A- PHẦN MỞ ĐẦU :
1–LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Chủ nghĩa Hậu hiện đại là vấn đề không mới nhưng nó vẫn ảnh
hưởng và còn đang là mốt đối với một nhóm nhỏ văn nghệ sĩ ở ta.
Viết về nó là khó, không phải vì cao siêu mà vì nó không thống
nhất . Tinh thần chung là muốn vượt qua giới hạn của chủ nghĩa
hiện đại nhưng hiện đại lại là một khái niệm đa nghĩa.
Về mặt nghệ thuật, nó nối tiếp tinh thần của những trào lưu tiền
phong thuộc chủ nghĩa hiện đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX .
Về tư tưởng nó chống lại tinh thần hiện đại của chủ nghĩa duy lý
Cận đại, học thuyết Khai sáng. Riêng về mặt triết học, nó thuộc
loại phản triết học bởi nó không tin vào khả năng của triết học với
tư cách sự thống nhất lý luận và thế giới quan.
Theo Lyotard, chúng ta đang sống trong thời hậu hiện đại, thời
mà tất cả những lý thuyết có từ thời Ánh sáng đều đã bị đổ vỡ.
Theo ông, tinh thần hậu hiện đại sinh ra là để chống lại sự độc tài
của các chủ thuyết mà ông gọi là các siêu văn bản ; chống lại
quan niệm rằng trật tự và ổn định là luôn luôn tốt và coi sự hỗn
loạn, bất ổn là luôn luôn xấu.
Chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng như mọi trào lưu đã xuất hiện khác
đều có phần có lý. Tư tưởng chống giáo điều, chống khuôn mẫu
xơ cứng, áp đặt; đấu tranh cho bình đẳng, dân chủ, vai trò cá
nhân; phá vỡ những quy phạm nghệ thuật mòn cũ… là những mặt
tốt.
Chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện ở Việt Nam khá muộn. Phải
đến những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ XX, khi những tác phẩm
của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài ra đời, màu sắc hậu
hiện đại mới thể hiện trong văn xuôi Việt. Khi xét về biểu hiện của
chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam .
Chủ nghĩa hậu hiện đại theo tác giả Nguyễn Hưng Quốc gồm ba
nội dung chính :
khác.
Họ nhận thức rằng họ chỉ tồn tại trong vùng giao thoa của sự
tương phản và những giá trị tương đối. Đối với họ, thế giới không
phải là một thứ hiện thực đơn giản và đồng nhất trong nhãn quan
của mỗi người.
Họ không còn thực sự tin vào một thứ quy luật nào to lớn bao
trùm tất cả, mà tin vào những thí nghiệm và ứng dụng ở quy mô
nhỏ.
Bởi thế, mỗi người có thể cùng lúc nhìn thấy nhiều thế giới
khác nhau và có thể bị chi phối cùng lúc bởi nhiều hệ quy chiếu
khác nhau. Họ thấy rằng bản thể và thế giới là những thứ hiện
thực đa tầng và đa phương.
Còn vấn đề nào ta cần quan tâm và chủ nghĩa hậu hiện đại đã
ảnh hưởng như thế nào trong lĩnh văn học ở nước ta?
2
3- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Có lẽ cách tiếp cận dễ dàng nhất về chủ nghĩa hậu hiện đại là
nên bắt đầu từ chủ nghĩa hiện đại (modernism): nguồn gốc phát
triển, đồng thời cũng là đối tượng bị phủ nhận của chủ nghĩa hậu
hiện đại. Theo phương pháp này, chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ được
giải thích trên hai bình diện khác nhau: lịch sử và xã hội, văn học
và các khuynh hướng nghệ thuật.
Qua tìm hiểu tài lệu , sách , báo , các trang web liên quan đến
chủ nghĩa hiện đại nhằm giải thích , hiểu rõ chủ nghĩa hậu hiện
đại cụ thể hơn .
Cách tiếp cận này sẽ dẫn đến sự đối chứng và so sánh giữa thời
kỳ hậu hiện đại và thời kỳ hiện đại, tiền thân lịch sử và xã hội của
thời đại chúng ta đang sống.
B – NỘI DUNG :
I – Cơ sở lý thuyết triết học :
yếu tính của kĩ thuật cơ khí đang quy định thời đại chúng ta, làm
môi giới triết học Tây phương tiếp cận Đạo học Đông phương, nỗ
lực đưa tư tưởng hợp tác với thi ca vượt qua siêu hình học, qua
đó hi vọng mở lối cho con người vượt thoát khỏi nỗi thiếu vắng
quê hương chung. Để rồi, đến năm 1979, Jean-Francois Lyotard
mở cuộc tấn công quy mô vào đại tự sự , đánh phá nốt chốn trú
ẩn của niềm tin nhỏ nhoi còn sót lại trong tâm hồn con người.
Vài gắng gượng mang ảo tưởng khôi phục trật tự đều vô ích và
bất khả. Bởi, có một làn sóng gồm các trí tuệ tự do, khám phá ra
rằng mọi hệ quy chiếu đều phiến diện và đầy áp đặt, bạo động.
Chủ nghĩa hiện đại đặt Lí tính như một thứ quyền uy duy nhất
phán xét cho những gì nó coi là Sự thật để làm nền tảng cho hệ
thống tri thức, đã phá sản. Hai cuộc thế chiến, chiến tranh lạnh, sự
sụp đổ dây chuyền của hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu,…
Con người bất tín vào đấng tối cao bất tín hệ thống, bất tín ngay
cả nhận thức của chính mình. “Mọi ý niệm của chúng ta về thực
tại chỉ là phái sinh từ vô số hệ thống đại diện của chính
chúng ta” (Ch.Brooke-Rose, 1986). Triết học hiện sinh lật mở đến
tấm voan cuối cùng sự tha hóa của con người thời hiện đại. Các
nghệ sĩ hiện sinh dấn thân đến tuyệt vọng tìm cách chinh phục
thực tại như thực, đưa con người trở lại là mình – bất lực! “Hậu
hiện đại tháo gỡ vấn đề tha hóa bằng cách tháo gỡ luôn hiện
thực” (Mikhail Epstein, 2000), để cái lâu nay chúng ta tưởng là
hiện thực lộ nguyên hình là hiện thực giả.
Theo Jean Baudrillard, xuất phát từ một đặc điểm căn bản của
xã hội hậu hiện đại vốn được tạo thành bởi những kí hiệu không
còn quy chiếu về hiện thực, những kí hiệu tự chúng trở thành
những sự thế vì hiện thực (Nguyễn Hưng Quốc, 2006). Xã hội
hậu hiện đại không có bản gốc, chỉ toàn bản sao, là vậy.Tri thức
chỉ còn là một trò chơi ngôn ngữ, không hơn không kém. Trong khi
quan qua cái Tôi của nó. Và, bằng cách này, về nguyên tắc, có thể
đạt tới tri thức đầy đủ và xác thực.
J.F.Lyotard đã phủ nhận quan điểm này khi cho rằng, mọi sự
kiện đều có thể vượt qua sự phản ánh. Ngoài ra, lý tính luôn có
khuynh hướng vận hành trong những hệ thống khái niệm chặt
chẽ, nên nó thường loại trừ phương diện cảm xúc, cảm tính. Tuy
vậy, sự loại trừ như thế không bao giờ được duy trì một cách trọn
vẹn, một mặt, mọi sự phản ánh luôn bỏ qua điều gì đó của sự
kiện; và mặt khác, những động năng phi lý tính, như cảm xúc, khát
vọng cũng luôn xuất hiện để phá vỡ những sơ đồ tư duy lý tính.
Nhìn chung, mặc dù còn mang tính võ đoán và chưa thật sự
thuyết phục khi đồng nhất các học thuyết triết học phổ quát với
các đại tự sự, quy mọi tri thức về các phát ngôn ngôn ngữ, xoá
nhoà ranh giới phân biệt có tính bản thể giữa khoa học với truyện
kể .
Song có thể nói, J.F.Lyotard đã đưa ra những kiến giải mới về
vấn đề tri thức và cách tiếp cận đối với thực tại trong hoàn cảnh xã
5
hội hậu hiện đại. Đó là cơ chế của sự hợp thức hoá tri thức, vạch
rõ sự độc quyền khoa học dưới sức mạnh của tư bản; đồng thời
chỉ ra những mối hoạ trong nghiên cứu trước sự chi phối của tiêu
chuẩn hiệu quả thực hiện, gợi mở hướng đi mới cho hoạt động
nghiên cứu và giáo dục, đề xuất cách tiếp cập đa chiều đối với
thực tại, chống giáo điều, phê phán ý đồ triệt tiêu vai trò của cảm
xúc, cảm tính trong nhận thức luận truyền thống.
