Câu 1: Trong cuốn "Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển" của Dương Quảng hàm ghi lại bài ca
dao về 36 phố Hà Nội có câu như sau:
Rủ nhau đi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố giành giành chẳng sai
Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về lịch sử 36 phố phường của
Thăng Long ,Hà Nội?
Trả Lời: Thưa quý khách, khu Hà Nội 36 phố phường hẳn là khá quen thuộc và nổi tiếng
đối với chúng ta. Nó được gắn liền với lịch sử, với nền văn hoá truyền thống của dân tộc
Việt. Sách "Hà Nội ba sáu phố phường" của Thạch Lam viết: "Người Pháp có Paris,
người Anh có London, người Trung Quốc có Thượng Hải… Trong các sách vở, trên các
báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu…” Hẳn là Hà Nội cũng
không kém tự hào về 36 phố phường Hà Nội – địa điểm thu hút, hấp dẫn cho ai muốn tìm
hiểu về Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội
Ca dao cổ có câu:
Hà Nội ba sáu phố phường.
Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh.
Khu phố cổ "36 phố phường" của Hà Nội được giới hạn bởi đường Hàng Đậu ở phía Bắc, phía
Tây là đường Phùng Hưng, phía Đông là đường Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải, phía Nam
là đường Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng. Khu phố cổ được biết đến hiện nay được
thiết kế và quy hoạch theo phong cách kiến trúc Pháp với mạng lưới đường hình bàn cờ, nhưng
dấu vết lịch sử thì lại in đậm ở nhiều lớp văn hoá chồng lên nhau. Khu đô thị này tập trung dân
cư hoạt động kinh tế và buôn bán giao thương , hình thành nên những phố nghề đặc trưng mang
những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị kinh đô Hà Nội.
Khu dân sinh hoạt và buôn bán sầm uất này đã được từ thời Lý –Trần , nằm ở phía đông của
Hoàng thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng.
Vào thời Lê, đầu thế kỷ XVI, Hà Nội trở thành Đông Kinh, khắp nơi đổ về buôn bán làm ăn
trong 36 phường lúc bấy giờ, và dần được gọi là phố cổ. Sử cũ còn ghi Thăng Long đời Lê gọi là
phủ Phụng Thiên nay. Chia ra hai huyện Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương) và Quảng Đức
(sau đổi ra Vĩnh Thuận). Mỗi huyện 18 phường. Như vậy, Thăng Long có 36 phường. Suốt ba
thế
kỷ,
nhau
chơi
khắp
Long
Thành
Ba
mươi
sáu
phố
rành
rành
chẳng
sai.
Hàng
Bồ,
Hàng
Bạc,
Hàng
Gai
Hàng
Buồm,
Hàng
Thiếc,
Hàng
Bài,
Hàng
Khay
Mã
Vĩ,
Hàng
Đông
Hàng
Hòm,
Hàng
Đậu,
Hàng
Bông,
Hàng
Bè
Hàng
Thùng,
Hàng
Bát,
Hàng
Tre
Hàng
Vôi,
Hàng
Giấy,
Hàng
The,
Hàng
Gà
Qua
đi
đến
phố
Hàng
Da
Trải
tại
vĩnh
viễn
và
phát
triển
không
ngừng.
Xen lẫn với công trình tôn giáo, lịch sử,vv… la các công trinh kiến trúc nhà ở. Sau khi thực dân
Pháp đánh chiếm Hà Nội, quy hoạch Hà Nội bắt đầu có sự thay đổi. Khu phố cổ có nhiều thay
đổi mạnh mẽ bên cạnh những ngôi nhà bên đường phố được xây gạch lợp ngói xuất hiện các
ngôi nhà có mặt tiền được làm theo kiểu cách Châu Âu. Phần lớn các kiểu nhà truyền thống (mà
ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy trong khu vực phố cổ) được xây từ cuối thế kỷ XIX hoặc được
xây dựng lại vào đầu thế kỷ XX. Nhà hình ống quay mặt ra mặt phố, chiều rộng trung bình của
mặt tiền từ 2-4m, trong khi đó chiều dài có thể từ 20-60m và có một số trường hợp lên tới 150m.
