ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ MỚI - Pdf 38

ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG
TRONG THƠ MỚI
I. MỞ ĐẦU
Vào những năm 60-70 của thế kỷ XIX văn học Pháp bàng hoàng trước sự
xuất hiện của trào lưu thơ tượng trưng gây nên cơn địa chấn làm lay động thi đàn.
Những thi tài như Charles Baudelaire, Paul Varlaire, Arthur Rimbaud,…đã tập hợp
một lực lượng nhà thơ trẻ cùng giương cao ngọn cờ tượng trưng chủ nghĩa. Chủ
nghĩa tượng trưng không chỉ gieo mầm, nở hoa kết trái trên mảnh đất văn học mà
còn mở rộng địa hạt sang các lĩnh vực như sân khấu, hội họa, âm nhạc, trở thành
hiện tượng văn hóa trên toàn Châu Âu. Bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa tượng
trưng đã lan tỏa, tìm được một vị thế của mình trong thơ ca hiện đại phương Đông
trong đó có Việt Nam.
Ảnh hưởng là một quy luật phổ biến trong giao lưu văn hóa. Trong văn học,
việc tiếp nhận và tiếp biến những yếu tố bên ngoài là điều không thể thiếu để phát
triển. Bằng một cuộc cách mạng, Thơ mới Việt Nam (1932-1945) đã đi vào quỹ đạo
hiện đại, làm bừng nở một vườn thơ dậy cả sắc hương. Nơi đây, hội tụ những tinh
hoa văn hóa Đông - Tây trong cốt cách, tâm hồn việt. Đó là những thành quả của
những năm tháng cách tân, vun trồng không nghỉ và sáng tạo của người nghệ sĩ.
Chưa bao giờ thấy thi ca nở rộ nhiều khuynh hướng như: trường thơ loạn của Hàn
Mạc Tử, Chế Lan Viên, trường thơ tượng trưng của Bích Khê…Trong quá trình tiếp
biến chủ nghĩa tượng trưng, Thơ mới có những phát triển vượt bậc về nghệ thuật.
Chỉ hơn 10 năm, phong trào Thơ mới đã “trình chánh giữa làng thơ” một dàn hợp
xướng mang phong cách hiện đại: Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Vũ Hoàng Chương, Đoàn Phú Tứ…
Với những vấn đề trên chúng tôi đã chọn đề tài “Dấu ấn chủ nghĩa tượng
trưng trong Thơ mới Việt Nam 1932-1945” với mục đích tìm hiểu nghệ thuật Thơ
mới trong sự tiếp biến chủ nghĩa tương trưng.
Đi tìm ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với phong trào Thơ mới
Việt Nam, TS. Trần Huyền Sâm phát hiện: “Mỗi nhà thơ ảnh hưởng của chủ nghĩa
tượng trưng ở mỗi phương diện khác nhau, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của
mình. Và ngay trong mỗi nhà thơ, tính chất lãng mạng và tượng trưng luôn giao

1932-1945. Bằng quan niệm mới về nghệ thuật, chủ nghĩa tượng trưng “mở ra một


thế giới cho tư duy thơ”, giúp chúng ta đi sâu vào cõi vô tận, khám phá những gì mơ
hồ, huyền bí nhất trong thiên nhiên, tạo vật và lòng người.
1. Chủ nghĩa tượng trưng có gì khác so với chủ nghĩa lãng mạng trong
quan niệm sáng tác nghệ thuật?
Chủ nghĩa tượng trưng cho rằng, bản thân thế giới là “không rõ ràng”, người
nghệ sĩ phải biết “tìm thấy trong cuộc phiêu lưu của thơ ca cách thức khám phá ra
cái điều chưa được biết tới”. Người nghệ sĩ không chỉ cảm thấu thế giới bên ngoài,
mà còn nhận biết thế giới bên trong; không chỉ nắm bắt cái hiện hữu, mà còn nghe
thấy, cảm thấy cái vô hình, cái bí ẩn, mơ hồ nằm trong một màn sương dày đặc. Để
tìm ra một sợi dây liên hệ giữa thế giới vô thức và thế giới hữu thức, người nghệ sĩ
phải có một cái nhìn “thấu thị” xuyên suốt các sự vật để có thể “chọc thủng” màn
sương bí ẩn, mơ hồ đó, nhằm tìm ra chân lý đích thực của nghệ thuật. Nói như nhà
thơ tượng trưng Bỉ Vecharen: “Tượng trưng là sự thăng hoa của tri giác và cảm
giác, nó không chứng minh gì, mà làm nảy sinh một trạng thái ý thức, nó phá vỡ
mọi ngẫu nhiên, nó là biểu hiện cao nhất tinh thần mà nghệ thuật có thể được”. Các
nhà tượng trưng cho rằng, tính chất cảm xúc, trữ tình của chủ nghĩa lãng mạng
không thể giúp họ hoàn thành thiên chức của người nghệ sĩ, họ phải cần đến “sự
tổng hòa các giác quan”. Phát huy tối đa sự cộng hưởng giữa các giác quan ấy, nó
có thể mang lại cho chúng ta một bản nhạc huyền diệu trong sự giao thoa giữa các
âm thanh, màu sắc, ánh sáng và hương thơm.
Đây là một đặc điểm vượt xa thi pháp lãng mạn, tiến đến một phương pháp
mới trong nhận thức thực tại: không giải bày tình cảm một cách trực tiếp, không
miêu tả, giải thích sự vật một cách lồ lộ, rõ nghĩa. Ở đây, “ý nghĩa được gợi nên bởi
sự tượng trưng hoàn toàn không tồn tại trong chính ý tưởng đó; nó được nảy sinh từ
sự xích lại gần nhau của những cảm giác và những thực tế cụ thể thường là tách biệt
với nhau”.
Chủ nghĩa lãng mạng thường thiên về cảm xúc, tính trữ tình; chủ nghĩa tượng

