sử dụng lao động đóng 2/3, người lao động đóng 1/3. Trợ cấp đó có mức được
hưởng theo thời gian tham gia vào chế độ đó và mức đóng góp, là trợ cấp bổ sung cho
trợ cấp quốc gia.
Ở Trung Quốc, đối với bảo hiểm dưỡng lão: pháp luật Trung Quốc quy định
tuổi nghỉ hưu là 55 tuổi cho nữ công nhân viên chức làm việc trong các ngành chuyên
môn và quản lý, 50 tuổi cho công nhân nữ làm việc trong các khu vực sản xuất. Khi
đến tuổi về hưu và đã đóng góp không dưới 10 năm cho quỹ bảo hiểm, thì sẽ nhận 2
phần bảo hiểm: quyền lợi dưỡng lão cơ bản là 20% mức lương trung bình của tổng số

phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 16

CHƯƠNG 2
BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Lao động nữ cũng như mọi người lao động khác khi tham gia bảo hiểm xã hội
sẽ đương nhiên được hưởng tất cả các chế độ bảo hiểm xã hội khi có các điều kiện bảo
hiểm xã hội phát sinh. Tuy nhiên, khóa luận chỉ xin đề cập đến một số chế độ bảo hiểm
xã hội mang tính đặc thù thường đựơc áp dụng đối với lao động nữ, gồm: Chế độ nghỉ
để chăm sóc con ốm, chế độ thai sản, chế độ hưu trí. Trong ba chế độ này, lao động nữ
có những quyền lợi mang tính đặc thù hoặc được xác định khác so với lao động nam
nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về giới. Những quy định này nhìn ở một góc
độ nào đó là sự ưu tiên đối với lao động nữ song cũng cần phải hiểu rằng những chế độ
bảo hiểm xã hội áp dụng riêng đối với lao động nữ không phải là một đặc quyền, đặc
lợi hoặc là sự phân biệt đối xử mà chỉ là sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như
các yếu tố đặc thù của họ.
2.1.

Chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm

Ở nước ta, chế độ bảo hiểm đối với người lao động chăm sóc con ốm đau ra đời
cùng với sự ra đời của bảo hiểm xã hội. Lúc đầu, do quan niệm người phụ nữ phải chịu
trách nhiệm chính trong việc chăm sóc con và xem chế độ này như một sự ưu tiên đặc
biệt đối với lao động nữ. Vì vậy, về nguyên tắc chung, đối tượng hưởng bảo hiểm chỉ
bao gồm những người mẹ nghỉ việc làm để chăm sóc con ốm. Chỉ trong những trường

tối đa 15 ngày/năm nếu con từ đủ 3 tuổi đến 7 tuổi.
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã hết
thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ trong
khoảng thời gian nói trên.
Về mức hưởng, mức trợ cấp bảo hiểm khi nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau
bằng 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước
khi nghỉ việc.
Như vậy, có thể thấy các quy định về bảo hiểm ốm đau đối với lao động nữ đều
hướng tới mục đích nhằm tạo điều kiện cho các bà mẹ có thời gian chăm sóc con cái
tốt hơn và trong thời gian nghỉ việc để chăm sóc con ốm, người lao động vẫn có trợ cấp
để trang trải cuộc sống gia đình. So với các quy định cũ trước đây thì Luật bảo hiểm xã
hội năm 2014 đã cho thấy sự mới mẻ và tiến bộ phải kể đến ở một số quy định như: lao
động nữ được hưởng trợ cấp khi nghỉ chăm sóc con ốm dù là con thứ ba, thứ tư… mà
chỉ cần có con dưới 7 tuổi ốm đau, không phân biệt bao nhiêu con và con thứ mấy;
Tách chế độ bảo hiểm đối với lao động nữ khi thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa
gia đình ra khỏi chế độ ốm đau và đưa những quy định về chế độ này sang chế độ bảo
hiểm thai sản. Như vậy, về cơ bản, quy định trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về
chế độ nghỉ đẻ chăm sóc con ốm là hợp lý và mang lại ý nghĩa thiết thực cho lao động
nữ.
2.2.

Chế độ thai sản
Đây là chế độ có tính đặc thù với những quy định riêng chủ yếu áp dụng đối với

lao động nữ. Trong quá trình lao động khi gặp phải sự kiện mang thai, sinh con, nuôi
con… là những sự kiện gắn liền với thiên chức của người phụ nữ, người lao động
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 18

tháng; 40 ngày nếu thai từ 3 tháng đến dưới 6 tháng; 50 ngày nếu thai từ 6 tháng trở
lên. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc chết lưu
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 19

tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ trong tuần. (Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội
2014)
Trong khoảng thời gian này, lao động nữ được hưởng mức trợ cấp bằng 100%
mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề
trước khi nghỉ việc. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 6 tháng
thì mức hưởng là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng của các tháng đã đóng bảo
hiểm xã hội.
Quy định hiện nay của pháp luật là phù hợp trong việc bảo vệ sức khỏe cho lao
động nữ khi bị rủi ro trong quá trình mang thai. Với thời gian nghỉ dài hơn so với quy
định trước đó cho mỗi trường hợp như vậy sẽ bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ tốt hơn.
2.2.3. Chế độ bảo hiểm khi lao động nữ sinh con
Người phụ nữ gần đến ngày sinh rất cần được nghỉ ngơi để chuẩn bị cho việc
sinh đẻ cũng như để chuẩn bị cho đứa con ra đời. Sau khi sinh càng nhất thiết phải
được nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe và chăm sóc con sơ sinh. Nhằm đảm bảo sức
khỏe cho mẹ và con, đảm bảo chức năng làm mẹ được an toàn; cùng với Tổ chức Y tế
thế giới, các công ước của ILO đã quy định thời gian nghỉ sinh con bao gồm thời gian
nghỉ trước và sau khi sinh. Theo đó, thời gian nghỉ này sẽ được dựa trên cơ sở tính toán
một cách khoa học lượng thời gian cần và đủ để người phụ nữ ổn định nhịp sinh học
của cơ thể, đồng thời đủ để đứa trẻ phát triển, tách được mẹ; dựa vào điều kiện lao
động và môi trường sống của người lao động cũng như vào điều kiện kinh tế, chính trị,
xã hội của đất nước.
Ở nước ta, nhìn chung các quy định hiện hành về chế độ bảo hiểm thai sản nói
chung cũng như chế độ bảo hiểm khi lao động nữ sinh con nói riêng được đề cập khá

gặp rủi ro.
Thời gian hưởng chế độ thai sản khi lao động nữ sinh con tính cả ngày nghỉ lễ,
nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. Hết thời hạn nghỉ việc sinh con theo những quy định
này, nếu có nhu cầu thì người mẹ có thể nghỉ thêm với điều kiện được người sử dụng
lao động đồng ý nhưng không được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội. Trường hợp lao
động nữ muốn đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định thì phải báo
trước và được người sử dụng lao động đồng ý nếu đã nghỉ được từ đủ 60 ngày trở lên
tính từ khi sinh con và phải có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại
cho sức khỏe. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương, tiền công lao động nữ vẫn được
hưởng trợ cấp thai sản cho đến hết thời gian nghỉ theo quy định của pháp luật.
Về mức hưởng, lao động nữ khi sinh con, ngoài việc được hưởng trợ cấp thay
lương (100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6
tháng liền kề trước khi nghỉ việc) còn được trả trợ cấp một lần (bằng 2 tháng lương tối
thiểu chung cho mỗi con). Quy định như vậy là hết sức hợp lý và đúng đắn. Bởi khi
sinh con, mọi chi phí dành cho con và mẹ đều cao hơn mức bình thường. Bởi vậy, mục
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 21

đích cơ bản của khoản trợ cấp này là nhằm giúp người lao động có đủ điều kiện vật
chất để nuôi con và tăng cường sức khỏe sau khi sinh.
Như vậy, thời gian nghỉ khi sinh con không chỉ tùy thuộc vào điều kiện lao
động, môi trường sống mà còn tùy thuộc vào tình trạng thể chất và số con một lần sinh;
con còn sống hay con đã chết và đặc biệt, để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao
động, pháp luật còn quy định thời gian nghỉ theo thỏa thuận. Những quy định mở rộng
đó đã đáp ứng được thực tế đời sống cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nữ
vừa đảm bảo sức khỏe đồng thời vẫn phải đảm bảo được việc làm, thu nhập cũng như
các cơ hội khác.
2.2.4. Chế độ bảo hiểm khi lao động nữ nhận nuôi con nuôi

cho người lao động.
Theo Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, thời gian hưởng chế độ khi thực
hiện các biện pháp tránh thai như sau:
-

Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc 7 ngày;
Khi thực hiện các biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc 15 ngày.
Thời gian nghỉ việc cho các trường hợp trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và

nghỉ hàng tuần.
Mức trợ cấp bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo
hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trường hợp, người lao động đóng
bảo hiểm xã hội chưa đủ 6 tháng thì mức hưởng là mức bình quân tiền lương, tiền công
của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
2.2.6. Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
Ngoài các chế độ trợ cấp thai sản ở trên, theo quy định tại Điều 41 Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2014 và Điều 17 Khoản 2 Nghị định số 152/2007/NĐ-CP, những lao
động nữ chưa phục hồi sức khỏe sau thời gian hưởng chế độ khi bị sảy thai, nạo, hút
thai hoặc thai chết lưu, sinh con thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian
nghỉ từ 5 đến 10 ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng
tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức
khỏe cho mỗi lao động nữ do người sử dụng lao động và Ban chấp hành công đoàn cơ
sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời quyết định, cụ thể như sau:
-

Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ 2 con trở lên;
Tối đa 7 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
Tối đa 5 ngày đối với các trường hợp khác.
Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe một ngày bằng 30% mức lương cơ


định về phạm vi hưởng chế độ thai sản sẽ hoàn toàn khác nhau.
Về điều kiện hưởng trợ cấp thai sản, như đã nói pháp luật bảo hiểm xã hội Việt
Nam không khống chế số lần sinh con được hưởng bảo hiểm thai sản, song trong
trường hợp: lao động nữ sinh con và người lao động nói chung nhận nuôi con nuôi
dưới 6 tháng tuổi thì phải đóng bảo hiểm xã hôi từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12
tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; về vấn đề này pháp luật ở hầu hết
các nước cũng đều có quy định cụ thể về điều kiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội
trước khi hưởng chế độ thai sản. Chẳng hạn, pháp luật bảo hiểm xã hội của Thái Lan
quy định phải có 7 tháng đóng góp trong vòng 15 tháng trước khi sinh; Singapore quy
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp


Trang 24

định ít nhất phải có 6 tháng làm việc; Philipin quy định là 3 tháng phải có 12 tháng làm
việc trước đó… Tuy nhiên, pháp luật Singapore và Thái Lan lại có quy định lao động
nữ chỉ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc trường hợp sinh 2 trẻ đầu tiên, riêng với
pháp luật Philipin giới hạn trợ cấp thai sản được thực hiện trong 4 lần sinh. Trong khi
đó, Việt Nam và đa số các nước đều không quy định số lần sinh con được hưởng chế
độ thai sản. Các quốc gia cần căn cứ vào tình hình dân số thực tế của nước mình để tiếp
thu kinh nghiệm này và vận dụng một cách phù hợp nhằm mang lại hiệu quả thiết thực
cho việc thực hiện chính sách dân số của đất nước.
Về mức trợ cấp, nhận thấy các quốc gia cũng có sự khác nhau trong việc quy
định mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản. Việt Nam chúng ta quy định lao động nữ
nghỉ chế độ thai sản sẽ được hưởng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng
đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc, cao hơn mức trợ cấp tối
thiểu được quy định tại Công ước số 102 của ILO (45%-70%). Và cao hơn mức hưởng
của Thái Lan, chi bằng 50% tiền lương trong thời gian 90 ngày khi sinh con. Singapore
và Philipin cũng giống Việt Nam trong việc quy định mức hưởng 100% tiền lương cho
4 tuần trước và 4 tuần sau khi sinh (đối với Singapore) và cho 60 ngày nếu sinh thường

động nữ so với các nước trong khu vực.
Như vậy, có thể thấy về chế độ bảo hiểm thai sản thì ở hầu hết các quốc gia đều
quy định chế độ này với mục đích bù đắp thu nhập và bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ
khi thực hiện chức năng làm mẹ với quá trình mang thai, sinh con. Tuy nhiên, mỗi
quốc gia lại thiết kế cho mình những quy định khác nhau về phạm vi chi trả trợ cấp,
thời gian tham gia tối thiểu khi hưởng trợ cấp, mức và căn cứ quy định mức trợ cấp,
các khoản trợ cấp bổ sung. Từ góc độ bảo vệ lao động nữ, quy định chế độ bảo hiểm
thai sản trong pháp luật Việt Nam được đánh giá là có nhiều ưu điểm từ việc thiết kế
chế độ với phạm vi chi trả mở rộng, điều kiện hưởng, mức hưởng, và thời gian hưởng
hợp lí; tiếp thu được những điểm tiến bộ, bắt kịp được tinh thần chung của pháp luật
bảo hiểm xã hội các nước trên thế giới. Về tổng quan, có thể thấy quy định về chế độ
bảo hiểm thai sản trong pháp luật Việt Nam được coi là tiến bộ và đúng đắn.
2.3. Chế độ hưu trí
Trong hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí là chế độ dành cho những
người không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Vì vậy nó rất cần thiết và không thể
thiếu được vì bất cứ người lao động nào cũng sẽ đến lúc già yếu, hết tuổi lao động
nhưng vẫn có nhu cầu đảm bảo cuộc sống và lương hưu sẽ là nguồn thu nhập chính của
họ. Do đó, được hưởng trợ cấp khi về hưu là một trong những mục đích, động lực cơ
bản để người lao động tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội.
2.3.1. Chế độ bảo hiểm hưu trí bắt buộc
a.

Chế độ bảo hiểm hưu trí hàng tháng:

Tùy thuộc vào tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà người lao động
được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng đầy đủ hoặc chế độ hưu trí hàng tháng với mức
Sinh viên thực hiện: Phí Thị Vân Khóa luận tốt nghiệp




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status