Nhà có nhiều lớp và cách nhau bằng những sân trong, các sân trong thông thoáng để lấy ánh
sáng tự nhiên. Sân trong còn là nơi diễn ra các hoạt động đa năng của nhà. Ngoài sân trong, trong
các
ngôi
nhà
này
trước
đây
còn
có
các
mảnh
vườn
Thạch Lam đã khiến nhiều người đọc xong mặc định Hà Nội có 36 phố phường.
Câu
2:
* Ngày 19/8/1945 các đội tiền thân của LLVT Thủ đô đã làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân
Hà Nội tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân ở Hà Nội.
* Ngày 19/10/1946, Chiến khu XI - Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ
đô Hà Nội được thành lập trên cơ sở Khu đặc biệt Hà Nội.
* Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và
chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Chiến khu XI với tinh thần
"Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" đã nổ súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến và từ đó kiên
cường chiến đấu giam chân địch trong Thành phố suốt 60 ngày đêm (vượt gấp đôi chỉ tiêu Trung
ương giao), tiêu hao, tiêu diệt lớn sinh lực địch, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh
của thực dân Pháp, bảo vệ tuyệt đối an toàn Trung ương Đảng, Chính phủ, tạo điều kiện cho cả
nước có thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài.
* Làm nòng cốt cho nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh vũ trang góp phần đưa cuộc kháng
chiến
đến
thắng
lợi.
Một
số
chiến
công
tiêu
biểu:
- Trận đánh sân bay Bạch Mai: Diễn ra vào đêm ngày 17 và dạng sáng ngày 18/01/1950. Trong
trận đánh này, ta tổ chức lực lượng tập kích vào sân bay của địch, lực lượng gồm 32 chiến sỹ
được lựa chọn từ Tiểu đoàn 108. Kết quả, ta phá hủy 25 máy bay các loại, 60 vạn lít xăng dầu,
* Ngày 10/10/1954, LLVT Thủ đô đã góp phần tích cực cùng với bộ đội chủ lực tiến hành tiếp
quản Thủ đô bảo đảm tuyệt đối an toàn, nhanh chóng tiếp quản toàn bộ Thành phố Hà Nội, bao
gồm hàng loạt các căn cứ quân sự cùng 129 công sở, xí nghiệp, bệnh viện, trường học được giữ
nguyên
vẹn.
* LLVT Thủ đô phối hợp với các lực lượng đánh thắng 2 cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân của đế quốc Mỹ. Đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm, từ 18/12/1972 – 30/12/1972.
Trong chiến dịch này, đế quốc Mỹ đã huy động tối đa sức mạnh không lực Hoa Kỳ đánh phá hủy
diệt Hà Nội. Chúng sử dụng 444 lần chiếc B52, hơn 1.000 lần chiếc máy bay chiến thuật, trong
đó có hàng trăm lần chiếc F111, ném khoảng 10.000 tấn bom đạn xuống 4 thị trấn, 39 phố, 67 xã
và
4
khu
vực
đông
dân.
Không khuất phục, quân dân Hà Nội phối hợp chặt chẽ với lực lượng Phòng không, Không quân
quốc gia kiên cường, dũng cảm chiến đấu bắn rơi 32 máy bay, trong đó có 25 chiếc máy bay
B52, 2 F111 và 5 máy bay chiến thuật. Chiến thắng của quân dân Hà Nội đã làm nên một "Điện
Biên Phủ trên không", làm tiêu tan huyền thoại sức mạnh không lực Hoa Kỳ. Hà Nội không trở
về "thời kỳ đồ đá" mà trở thành "Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người", buộc đế quốc Mỹ
ký kết Hiệp định Pa-ri "Về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam", cam kết tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân viễn chinh và
quân chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam, tạo nên thời cơ chiến lược cho cách mạng Việt Nam
tiến
tới
giải
phóng
đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cực kì to lớn, mở ra một thời kì mới hết sức vẻ vang trong
lịch sử ngàn năm văn hiến Thăng Long – Đông Đô ở thời đai Hồ Chí Minh quang vinh. Sự kiện
này giúp nhân dân lao động được xoá bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột, phấn khởi đi vào công cuộc
xây dựng xã hội mới. Đản và nhà nước ta đã 3 lần rặng cho thủ đô Hà Nội huân chương sao vàng
các năm 1994, 2004, 2010vaf danh hiệu thàh phố Anh hùng vào năm 2000. Nhắc lại sử cũ,
chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống , lịch sử vẻ vang và mỗi công dân mảnh đất nghìn
năm văn hiến càng nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc xây dựng một Thủ Đô ngày càng
phát triển, hiện đại để xứng đáng là thủ đô hoà bình, thủ đô ngàn năm văn hiến- trung tâm kinh
tế, văn hoá, giáo dục,.. của cả nước, đồng thời chúng ta càn thêm trách nhiệm trong việc lưu giữ
nền văn hoá, lịch sử thủ đô Hà Nội.