Trong một âm thanh duy nhất, sâu thẳm tối đen
Mênh mông như ánh sáng, mênh mông như bóng đêm
Hương sắc và âm thanh trong không gian tương ứng
Quả thật, bằng “cảm quan về cuộc sống sâu xa của tinh thần” Baudelaire đã
đánh thức vùng vô thức ngủ yên trong con người trở nên linh động, tỏa sáng soi rọi
vào cái đẹp huyền diệu, tiềm ẩn đằng sau sự vật, hiện tượng. Baudelaire cho rằng
“Cái đẹp bao giờ cũng lạ lùng…cái bất ngờ trong cuộc sống bên ngoài, cuộc sống
bên trong, ở những trường hợp giữa hai cuộc sống ấy”. Nhà thơ tượng trưng không
chỉ miêu tả hiện thực khách quan, không diễn giải, phơi bày tình cảm mà khám phá,
nắm bắt lòng người, tạo vật thông qua biểu tượng bằng phép loại suy. Đây là một
nguyên tắc mĩ học của thơ tượng trưng vượt qua thi pháp lãng mạng, làm nảy sinh
ra một lối tư duy mới trong nhận thức thế giới.
Để mở cánh cửa của một cõi vô tận đó, Baudelaire đã phát huy tối đa phương
thức kết hợp tượng trưng: “Ông táo bạo kết hợp những hình ảnh cụ thể hay những
cảm giác, chăm chút những phép tỉnh lược và tạo ra như vậy những liên kết có chất
nhạc và ngữ nghĩa mới. Từ đó nảy sinh một quan hệ mới với thế giới mà trong đó
có cảm giác lẫn lộn với nhau và những mâu thuẫn đớn đau biến mất. Tâm hồn có
thể “uống ừng ực hương thơm, âm thanh và màu sắc”.
Tóm lại, thơ tượng trưng là một trào lưu văn học hiện đại. Trong quá trình
sinh thành, phát triển nó gặp không ít cản trở, phản ứng từ nhiều phía. Nhưng vượt
qua mọi thử thách, chủ nghĩa tượng trưng đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình
đoạn tuyệt hẳn với nền văn học truyền thống mở ra một nền văn học mới, hiện đại.
2. Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong phong trào Thơ mới
Nằm trong dòng chảy của quá trình hiện đại hóa văn học trong nửa đầu thế kỷ
XX thơ ca Việt Nam không ngừng vận động và phát triển tạo nên những cú nhảy
ngoạn mục, đem đến nhiều biến chuyển sâu sắc, rộng lớn cả chất lẫn lượng. Đặc
biệt, phong trào Thơ mới đã làm nên cuộc cách mạng trong lịch sử thơ ca dân tộc,
đánh thức “bình minh thơ ca văn học hiện đại”. Phong trào thơ mới quy tụ một lực
lượng trí thức Tây học trẻ, táo bạo, có tâm huyết muốn cách tân đem lại những cấu
trúc hiện đại phương Tây vào thi ca Việt Nam. Trong sự va chạm với tiếng nói văn

