bảo hiểm xã hội đối với người lao động - Pdf 22

Lời nói đầu
*****
Chúng ta đang sống trong thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ
đại cha từng có trong lịch sử đang dợc phát triển với những tốc độ mong muốn, sự
tiến bộ trong tất cả các các lĩnh vực khoa học. Số lợng tri thức tăng lên, kỹ thuật ngày
càng trở lên tinh vi và phức tạp. Kết quả là loài ngời đã bớc sang một kỷ nguyên mới
kỷ nguyên của tri thức khoa học và kỹ thuật.
Trong điều kiện XHCN, cách mạng khoa học kỹ thuật càng có triển vọng phát
triển rộng lớn. Nền kinh tế phát triển có định hớng đảm bảo cho sự phát triển không
ngừng của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng nâng cao đời sống cho ngời lao động
và góp phần xây dựng đất nớc thêm giầu mạnh.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Đảng và nhà nớc ta đã quan tâm
đến đời sống của ngời lao động nhất là ngời lao động lâu năm về nghỉ hu. Bởi vì
chính họ là những ngời đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển tổ quốc trong
những năm qua.
Đảng và nhà nớc ta đã từng bớc hoàn chỉnh hệ thống BHXH trong đố có quy
định về chế độ chợ cấp hu trí cho ngời lao động đã về hu. Đặc biệt nhà nớc tạo mọi
điều kiện cho ngời về hu có cuộc sống tốt nhất.
Quán triệt t tởng và chính sách của Đảng và nhà nớc, BHXH Hà Tây luôn làm
tròn trách nhiệm của mình, chỉ đạo các phòng ban cấp dới thi hành.
Phòng BHXH Thanh Oai nằm dới sự chỉ đạo của BHXH Hà Tây luôn đi đầu h-
ởng ứng và làm tròn chách nhiệm của mình trong việc thực hiện chế độ hu trí và
đảm bảo đời sống tinh thần và vật chất cho những ngời về hu trong huyện.
1
Phần I
Khái quát chung về BHXH
I. Vai trò của BHXH đối với ngời lao động và ngời sử
dụng lao động trong cơ chế thị trờng
BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đã đợc thực
hiện ở tất cả các nớc trên thế giới. Từ khi ra đời BHXH đã thể hiện đợc vai trò của
mình đối với ngời lao động và ngời sử dụng lao động.

khó khăn lại càng khó khăn hơn. Những nhu cầu của họ không những không giảm
mà lại còn tăng thêm.Trong khi đó tiền lơng lại không đợc hởng. Từ đó dẫn ngời lao
động vào con đờng cùng cực.
Vì thế mâu thuẫn chủ thợ ngày càng diễn ra gay gắt. giới thợ liên kết đấu tranh
đòi đợc hởng quyền lợi trợ cấp khi không may khặp rủi ro Những cuộc đấu tranh
này gây ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất làm giảm năng xuất và chất lợng của sản
phẩm. Do vậy nhà nớc đã đứng ra làm trung gian điều hoà mâu thuẫ này bằng cách
bắt buộc chủ và thợ mỗi bên đều phải đóng góp một phần tiền vào quỹ BHXH để trợ
cấp cho ngời lao động để họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác. Từ khi có BHXH
mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ đã đợc điều hoà. Giới chủ không phải lo lắng ngời lao
động biểu tình bãi công. Từ đó ngời lao động sẽ yên tâm làm việc với năng xuất chất
lợng cao. Tạo ra nhiều của cải vật chất cho giới chủ. Lợi nhuận màgiới chủ kiếm đợc
sẽ ngày một nhiều hơn
3
II. Bản chất của BHXH
Bản chất của BHXH đợc thể hiện rõ ở những nội dung sau:
BHXH là nhu cầu khách quan và đa dạng, phức tạp của XH, nhất là trong XH
mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan hệ thuê mớn lao
động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa
dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH
không vợt quá trạng thái kinh tế của mỗi quúc gia.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa ba bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên đợc BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là ngời lao động hoặc cả ngời lao động và ngời
sử dụng lao động. Bên BHXH thông thờng là cơ quan chuyên trách do nhà nớc lập ra
và bảo trợ. Bên đợc BHXH là ngời lao động và gia đình họ có đủ các điều kiện dàng
buộc cần thiết.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con ngời nh:
ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc có thể là những trờng hợp xảy ra