Với những ý tưởng mới mẻ này, J.F.Lyotard đã xác lập những
nền tảng căn bản đầu tiên cho nhận thức luận của chủ nghĩa
hậu hiện đại.
II – NGUỒN GỐC DANH TỪ :
Danh từ postmoderne, hậu hiện đại, xuất hiện trong cuộc tranh
(1903-1914) ở Pháp và ở Ý. Những tư tưởng cải cách này, bị nghị
định Lamentabili và sắc lệnh Pascendi của giáo hội kết án nghiêm
khắc năm 1907.
• Về văn học : chỉ trào lưu văn học phát xuất từ châu Mỹ la
tinh năm 1890, của một số nhà văn, nhà thơ, viết tiếng Tây Ban
Nha mà người khai phá là Ruben Dario ( Nicaragua), muốn thoát
khỏi ảnh hưởng Tây Ban Nha, nhưng lại nghiêng về nhóm Thi sơn
(Parnasse), Thi Sơn do Théophile Gautier đề xướng, tập hợp
trong một thi tuyển ba cuốn, tác phẩm của những nhà thơ rất khác
nhau như: Gautier, Leconte de Lisle, Baudelaire, Banville, Heredia,
Sully Prudhomme, Verlaine, Mallarmé, Coppée, nhưng có cùng
một chí hướng: chống lãng mạn, chủ trương đổi mới hình thức, đề
cao quan niệm vô ngã trong thơ và nghệ thuật vị nghệ thuật và
nhóm Tượng trưng (Symbolisme) của Pháp.
• Ngoài ra, Modernisme, còn chỉ phong trào văn chương nghệ
thuật ở Brésil, phát sinh từ São Paulo năm 1922, tìm những chủ
đề thiên nhiên và văn hóa dân tộc.
Tóm lại chữ hậu hiện đại năm 1934, de Onis dùng để chỉ phong
trào văn học Tây Ban Nha châu Mỹ la tinh, từ 1905 đến 1914, chủ
trương vượt quachủ nghĩa hiện đại- Modernismo, không dính
dáng gì đến chữ hậu hiện đại mà JF Lyotard dùng sau này.
III – CƠ SỞ LÝ LUẬN VĂN HỌC HẬU HIỆN ĐẠI :
Vào thập niên 60 của thế kỉ trước, khuynh hướng hậu hiện đại
đã được các nghệ sĩ và giới trí thức áp dụng rộng rãi tại New York,
sau đó được các triết gia và lí thuyết gia châu Âu triển khai vào
thập niên 70. Nhưng mãi đến đầu những năm 80 hậu hiện đại như
là một lí thuyết, mới ra đời tại Pháp; rồi du nhập trở lại vào Hoa Kì
để tạo thành một trào lưu tác động rộng rãi đến nhiều lãnh vực:
văn học-nghệ thuật, chính trị-xã hội,… Nó nhanh chóng bắt tay với
người anh em như hậu cấu trúc luận, nữ quyền luận và đặc biệt,
được nói đến rất nhiều, nhưng nếu muốn tìm một chuyên luận giải
thích rõ ràng, tường tận, không dễ. Có người cho rằng đó là một
chủ nghĩa, một trường phái, có người cho đó là một lý thuyết
suông. Phần đông những người bênh vực lý thuyết này, thường
xem nó như một chủ thuyết văn học mới nhất, vượt xa những
trường phái, chủ thuyết văn học cũ như: lãng mạn, siêu thưc, hiện
sinh đã lỗi thời. Postmoderne mặc nhiên trở thành
postmodernisme, một chủ nghĩa văn học có khả năng hướng dẫn
sáng tạo cho toàn bộ những nghành nghệ thuật avant-garde thời
này. Đối với người đọc bình thường, một số câu hỏi được đặt ra:
có một thứ chủ nghĩa hậu hiện đại thật không? Và nếu có, thì chủ
nghĩa ấy có những đường hướng sáng tác như thế nào? Những
chữ hậu hiện đại nghĩa là gì? Có từ bao giờ? Do ai đề xướng? Nội
dung tư tưởng của từ hậu hiện đại? Và liệu chính quyền hiện tại
của các nước có chấp nhận quan điểm chủa chủ nghĩa hậu hiện
đại không ? Khi mà nếu hiểu nó là muốn phá bỏ những qui tắc
đang được xem là chuẩn mực quy luật của xã hội , trong quy luật
kinh tế hiện đại đã được hình thành từ lâu nay , là quy luật đang
được dùng để quản lý xã hội mà không có nó xã hội sẽ đi về đâu .
