Phạm Tiến Duật (1941-2007)
Sau nhiều ngày hôn mê, tác giả của những vần thơ Trường Sơn đã lặng lẽ về cõi vĩnh hằng,
chấm dứt chuỗi ngày vật lộn với căn bệnh ung thư phổi. Ông trút hơi thở cuối cùng vào
khoảng 8h50 sáng 4/12, tại Bệnh viện Quân đội 108 (Hà Nội).
Nhà thơ Phạm Tiến Duật. Ảnh: Nguyễn Đình
Toán.
Tác giả Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây bị phát hiện ung thư phổi hồi tháng 7/2007.
Trong những ngày ông nằm viện, người thân và đồng nghiệp đã hoàn tất phần 1 Tuyển tập Phạm
Tiến Duật để nhà thơ kịp chứng kiến trước khi về với cát bụi.
Sách ra mắt ngày 17/11, bạn bè mang sách vào tận giường bệnh, đọc cho nhà thơ nghe những
vần thơ của chính ông.
Chiều 18/11, O Nhị, cô gái Thạch Nhọn - nguyên mẫu trong bài thơ nổi tiếng Gửi em cô thanh niên
xung phong của ông - đã được đón ra Hà Nội để gặp nhà thơ lần cuối.
Trong cuộc gặp gỡ này, nhà thơ không nói gì được nữa. Ông chỉ có thể đáp lại người con gái
thanh niên xung phong năm xưa bằng ánh mắt khép mở chấp chới và bàn tay nắm chặt.
Ngoài tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp, trong những ngày cuối đời, Phạm Tiến Duật đã nhận
được Huân chương Lao động hạng Nhì dành cho những đóng góp to lớn của ông với thơ ca dân
tộc.
Tuyển tập Phạm Tiến Duật phần 1 (thơ và trường ca) cũng được trao Giải thưởng văn học 2007
của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh ngày 14/1/1941 tại Thanh Ba, Phú Thọ, trong một gia đình có cha là
nhà giáo còn mẹ làm ruộng.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông nhập ngũ và chiến đấu hơn chục năm trời trên
tuyến đường Trường Sơn khốc liệt.
Hoà bình lập lại, nhà thơ trở về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam. Trước khi lâm
trọng bệnh, ông là phó trưởng ban đối ngoại của Hội Nhà văn.
Những năm tháng chiến tranh để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ Phạm Tiến Duật. Với những bài thơ
nổi tiếng như Nhớ, Tiểu đội xe không kính, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong..., Phạm
Tiến Duật được coi là "ngọn lửa đèn" của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ.
Là sinh viên Văn Đại học sư phạm Hà Nội, khóa 1961-1964, Phạm Tiến Duật tình nguyện nhập
Đất cứ bình yên, sông cứ xuôi.
Cái thế chân kiềng núi cứ ba
Trụ trời trụ đất đứng nguy nga
Dưới chân núi đó nhà em ở
Ngọn khói bồn chồn thung lũng xa.
TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hòang Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy