1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Trần Khánh Thành.
Các kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi xin chịu tránh nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Vũ Thị Loan
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5. Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
6. Cấu trúc luận văn Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 1. KHÁI LƢỢC VỀ CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG VÀ PHONG
TRÀO THƠ MỚI Error! Bookmark not defined.
1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng Error! Bookmark not defined.
1.2. Nguyên tắc sáng tạo và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tượng trưng 9
1.3. Thơ mới và tiếp nhận của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới Error!
Bookmark not defined.
1.3.1. Sự ra đời và ý nghĩa của phong trào Thơ Mới Error! Bookmark not
defined.
1.3.2. Sự tiếp nhận của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới. Error! Bookmark
not defined.
CHƢƠNG 2. TÍNH TƢƠNG GIAO VÀ HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG
TRONG THƠ MỚI Error! Bookmark not defined.
2.1. Tính tương giao trong Thơ mới Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Sự tương giao giữa các giác quan Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Sự tương giao giữa vạn vật Error! Bookmark not defined.
6
2.1.3. Sự tương giao giữa con người và vũ trụ, vạn vật Error! Bookmark not
defined.
2.1.4. Sự tương giao giữa màu sắc và ánh sáng Error! Bookmark not defined.
2.2. Hệ thống biểu tượng và sức ám gợi trong Thơ mới Error! Bookmark not
defined.
CHƢƠNG 3. NGÔN TỪ VÀ NHẠC TÍNH TRONG THƠ MỚI 74
3.1. Ngôn từ trong Thơ mới 74
3.1.1. Xu hướng chọn hệ thống từ vựng Error! Bookmark not defined.
3.1.1.1. Từ láy Error! Bookmark not defined.
cho thi ca giai đoạn trước cách mạng đó là vai trò cách tân mạnh mẽ. Loại bỏ những
“cặn bã của một lối thơ đến lúc tàn” (Hoài Thanh), Thơ mới đã mạnh mẽ cách tân và
thực sự tạo ra một hiệu ứng sâu rộng cả trong tư tưởng, nghệ thuật cũng như nhiều lĩnh
vực khác trong xã hội. Có thể nói, Thơ mới (1932 – 1945) đã thổi một luồng mới lạ,
làm xôn xao và đánh thức cả một nền thơ đang “triền miên trong cõi chết” (Lưu Trọng
Lư).
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ nghiên cứu loại hình
học và lý thuyết văn học so sánh, nhiều nhà nghiên cứu sau này đều thừa nhận rằng bản
thân phong trào Thơ mới không tự dưng xuất hiện, mà đó là sự ảnh hưởng của những
tác động khách quan đến tiến trình văn học. Cụ thể, đó là một hiện tượng văn học nảy
sinh trong những điều kiện lịch sử, xã hội và thẩm mỹ tương đồng của các nền văn hóa
khác nhau trong khu vực. Trên phương diện lịch sử, văn hóa, sự ra đời của những tư
8
tưởng, trào lưu mới trong Thơ mới là kết quả của quá trình tiếp xúc, giao lưu và ảnh
hưởng của văn hóa phương Tây để đổi mới, cách tân. Bản thân những tác giả của Thơ
mới lúc bấy giờ cũng đã thừa nhận ảnh hưởng của thơ ca Pháp, đặc biệt là chủ nghĩa
tượng trưng. Nhà phê bình Hoài Thanh cũng chỉ ra “sự ám ảnh” của Baudelaire - một
trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của trường phái chủ nghĩa tượng trưng (Pháp) đối
với nhiều tài năng của Thơ mới. Xuân Diệu đã học được của Baudelaire “một nghệ
thuật tinh vi”. Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên “đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire”.
Chế Lan Viên phải thừa nhận: “Tôi yêu Baudelaire từ bé, yêu tác giả Ác Hoa (Fleurs
du Mal) từ buổi hoa niên cho đến bây giờ ” (Tuyển tập Chế Lan Viên, NXB Văn học,
1990, tr. 192). Huy Cận chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cả Baudelaire và Edgar Allan Poe
(1809-1849) - nhà thơ Mỹ, người được coi là “mở đầu cho chủ nghĩa tượng trưng”, đặc
biệt là thủ pháp tương phản và cách sử dụng âm thanh, nhạc điệu trong thơ
Như vậy, nghiên cứu Thơ mới sẽ không thể thấu đáo, nếu như không không
được gắn với nghiên cứu ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng, đặc biệt chủ yếu là chủ
nghĩa tượng trưng trong văn học Pháp thế kỉ XIX. Sự đánh giá thấu đáo ảnh hưởng của
Chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới không chỉ góp phần làm sáng tỏ hơn những giá
mới của một số tác giả.