tính chất hiện đại của thơ”. Trong quan niệm sống và yêu “cùng với Baudelaire,
Rimbaud, Verlaine… Xuân Diệu của chúng ta hăng hái, say mê đi tìm ảo ảnh trong
mộng để an ủi hồn mình, muốn đến với cả hoan lạc thân xác cho lịm đi những
khoắc khoải giữa đời thường”
Trăng, vú mộng đã muôn đời thi sĩ
Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy
(Ca tụng – Xuân Diệu)
Xuân Diệu nói đến thân xác nhưng không gợi cảm giác sa đọa, trụy lạc, chán
chường. Đến “Trường thơ loạn” cái mực thước, thanh tao, trang nhã của thơ truyền
thống không còn chỗ đứng. Cái đẹp giờ đây mở rộng biên độ nội hàm, tiếp nhận
những yếu tố quái dị, tính dục. Trong lời tựa cho tập “Điêu tàn”, Chế Lan Viên viết:
Trong thơ ta dân Chàm luôn sống mãi
Trong thơ ta xương máu khóc không trôi
Để phục sinh một thời vàng son của dân tộc Chăm - Pa, nhà thơ quay ngược
cổ máy thời gian về quá khứ. Ông tìm thấy những rung cảm trong sự tuyệt vọng, hãi
hùng, kinh dị điên cuồng với muôn vàng âm thanh man rợ: “Nó gào vỡ sọ, nó thét
đứt đầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy”.Chúng có sức thu hút ghê
gớm và trở thành biểu trưng nghệ thuật đầy cám dỗ. Các nhà thơ loạn truy tầm cái
đẹp từ trong cái chết, trong trạng thái “máu cuồng và hồn điên”.Chính Hàn Mạc Tử
thừa nhận khi sáng tác, thi sĩ ở trạng thái “mê sảng”, “chiêm bao”, “mất trí” tức là
dựa vào tìm thức, trực giác nảy sinh tức thời không có sự can thiệp của lý trí:


Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da
(Rướm máu – Hàn Mạc Tử)
Nói đến dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới, chúng ta không thể
bỏ qua quan niệm “tương ứng cảm quan” của Baudelaire. Các nhà thơ mới đã phối

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
(Say trăng-Hàn Mạc Tử)
Trăng trong thơ Hàn Mạc Tử không đem lại cảm giác thanh bình, tĩnh lặng
như trong thơ thiền hay làm chứng nhân cho lời thề nguyền, hẹn ước của đôi tình
nhân Kim - Kiều trong “Truyện Kiều”: “Vầng trăng vằng vặc giữa trời. Đinh ninh
hai miệng, một lời song song”. Nó là bầu khí quyển bao quanh mọi cảm giác, suy
tưởng có khi nó lẫn vào thân xác, tan biến trong linh hồn để rồi thi sĩ mửa ra toàn là


máu, toàn trăng, toàn hồn. Ba biểu tượng ấy biến hóa vô cùng: khi hữu hình, khi vô
hình, khi mê hoặc, khi kinh hoàng, khi trần tục, khi thiêng liêng. Song chúng thể
hiện sự nhất quán trong sáng tạo nghệ thuật bởi thi nhân muốn làm người “khách lạ
đi giữa nguồn trong trẻo” và hát vang “âm điệu thiêng liêng khi máu cuộn rền vang
dưới ngòi bút”. Do đó không có gì lạ khi ta bắt gặp trong thơ Hàn Mạc Tử một thế
giới tràn ngập ánh sáng của trăng, một điềm ác mộng của hồn, một niềm đau
thương, nhiệm màu của máu và ẩn sau đó là lòng yêu cuộc đời. Lòng yêu ấy lại ẩn
dấu trong những ý thơ lạ ngỡ như điên rồ.
Bích Khê cũng tìm đến với sọ người nhưng nó không đem lại cảm giác ghê
rợn, chết chóc điên cuồng như Chế Lan Viên. Tác giả không mô tả trực tiếp mà chỉ
đưa ra những gợi ý liên tưởng, loại suy nên sọ người trong mắt thi nhân hóa thành
“bình vàng”, “chén ngọc”, “hồ nguyệt” có sức ám thị người đọc. Theo Đỗ Lai
Thúy: “Từ Bích Khê trở về sau, ưa dùng những biểu tượng trùng phức và gợi ý”.
Bởi lúc này, cái nhìn thế giới của nhà thơ không còn đơn tuyến mà đa diện, không
chỉ hữu thức mà cả vô thức, nên “thơ là sự giăng mắt đi về giữa hai thế giới. Biểu
tượng thi ca, bởi vậy phải chuyển từ đơn sang phức”. Cho nên đối diện với cái sọ
người, Bích Khê liên hệ tới “tiền thân” của nó. Từ đó, cái sọ người liên tục chuyển
kênh tạo ra những hình ảnh kì ảo, lạ lẫm:
Ôi khối mộng của hồn thơ chếch choáng!
Ôi buồn xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạc mất
Tôi muốn buột gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Tất nhiên, vần bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng trong thơ, nhưng đến
Thơ mới, vần không còn là một yếu tố mà nghệ sĩ phải “nô lệ” chúng. Vần bị lôi
kéo bởi nhạc lòng, bởi cảm hứng êm dịu hoặc cuồng nhiệt của nhà thơ. Bởi vậy mà
âm nhạc trong thơ được thể hiện muôn hình vạn trạng như thế giới tâm hồn đa dạng
của thi nhân. Đây là một cách tân lớn trong sự thể hiện cảm xúc và quan niệm thẩm
mỹ của thơ ca Việt Nam.
Âm nhạc đã mê hoặc, dẫn dắt thi sĩ bước đi như người mộng du vào thế giới
thực hư, huyền ảo của miền quá khứ trong cảm xúc bồng bềnh, chơi vơi:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lên lòng chơi vơi
(Nhị hồ-Xuân Diệu)
Nếu Xuân Diệu học tập thơ tượng trưng Pháp cách tạo nhạc cho thơ ở bước
thể nghiệm thì đến Bích Khê, Xuân Thu nhã tập được triển khai trên bình diện rộng
với những phá cách táo bạo…Bích Khê có hẳn một bản nhạc đàn được phối kết từ
nhiều thanh âm: Mộng cầm ca, Tỳ bà, Tiếng đàn mưa... Với nhạc thi sĩ thể hiện
cách thẩm âm độc đáo, lạ lẫm, không bằng thính giác mà bằng cõi lòng, bằng tâm
hồn siêu thăng trong trạng thái ngưng động đặc biệt:
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà.
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! Đừng động… có nhạc trong giây!
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây
Nhạc vô cung hường, nhạc vô đào động
Ôi nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy sương…
Hàn Mạc Tử cho rằng: “Thi sĩ Bích Khê có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo,
nhìn vào thực tế, thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô
sang địa hạt huyền diệu”. Nhạc chính là thế giới huyền diệu đó - một thế giới thăng