Khi mà sự hỗn loạn , mất trật tự trong văn học nghệ thuật khác xa
trong xã hội – kinh tế. Ở đó trong văn học , sự sáng tạo ít ảnh
hưởng đến số đông dân chúng hay ảnh hưởng đến nền an ninh
kinh tế toàn cầu . Hay nếu có chỉ ảnh hưởng đến tinh thần , đến
quan điểm nhận định chung chung .
8
Hậu hiện đại, bắt nguồn từ hiện đại với cơ sở hiện sinh và cấu
trúc luận, dựa chung trên tư tưởng tương đối nhưng lại phản ứng
lại, không hài lòng với sự giới hạn của hiện đại trong khuôn khổ
qui luật của xã hội và tư tưởng đóng khung của cấu trúc luận về
tôn giáo, giới tính, kỷ thuật, tiến bộ, cấu trúc xã hội .v.v mà hiện
hơn cả có thể kể vài tên tuổi: Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-
Tuấn, Nguyễn Văn Dân, Phương Lựu, Nguyễn Thị Ngọc Nhung,
Phan Tấn Hải v.v…Và mới nhất, các vấn đề lí thuyết và thực tiễn
sáng tác hậu hiện đại đã trình làng khuôn mặt khá đậm nét của
mình cho người đọc bằng những bộ sách mới.
9
Vậy mà, mãi đến hôm nay, đại đa số giới văn học VN vẫn còn dị
ứng với sợ hãi cái từ hậu hiện đại. Từ thành phần thủ cựu đến
người cách tân, thế hệ đàn anh hay các người viết trẻ, nhà phê
bình cho đến kẻ sáng tác v.v…
Trong lúc Hoàng Ngọc-Tuấn dự cảm chẳng bao lâu nữa lối viết
hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến ở Việt Nam thì Lê Chí Dũng, một
giảng viên Đại học kết luận đinh đóng rằng: Chủ nghĩa hậu hiện
đại, với tư cách là một trào lưu văn học, không có tiền đồ ở Việt
Nam .
IV – NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI VÀ CHỦ
NGHĨA HẬU HIỆN ĐAI TRONG VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT :
a- Cấp độ bản thể luận thực chứng :
• Chủ nghĩa hiện đại : thực thể là khách quan trong nghiên
cứu vì đối tượng nghiên cứu là hiện tượng xã hội , quan điểm duy
lý …Phân biệt giữa chủ thể và khách thể xã hội .
• Chủ nghĩa hậu hiện đại :Thực tại là quá trình tạo nghĩa ,
không mang tính toàn thể , không ổn định và chủ quan không duy
lý .Không tách rời chủ thể và khách thể .Không có mối quan hệ
giữa cái phản ánh và cái được phản ánh, bản thân cái phản ánh
có ý nghĩa của nó .
b- Cấp độ lý thuyết – phương pháp luận :
• Chủ nghĩa hiện đại : Trật tự , thứ tự – Chú trọng vào kết
quả - Giữ khoảng cách với đối tượng – Cấu trúc – Văn bản mang
tính độc lập – Mô hình hóa – Chiều sâu –Cái được biểu hiện –
đại.Nhưng văn hóa Việt Nam trong thành phần chính thống, bác
học không chắc là có thể chấp nhận hậu hiện đại dễ dàng.