2.2. Từ sau năm 1945 đến năm 1986
Trong khoảng thời gian 1946 đến năm 1954, đất nước ta phải trải qua cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược nên Thơ mới và những tìm hiểu về Thơ mới
(được coi là ủy mị, làm nhụt tinh thần chiến đấu của người lính nên không còn phù hợp
với thực tế lúc bấy giờ) được gác lại một bên, dành chỗ cho thơ ca động viên cách
mạng.
Từ sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết năm 1954, miền Nam vẫn tiếp tục cuộc
chiến tranh chống đế quốc Mĩ, trong khi đó miền Bắc đã được giải phóng (vẫn còn
chiến tranh phá hoại bằng máy bay của Mĩ đưa từ miền Nam ra) và hướng xây dựng
10
theo mô hình chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, việc khắc phục hậu quả chiến tranh là một
điều không hề đơn giản. Chính vì thế mà phong trào Thơ mới những năm đầu sau khi
miền Bắc được giải phong cũng chưa được quan tâm. Mãi tới năm 1966, nhà nghiên
cứu Phan Cự Đệ mới đưa ra công trình Phong trào Thơ mới do NXB Khoa học xã hội
phát hành. Công trình này đề cập tới vấn đề lịch sử phong trào Thơ mới lãng mạn 1932
– 1945, những quan điểm mỹ học, yếu tố tích cực, giá trị nghệ thuật và những hạn chế
suy đồi của phong trào Thơ mới với bề dày của sự nghiên cứu có phần chuyên sâu hơn
với các công trình nghiên cứu về Thơ mới trước đó. Và tới năm 1982, cuốn sách được
tái bản lần 2 có sửa đổi và bổ sung. Năm 1975 , đất nước được thống nhất, Bắc Nam
sum họp một nhà, cùng khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng đất nước trên mọi
lĩnh vực nhưng nghiên cứu Thơ mới cũng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nên
ít có công trình nào về vấn đề này được ra đời.
2.3. Từ sau năm 1986 đến nay
Sau thời kì đổi mới, Thơ mới được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nhưng chỉ được
đánh dấu sự trở lại từ năm 1989 với sự ra đời của công trình Tổng tập văn học Việt
Nam do Hà Minh Đức chủ biên. Tiếp đó là hàng loạt các công trình như: Con mắt thơ:
phê bình phong cách Thơ mới (Đỗ Lai Thúy) năm 1994; Nhìn lại một cuộc cách mạng
thi ca: 60 năm phong trào Thơ mới (Huy Cận, Hà Minh Đức chủ biên) năm 1992;
nhiên, hầu như những công trình đó còn mang tính chất giới thiệu điểm qua về ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng tới Thơ mới hoặc khai thác vấn đề trên một khía cạch
riêng lẻ của một tác giả trong Thơ mới hay nói chung về chủ nghĩa tượng trưng; mà
chưa có cái nhìn một cách hệ thống về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với
Thơ mới. Chính vì thế, trong công trình này, chúng tôi cố gắng đưa ra một cách nghiên
cứu tương đối có tính hệ thống về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ
mới và trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát sự ảnh
12
hưởng ấy trên thơ của ba tác giả tiêu biểu liên quan đến đề tài: Xuân Diệu, Huy Cận và
Bích Khê trên cơ sở tiếp thu có lựa chọn những công trình trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi triển khai với mục đích tìm hiểu một cách hệ thống sự ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với Thơ mới, để từ đó đưa ra nhiệm vụ phần nào
phác họa được một cái nhìn khái quát về ảnh hưởng của một trào lưu, chủ nghĩa về thơ
của phương Tây tới Việt Nam và sự tiếp nhận sáng tạo trào lưu, chủ nghĩa này của các
nhà Thơ mới 1932 – 1945.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn xác lập một đối tượng nghiên cứu thật
cụ thể và phù hợp với khả năng của bản thân. Vì thế chúng tôi hướng tới đối tượng
nghiên cứu là sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng (chủ yếu là chủ nghĩa tượng
trưng Pháp) đối với Thơ mới, qua khảo sát thơ của ba nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận và
Bích Khê.