nhịp độ phát triển và hòa vào dòng chảy của thi ca hiện đại thế giới. Đến nay, chúng
ta vẫn còn ngỡ ngàng, thán phục trước sự sáng tạo vô biên của các thi sĩ thời bấy
giờ. Chỉ hơn một thập kỷ đón cơn gió ngược từ phương Tây thổi lại mà cánh diều
Thơ mới đã vụt bay cao. Đặc biệt, là sự gặp gỡ thơ tượng trưng Pháp là tâm điểm
thu hút các nhà thơ trẻ, giúp họ tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa thơ ca dân
tộc.Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu: Thơ mới Việt Nam chưa thể hình thành
một chủ nghĩa tượng trưng như ở phương Tây. Song không thể phủ nhận chủ nghĩa
tượng trưng đã in dấu ấn rõ nét và góp phần làm nên giá tri của Thơ mới.

III. KẾT LUẬN
Chủ nghĩa tượng trưng đã ngự trị ở phương Tây gần nửa thế kỷ và ảnh
hưởng sâu sắc đến các nước phương Đông, đặc biệt là trào lưu Thơ mới Việt Nam.
Bằng quan niệm mới về nghệ thuật, chủ nghĩa tượng trưng có khả năng “mở ra một
thế giới cho tư duy thơ”, giúp chúng ta đi sâu vào cõi vô tận, khám phá những gì mơ
hồ, huyền bí nhất trong thiên nhiên, tạo vật và lòng người. Một số nhà nghiên cứu
cho rằng, phong trào Thơ mới (vào giai đoạn cuối) thực chất là một cuộc hôn phối
siêu đẳng giữa tinh hoa thơ tượng trưng Pháp, tinh hoa thơ Đường với tinh hoa của
thơ cổ điển Việt Nam. Chủ nghĩa tượng trưng tuy có những nét cảm quan của chủ
nghĩa suy đồi nhưng tiềm ẩn trong đó có một sức mạnh diệu kỳ có khả năng cải tạo
cuộc đời, tác động tinh thần con người, thậm chí như một hệ nhãn quan, một hoạt
động kêu gọi đổi mới xã hội, chống lại thực tại tư sản - một thực tại thù địch với
nghệ thuật và các lý tưởng tinh thần. Chính vì thế, chủ nghĩa tượng trưng đã tìm
được tiếng đồng vọng ở cả bốn phương và ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của
nghệ thuật ở thế kỷ XX. Chủ nghĩa tượng trưng xâm thực vào Thơ mới Việt Nam để


lại những dấu ấn đậm nhạt khác nhau ở mỗi nhà thơ, góp phần đẩy nhanh tốc độ
phát triển, hiện đại hóa thơ ca dân tộc. Hơn nữa các nhà thơ mới đã bắt được nhịp
cầu khi “tìm đến trường thơ tượng trưng của Pháp như là tìm đến nơi hội ngộ tuyệt
vời giữa tư duy thơ truyền thống nghìn xưa của phương Đông với tư duy hiện đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status