Dĩ nhiên tình thế có thể thay đổi và trong tương lai hậu hiện đại
có thể là chính thống nhất trong thời kỳ toàn cầu hóa và sư trao
đổi hấp thụ thông tin nhanh chóng không biên giới trong thế giới
ngày nay. Nhưng nếu có xảy ra như vậy, thì chỉ có ở trong thành
phần trí thức, và bản thân hậu hiện đại không còn hậu hiện đại với
đặc tính dị biệt phi chính thống và chắc chắn sẽ phải có hậu-hậu
hiện đại thay thế nó.
Vấn đề cơ bản hiện nay cho sự phát triển văn học hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam là sự khuyến khích, môi trường có sự đối
thoại, trao đổi, tranh luận trên các diễn đàn rộng rãi với nhiều giới
làm văn hóa tham gia và sự thông hiểu dễ dàng thế nào là hậu
hiện đại. Nhưng trong bối cảnh hiện nay trong văn học trong và
ngoài nước, đã có những sự va chạm giữa những nhà hậu hiện
đại và chính thống mà nhiều người theo hậu hiện đại cho rằng là
do sự bảo thủ, sức trì quá lớn của văn học Việt Nam so với các
nước khác và có hơi bi quan về sự phát triển của văn học nghệ
thuật hậu hiện đại trong văn hóa Việt Nam. Đa số các nhà hậu
hiện đại đều trẻ và có trình độ nhận thức cao và họ đã tạo cho
họ có chổ đứng riêng trong môi trường sách báo, tạp chí và
mạng hiện nay.
Trong không gian đầy rất sôi động và rất sáng tạo. Nhưng không
gian ấy vẫn còn nhỏ và sẽ phát tán rộng hơn nếu tư tưởng hậu
11
hiện đại được phổ cập hay phổ thông hóa trong quần chúng và
chính vì thế trách nhiệm của các nhà hậu hiện đại là phổ thông
hóa thay vì phàn nàn hay bi quan về sức trì hay trình độ nhận hiểu
tiếp nhận của độc giả hiện nay. Toàn cầu hóa có thể làm cho sự
khó khăn này dần dần biến mất nhưng hệ quả của toàn cầu hóa là
là các nhân vật chính, hay hình tượng trung tâm vào hoạt động
trong tác phẩm, thể nào nhà văn cũng -cung cấp những dấu hiệu
nhận biết để giúp người đọc làm quen với chúng ngay từ lần gặp
đầu tiên. .
Ta nhận ra nghệ thuật hậu hiện đại chủ yếu qua các kiểu kết
cấu văn bản. Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Huy
12
Thiệp và Phạm Thị Hoài là thế giới phân mảnh, đứt gẫy mạch lạc,
hình tượng được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hoá, văn bản ngôn từ
nổi trên bình diện thứ nhất của văn bản văn học, lời và nghĩa xô
đẩy, giễu nhại nhau đưa nghệ thuật ngôn từ đến với các hình thức
hỗn loạn thể loại. Đây chính là kiểu kết cấu thể hiện loại hình tư
duy của nghệ thuật hậu hiện đại. Loại hình tư duy ấy không phải
từ trên trời rơi xuống, mà gắn với những nguyên tắc kiến tạo hình
tượng, tổ chức văn bản của đồng dao, câu đố có nguồn cội từ thời
tiền văn học, trong sáng tác dân gian.
Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài là những nhà văn của thời
đại thông tin, thời đại hội nhập và giao lưu quốc tế. Không thể phủ
nhận ảnh hưởng của văn học Âu-Mĩ đối với sáng tác của hai nhà
văn ấy, nhất là bút pháp của Phạm Thị Hoài. Nhưng sự xuất hiện
của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nói chung,
trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp nói riêng,
chắc chắn không phải là hiện tượng vay mượn, ngoại nhập. Sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài cung cấp đủ tư liệu
cho phép rút ra kết luận: những điều kiện lịch sử, xã hội trong
vòng 30 năm nay đã làm nẩy sinh tâm thức, cảm quan và loại hình
văn hoá hậu hiện đại trong văn học Việt Nam .
Tinh thần hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong
văn chương Việt Nam cũng là lẽ thường tình, nhưng không có
tài, không hiểu biết đến nơi đến chốn mà mê muội bắt chước, thì
sống nền văn học Việt Nam.