Với đối tượng nghiên cứu như trên, chúng tôi tiến hành khảo sát phạm vi nghiên
cứu là những tuyển tập thơ của ba tác giả nói trên. Một là cuốn Tuyển tập Xuân Diệu:
thơ (tập 1), NXB Văn học năm 1983. Hai là cuốn Huy Cận toàn tập: thơ (tập 1), NXB
Văn học năm 2011. Ba là cuốn Thơ Bích Khê, NXB Đồng Nai năm 2007 . Ngoài ta,
chúng tôi còn tham khảo một số tư liệu khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi đã lựa chọn nhưng phương pháp nghiên
sống trong thế kỉ ấy.
Nếu như trước đây, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực ra đời đã để lại
dấu ấn vô cùng quan trọng trong lịch sử văn học Pháp thì khi xã hội thay đổi, những
14
hình thái nghệ thuật ấy đã lần lượt nhường chỗ cho chủ nghĩa tự nhiên với yêu cầu mô
tả cuộc sống bằng những phương pháp của khoa học tự nhiên.
Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) ra đời và tồn tại những năm 1870 – 1880 với
những đại biểu như Edmond, Goncourt, Zola Họ yêu cầu miêu tả cuộc sống bằng
phương pháp của khoa học tự nhiên, chú trọng tư liệu về con người và hiện tượng đời
sống, đặc biệt là đời sống sinh lí và những hoạt động vật chất của con người. Họ coi
trọng quan sát, săn tìm tư liệu hơn là dùng trí tưởng tượng.
Thế nhưng, chủ nghĩa tự nhiên sau giai đoạn phồn vinh mà đỉnh điểm là năm
1880, trường phái Tự nhiên chủ nghĩa lại đi vào rạn nứt và tan rã. Năm 1884, Ngược
chiều của J.K. Huysmans (với đự dịnh khảo sát đến cùng một nhân vật mắc bệnh thần
kinh dẫn tới miêu tả những ám ảnh, mộng mị, đạt “hiệu quả hư ảo, phi thực tế) đã
khiến chủ nghĩa tự nhiên hoàn toàn bị đảo ngược. Đỉnh điểm là tới tháng 8 năm 1887,
nhiều nhà văn đã từng hâm mộ Zola đã tập hợp và viết bản Tuyên ngôn nổi tiếng để
kịch liệt lên án tiểu thuyết Đất của ông. Đó là kết quả tất yếu của sự chán ngán muốn
tìm một hình thái nghệ thuật khác của những nghệ sĩ đương thời bấy giờ.
Chính vì ý thức muốn tìm một hình thái nghệ thuật mới thay thế cho hình thái
nghệ thuật của chủ nghĩa tự nhiên không còn phù hợp, một số nhà thơ trẻ đã tập hợp
những vần thơ mới trong Tuyển tập Thi Sơn với 3 tập thơ được xuất bản lần lượt những
năm 1866, 1869, 1876 và lập nên nhóm Thi Sơn. Họ nổi lên như một sự phản ứng trực
tiếp với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, cũng như sự thờ ơ với thơ của độc
giả. Với việc lập ra nhóm này, các nhà thơ muốn đoạt lại thơ ca và làm cho nó hồi sinh
bằng những năng lượng mới.
Nhóm Thi sơn theo chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, và trong thơ cần có
nhạc của Gautier, quan tâm đến việc luyện âm và chữ, đưa nhục cảm vào thơ của
Banville. Họ không tin ở cảm hứng mà tin vào lao động ngôn ngữ; kết hợp với tưởng
16
Bài của Moréas được coi là bản “Tuyên ngôn Tượng trưng”. Nhưng bản “tuyên
ngôn” này cũng không có gì mới, tác giả chỉ định vị chỗ đứng của trào lưu Tượng
trưng trong dòng chảy của thi ca, và đề cao vai trò của những người “khai sáng” như
Baudelaire, Banville, Mallarmé, Verlaine mà không nói gì đến việc định nghĩa khái
niệm Tượng trưng.