Năm 1946 chính phủ đã ban hành một lạot các sắc lệnh quy định về các chế
độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hu trí cho công nhân viên chức nhà nớc (sắclệnh 29/SL
ngày 11-3-1947, sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950, sắc lệnh 77/SL ngày 22-5-1950) cơ
sở pháp lý tiếp theo của BHXH đợc thể hiện trong hiến pháp năm 1959, hiến pháp
này đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền đợc hởng trợ cấp BHXH quyền này
5
đợc cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời vè BHXH đối với công nhân viên chức nhà nớc
ban hành kèm theo nghị đinh 218/CP ngày 27-12-1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân
ban hành kèm theo nghi định 161/CP ngày 30-10-1964.
Trong suốt những năm kháng chiến chống sâm lợc chính sách BHXH nớc ta
đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sông cho công nhân viên chức,
quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức ngời sức của cho
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân sâm lợc.
Từ năm 1986 Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đỏi nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Sự
thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đỏi tơng ứng về chisnh sách XH
nói chung và chính sách BHXH nói riêng.
Hiến pháp năm 1992 có ghi rằng: Nhà nớc thực hiện chế độ BHXH đối với
công chức nhà nớc và ngời làm công ăn lơng. Khuyến khích phát triển các hình thức
BHXH khác đối với ngời lao động.
Trong văn kiện đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ cần đỏi mới
chính sách BHXH theo hớng mọi ngời lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành
phàan kinh tế đều có nghĩa vụ đóng BHXH. Thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi
ngân sách nhà nớc.
Văn kiện đại hội Đảng VIII có ghi: Mở rộng chế độ BHXH đối với ngời lao
động thuộc các thành phần kinh tế .
Các văn bản trên của Đảng và nhà nớc là những cơ sở pháp lý quan trọng cho
việc đổi mới chính sách BHXH nớc ta theo cơ chế thị trờng.
Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1-1-1995 chính phủ đã ban
hành nghị định 12CP ngày 26-1-1995 về điều lệ BHXH đối với ngời lao động trong

bình quân tiền lơng tháng làm căn cứ đóng BHXH, sau đó cứ thêm 1năm đong
BHXH tính thêm 2%. Mức lơng hu hàng tháng tối đa bằng 75% mức bình quân của
tiền lơng tháng làm căn cứ đóng BHXH.
- Đối với ngời lao động hởng chế độ hu trí hàng tháng với mức lơng hu thấp
hơn theo quy định tại nội dung của điều khoản 2 thì cách tính lơng hu nh quy định tại
điểm thứ nhất của điều khoản này, nhng cứ mỗi năm nghỉ việc hởng lơng hu trớc tuổi
so với quy định tại mục thứ nhất và thứ hai của điều khoản 1 thì giảm 2% mức bình
quân của tiền lơng hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH. Mức lơng hu thấp nhất cũng
bằng mức tiền lơng tối thiểu.
b. Ngoài lơng hu hàng tháng đối với ngời lao động có thời gian đóng BHXH
trên 30 năm khi nghỉ hu đợc trợ cấp một lần theo cách tính nh sau:
Từ năm thứ 31 trở lên mối năm 12 tháng đóng BHXH đợc nhận bằng một nửa
mức bình quân của tiền lơng tháng làm căn cứ đóng BHXH nhng tối đa không quá
năm tháng.
c. Ngời lao động hởng lơng hu hàng tháng đợc hởng bảo hiểm y tế do quỹ
BHXH trả.
d. Ngời lao động hơng lơng hu hàng tháng khi chết gia đình đợc hởng chế độ
tử tuất.
4. Ngời lao động nghỉ việc nhng cha đủ tuổi đời để hởng chế độ hu trí hàng
tháng theo quy định tại nội dung thứ nhất và thứ 2 của điều lệ thì đợc hởng trợ
cấp một lần cứ mỗi năm đóng BHXH đợc tính bằng một tháng mức bình quân
8
của tiền lơng tháng làm căn cứ đóng BHXH hoặc có thể chờ đến khi đủ tuổi đời
thì đợc hởng chế độ hu trí hàng tháng.
5. Cách tính mức bình quân tiền lơng tháng làm căn cứ đóng BHXH để làm
cơ sở tính lơng hu tháng, trợ cấp một lần khi nghỉ hu quy định tại nội dung thứ
ba và thứ t của điều lệ này quy định nh sau:
- Ngời lao động đóng BHXH theo các mức tiền lơng tháng trong các hệ thống
thang lơng, bảng lơng do nhà nớc quy dịnh thì tính bình quân ra quyền các mức tiền
tháng làm căn cứ đóng BHXH trong 5 năm cuối trớc khi nghỉ hu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status