Chủ nghĩa hậu hiện đại không những không phá huỷ nền
văn hoá dân tộc mà ngược lại, còn cổ xuý cho sự phát triển
tính đa dạng của các nền văn hoá nhỏ bé đầy bản sắc đó. Mà
nó còn thể hiện nó dưới một quan điểm mới hơn, lạ hơn và thú vị
hơn. Để làm được như vậy, không phải chúng ta có nên bao dung
với nền văn học nước nhà hay không, mà thực ra những kẻ hô
hào bao dung đó phải từ bỏ những Đại Tự Sự kiểu như: dân tộc ta
thông minh có thừa… Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng v.v. May
ra văn học Việt có được một lối đi mới mẻ trong kỷ nguyên tới.
II -THƠ HẬU HIỆN ĐẠI VN :
Có thể nói, Hồ xuân Hương , Bùi Giáng là những nhà thơ đầu
tiên sáng tác theo cảm thức hậu hiện đại , hoặc gần như thế. Sáng
tác của ông giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt
lấn át. Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép
nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào
nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý
nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bùi thi sĩ điên
chữ là vậy.Mà đôi lúc người đọc thơ ông ngộ nhận ông bị “điên” ?
Tất cả nói lên điều gì? Ngôn ngữ không thể khám phá ra cái gì
cả! Và làm thơ như thể là một nhập cuộc vào trò đùa bất tận, Ở
đó, thi sĩ phó thác mình cho ngôn ngữ thao túng,tung hê.
Cho nên, đọc Bùi Giáng, dù ông bàn chuyện nghiêm túc, nghiêm
trọng chúng ta cứ như thấy ông đang bỡn cợt; hoặc cho dù ông
đang buồn bã ủ dột, người đọc vẫn cứ cảm thấy vui. Bùi Giáng
luôn biết nói điều hệ trọng bằng một lối khinh khoái nhẹ
nhàng. Một Lão ngoan đồng( Thi sĩ vui vẻ ), như ông tự
14
nhận! Đó là một trong những thái độ căn bản của nghệ sĩ hậu
hiện đại.
thơ đã từ bỏ được thói quen xin phép, hoặc chỉ muốn xuất hiện
bên lề.
Thơ mạng, thơ photocopy, tập thơ tác giả tự in. Nói tiếng nói
trung thực, thơ dũng mãnh cắt đứt lề thói cũ để lên đường khai
phá lối thể hiện mới, và nhất là thơ không ngán ngại đề cập đến
khu vực, vấn đề lâu nay bị coi là nhạy cảm, húy kị.Thơ giành lại tự
do cho chính mình. Ít nhất cho đến nay đã có gần 100 tác phẩm có
mặt dưới hình thức này. Chúng vẫn có cuộc sống của mình.
15
D – KẾT LUẬN :
Những nét tương đồng với tính hậu hiện đại đã từng hiện hữu
trong truyền thống phương Đông và Việt Nam. Tất nhiên những
điều ấy chưa thể gọi là chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng chúng đã là
những hạt mầm có khả năng thích ứng với tâm thức hậu hiện đại.
Mươi năm qua, chính sự vận động của chủ nghĩa hậu hiện đại
đã tạo nên sự sinh động và phong phú của văn chương tiếng Việt
đương đại. Sinh động và phong phú kia không dừng lại ở một, hai
trung tâm mà đang mở rộng ra các vùng miền, các thành phần,
các thế hệ. Trong một tương lai không xa, văn học Việt sẽ là một
nền văn học đa trung tâm.
Văn chương hậu hiện đại có mặt ở Việt Nam đã tạo dị ứng và
phản bác dây chuyền. Người biết phản đối đã đành, ngay cả kẻ
chưa tiếp cận lí thuyết hay sáng tác hậu hiện đại cũng té nước
theo. Bao nhiêu hình dung từ tiêu cực đã đổ lên đầu hậu hiện đại.
Năm năm trước, Hoàng-Ngọc-Tuấn tuyên bố đầy dự cảm
rằng: "Chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biến
ở Việt Nam" (báo Thế thao - văn hóa, 6-1-2004).
Khi internet ra đời, văn hóa mạng phát triển, khi những người
cầm bút Việt Nam nhất là thế hệ trẻ hết còn bị bưng bít thông tin.
Họ sáng mắt, mở trí và cởi mở tâm hồn. Để cuối cùng, soi nhìn lại