1.2. Nguyên tắc sáng tạo và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tƣợng trƣng
Chủ nghĩa tượng trưng không có lý thuyết rõ như chủ nghĩa lãng mạn hay chủ
nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa lãng mạn có bài Tựa Cromwell của Hugo, chủ nghĩa cổ điển
có cuốn Nghệ thuật thơ của Boileau, còn chủ nghĩa tượng trưng tuy có ra tuyên ngôn
nhưng tuyên ngôn không nêu rõ nguyên tắc mỹ học của trường phái này. Có một số tài
liệu đáng chú ý: Lời nói đầu của Mallarmé viết cho đầu cuốn Luận về ngôn từ của
René Ghil, Tuyên ngôn của chủ nghĩa tượng trưng của Jean Moréas. Từ những tài liệu
đó, có thể thấy mấy yêu cầu chính của phái tượng trưng:
Một là những người tượng trưng chủ nghĩa cho rằng giữa vũ trụ và con người có
những mối tương quan bí ẩn. Những tương quan này được biểu hiện qua những dấu
hiệu, những cảm niệm mơ hồ. Sứ mệnh của nhà thơ là tập hợp những mớ cảm niệm ấy
và cột nó lại để nói lên cái “Ý niệm nguyên sơ”. Như vậy, những người tượng trưng
chủ nghĩa gán cho thơ một nhiệm vụ có tính chất thần bí: khải thị chân lý…
Hai là vận dụng cho được cái hay của các nguyên âm, phụ âm, vận dụng âm điệu
thế nào để cho một từ thành một tượng trưng hay như Mallarmé nói: “một từ đầy đủ,
mới mẻ, xa lạ với ngôn ngữ và nghe như thần chú”.
Ba là những người tượng trưng chủ nghĩa phải chú trọng cải cách câu thơ Pháp,
đề cao câu thơ tự do.
Những yêu cầu đó được những người tượng trưng chủ nghĩa nêu ra hoặc bằng
sáng tác thơ hoặc bằng lời lẽ có tính chất lý luận. Verlaine viết trong Nghệ thuật thơ
(1884) có đoạn nói đến cách biểu hiện thơ của ông. Verlaine thích cái lơ lửng không rõ
ràng, thích sắc thái hơn màu sắc, vì sắc thái có khả năng biến màu sắc này sang màu
17
làm, là việc gay go ngay với các tác giả tượng trưng chủ nghĩa, đòi hỏi chẳng những
cảm hứng mà cả một vốn tri thức bách khoa. Hiếm ai có được vừa sự uyên bác vừa sự
kiên trì khắc kỉ của Mallarmé. Một số người nhờ lục lọi các pho lịch sử tôn giáo, các
công trình nghiên cứu về thời Trung cổ, các sách của những nhà thần bí học, đã thành
những thi sĩ giỏi làm ảo thuật với kho sưu tập các ẩn dụ, tỉ dụ, chứ không phải các nhà
thơ sáng tạo những biểu trưng thực sự.
Có thể nói, chủ nghĩa tượng trưng dựa trên cái nhìn chủ quan tuyệt đối về thế
giới. Thơ ca không có nhiệm vụ miêu tả cái thế giới gọi là “thực tại” mà ngược lại, lập
nên một “thực tại” khác, thực hơn. Sự sáng tạo thơ ca là thực tại tối cao, đem lại ý
nghĩa cho cuộc sống vốn chỉ là ảo tưởng và hư không.
Nếu như thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản;
thơ hiện thực coi trọng tính khách quan của sự thể hiện; thì thơ tượng trưng biểu hiện
mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp.
Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương
quan bí ẩn. Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt. Có sự tương giao về
ý niệm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng- bóng tối, có sự tương giao
về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao
về màu vị: trong - ngọt Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí
(Baudelaire).
Những nguyên tắc của trường phái tượng trưng do Jean Moreas (1856-1910),
gốc Hy Lạp đề xướng trong bài tuyên ngôn của trường phái Tượng trưng (1886) trên tờ
Figaro. Ông nêu lên tính cách biểu trưng nghệ thuật cho các vật tự nó và các ý niệm
nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính. Trong cuốn Manifeste du Symbolisme năm
1886 ông viết: Điều cốt yếu mà Chủ nghĩa Tượng trưng đem lại là không bao giờ ám
chỉ điều gì như một khái niệm tuyệt đối”. Ông còn cho rằng thế giới hữu hình chỉ là
phản ánh của thế giới tâm linh và nhà thơ là người giải minh các dấu hiệu.
19
Từ những quan niệm trên, có thể nhận thấy Jean Moreas đã thể hiện ước muốn
về một nghệ thuật mới mẻ và một lý tưởng đòi hỏi khắt khe. Đây cũng là cơ sở cho các
vàng từ nơi rừng thẳm xa xôi. Bài thơ sẽ dẫn con người đi tới một nơi xa lạ không
giống với xã hội thi sĩ đang sống, đi tới nơi ngự trị của ý niệm nguyên sơ [36, tr. 58].
Thơ ca không có nhiệm vụ miêu tả cái thế giới gọi là “thực tại” mà ngược lại, nó lập
nên một “thực tại” khác, thực hơn [44, tr. 314].
Về nhận thức, các nhà thơ tượng trưng là những người phê phán một cách gay
gắt cách làm của phái Thi Sơn, cho rằng những nhà thơ của phái này có thể nắm bắt
một cách rất chắc sự vật và miêu tả đầy đủ đường nét góc cạnh của nó, nhưng họ đã
tước bỏ mất phần lớn niềm vui thi vị của sáng tạo. Với họ, thơ là sự biểu hiện một thế
giới vô hình, qua hình ảnh biểu tượng và năng lực tinh thần kì diệu của nghệ sĩ chứ
không phải một thế giới được nhìn thấy bằng sự quan sát thông thường. Nhìn chung
thơ tượng trưng từ Baudelaire đến Rimbaud, Mallarmé phản ánh niềm say mê thám
hiểm thế giới mới, những sự phá cách táo bạo và những sự tìm kiếm không mệt mỏi
những giá trị nghệ thuật, cách biểu hiện theo hướng hiện đại. Diễn đạt bằng hình ảnh,
biểu tượng, bằng những liên tưởng bất ngờ dựa trên năng lực có tính chất thần cảm của
nghệ sĩ đã tạo cho thơ tượng trưng những khả năng biểu hiện mới, những vẻ đẹp quyến
rũ thú vị mà thơ thuần lí trí từ Phục hưng đến thời đại Cổ điển, Khai sáng và Lãng mạn
không thể có được.
Thế kỉ XIX chứng kiến sự “phục sinh” của nền thơ Pháp. Khởi đầu từ cảnh khô
cằn hoang vắng, con đường thơ kết thúc trong sự rậm rạp phần nào hỗn độn, dẫn tới
nhận định về “tình trạng Babel” của thơ những năm cuối thế kỉ. Con đường này trải
qua những chặng “cách mạng” mà một số nhà nghiên cứu gọi là “nhịp mạnh” xen kẽ
những chặng “phản ứng” hay “nhịp yếu” [44, tr. 343].
Một thành tựu của chủ nghĩa tượng trưng là câu thơ tự do (mà Rimbaud đã thể
nghiệm với tác phẩm thơ – văn xuôi Thần cảm), cũng được coi là khó tiếp nhận đối với
21
độc giả. Gustave Kahn được coi là người xây dựng lí thuyết thơ tự do. Theo Kahn, việc
thay thế thơ truyền thống bằng thơ tự do là một cuộc cách mạng, đáp ứng cảm xúc hiện
đại của thế hệ nghệ sĩ trẻ. Tiếp theo những cải cách rụt rè của các nhà lãng mạn,
Baudelaire, Verlaine và đặc biệt là Rimbaud (trước khi sáng tác Thần cảm), đã giảm
khỏi những qui định và ước lệ, nó chỉ biết tuân theo những đòi hỏi mãnh liệt của nhu
cầu sáng tạo của nghệ sĩ chứ không tuân theo những chuẩn mực tiền lệ hoặc quán tính.
Tính hiện đại vừa là một phẩm chất thơ, vừa là một yêu cầu để từ đó thơ ca (và nghệ
thuật nói chung) vươn tới để tiếp cận và chiếm lĩnh những giá trị thẩm mĩ mới phù hợp
với cảm xúc và trình độ tư duy của công chúng văn học hiện đại [59].
Chủ nghĩa tượng trưng là một cuộc nổi loạn ngôn từ. Nhận thức đó hoàn toàn có
cơ sở, vì khác với bất kì trường phái văn học nào trước nó, các nhà thơ đã ân sủng cho
nó một quyền lực mới, riêng biệt. Thơ phải tạo cho những từ ngữ mới hoặc cấp cho từ
những ý nghĩa mới trở thành thành một trong những ám ảnh thường trực đối với các
nhà thơ tượng trưng. Bởi vì đối với họ, trong ngôn ngữ thường nhật, ngôn ngữ của trí
năng, thậm chí của cả văn xuôi, từ là vật phụ thuộc trong những mối liên hệ, được sắp
xếp trong trật tự dưới sự dẫn dắt của lí trí phổ quát và thực hiện chức năng truyền đạt
thông tin theo mục đích của chủ thể hành ngôn. Các nhà thơ tượng trưng và sau này là
các nhà thơ hiện đại chủ nghĩa cho rằng: ngay ở thơ cổ điển (và cả lãng mạn), chức
năng của các nhà thơ không phải là tìm ra những từ mới, cô đặc hơn hay rực rỡ hơn,
mà là sắp xếp một nghi thức cũ, hoàn thiện tính đối xứng hay tính súc tích của một mối
quan hệ… Ý nhị cổ điển là ý nhị về các mối quan hệ, chứ không phải về từ: đó là nghệ
thuật biểu đạt chứ không phải nghệ thuật phát minh… Người ta thích thú vì cách trình
bày chúng chứ không phải vì sức mạnh và vẻ đẹp riêng của nó. Ngôn từ không phải chỉ
là phương tiện của thơ mà còn là chính bản thân thơ [59].
Những nhà thơ lãng mạn đã lợi dụng tối đa các khúc gẫy của câu thơ truyền
thống – chuyển dịch và tăng thêm các chỗ ngắt hơi, thực hiện những cách vắt dòng táo
23
bạo, đảo lộn cú pháp để phục tùng tiết tấu. Chính vì thể, họ đã xô đổ được các vách
ngăn bên trong mà không phá hủy được cấu trúc cơ bản của câu thơ. Về phương diện
ngôn từ, các nhà thơ lãng mạn quan niệm, từ không còn là một kí hiệu lệ thuộc vào một
cái gì tiên nghiệm, “có trước” nó như các nhà cổ điển quan niệm. Theo Hugo “Từ là
một thực thể sống, mạnh hơn kẻ sử dụng nó, vọt ra từ nơi tối tăm, nó làm nảy sinh một
nghĩa mới, tùy theo ý nó”.
đời [1, tr.16]
Do kết quả sự mở rộng khai thác thuộc địa của đế quốc Pháp, sau chiến tranh
thế giới lần thứ nhất, một giai cấp tư sản bản xứ hèn yếu ra đời, đồng thời một giai cấp
vô sản tương đối mạnh mẽ hơn cũng xuất hiện. Trong những năm đại chiến 1914 –
1918, giai cấp tư sản Việt Nam đã có những hoạt động khá mạnh.
Giai cấp tiểu tư sản thành thị có điều kiện hình thành sớm hơn ngay sau đợt khai
thác lần thứ nhất. Lúc này, các thành thị lớn đã đông đúc, việc buôn bán tương đối phát
triển, bộ máy viên chức của thực dân và phong kiến đã có quy mô hoàn chỉnh. Giai cấp
này bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ, viên chức, giáo viên, học sinh, sinh viên,
những người làm nghề tự do Theo Thống kê niên giám của Đông Dương thì năm
1921 – 1922 ở Việt Nam có khoảng 189.130 giáo viên, công chức, học sinh, sinh viên
và đến năm 1932 – 1933 là năm “Thơ mới” đã ra đời, con số đó lên tới 352.369 người
[10, tr. 17].
Trong những năm sau đại chiến tầng lớp trí thức cũng bắt đầu xuất hiện, nhưng
do sự kìm hãm của thực dân nên nó phát triển chậm. Tính từ năm 1929 trở về trước, tri
thức Việt Nam tốt nghiệp ở Pháp đã có những luật khoa tiến sĩ, y khoa tiến sĩ, cử nhân
văn chương, cử nhân sử địa, cử nhân triết học, cử nhân khoa học. Từ 1920 trở về sau
trong nước đã có một số sinh viên tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm (Dương Quảng
Hàm, Hoàng Ngọc Phách, Đặng Thai Mai ). Ở nước ta, lúc bấy giờ vào loại tri thức
còn có thể kể những người đã đậu bằng tú tài tây hoặc cao đẳng tiểu học.
25
Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên (tri thức, viên chức cao cấp)
đã có lối sinh hoạt “văn minh” ở thành thị. Người ta ở nhà lầu, đi ô tô, dùng đèn điện,
quạt điện, đi nghe hòa nhạc hoặc đi xem chớp bóng. Những kiểu sinh hoạt đua đòi, trụy
lạc được thực dân khuyến khích. Năm 1931 dân số Hà Nội không quá 10 vạn người mà
có hơn 100 nhà săm và nhà thổ! Trên báo chí xuất hiện những quảng cáo to tướng của
các ông vua thuốc lậu. Năm nào ở các đô thị lớn cũng có chợ phiên, hội chợ, thi sắc
đẹp Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách ăn
mặc của thanh niên nam nữ. Cô gái Bắc Kì trước kia đội nón thúng quai thao, tóc bỏ