*Sự kiện ngày 10/10/1954
Từ sáng sớm, ngày 10-10-1954, nhân dân Thủ đô quần áo chỉnh tề, mang cờ, ảnh Bác Hồ và
những bó hoa tươi thắm, thành đội ngũ trật tự theo từng công sở, xí nghiệp, trường học, khu
phố...kéo tới những con đường đã được báo trước là bộ đội hành quân qua.
Đoàn xe đầu tiên do thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch ủy ban quân chính và bác sĩ Trần
Duy Hưng, Phó Chủ tịch ủy ban quân chính Hà Nội dẫn đầu.
8 giờ: Cánh quân phía Tây xuất phát từ Quần Ngựa. Đó là những chiến sĩ bộ binh của trung
đoàn Thủ đô do Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Trị, Anh hùng quân đội dẫn đầu. Các chiến sĩ
diễu binh qua Kim Mã, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang...Đến 9 giờ
45
phút,
cánh
quân
đã
tiến
vào
Cửa
Đông,
các đơn vị quân đội. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch ủy ban quân chính Vương Thừa Vũ đã trân trọng
đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.
"Tám năm qua, Chính phủ bắt buộc phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước.
Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hoà bình đã thắng lợi.
Chính phủ lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết kể...".
Trong trang sử đấu tranh của Hà Nội, ngày 10-10-1954 là một mốc son lớn, có ý nghĩa rất trọng
đại đối với mỗi người dân Thủ đô và đối với mỗi người dân Việt Nam
Câu 3:
Việt Nam có vùng biển rộng, với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa. Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khu vực biển có vị trí từ 16°32'05"B – 111°36'30"Đ, cách đảo
ý Sơn khoảng 120 hải lý.Quần đảo Trường Sa nằm trong khu vực phía đông từ 6030’ đến 12000
độ vĩ Bắc, 111000 đến 117020’ độ kinh Đông, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 248 hải
lý. Đây là 2 quần đảo tiền tiêu của Tổ Quốc, là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam
Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam
đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua. Nói chính xác là các Nhà nước Việt
Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần
đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và
thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và
hòa
bình.
Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù như đã nói, do
hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy
nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam
trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai
quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là,
nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ
Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam
Trung Quốc), đại diện của chính phủ Bảo Đại đã khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất cứ sự phản đối nào của các
nước tham dự Hội nghị.
Năm 1975, cùng với tiến trình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Hải quân nhân dân
Việt Nam đã giải phóng các đảo do quân đội Sài Gòn đóng giữ, như: đảo Trường Sa, Sơn Ca,
Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang,… thuộc quần đảo Trường Sa. Đồng thời, Chính
phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền
của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Liên tục từ đó đến nay, Chính phủ
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và Việt Nam có đầy đủ chủ
quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế. Để
tiếp tục thể hiện các hoạt động chủ quyền trên thực tế, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành
lập huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh
Quảng Nam - Đà Nẵng (năm 1982). Hiện nay, huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà
Nẵng; huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa với một thị trấn và hai xã đảo.
Từ những phân tích trên cho thấy, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng
định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng thời, Việt Nam
cũng là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo này một cách liên tục,
hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.
*Trách nhiệm của học sinh
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, tuy chỉ là học sinh trung học cơ sở nhưng chúng ta cũng phải có
trách nhiệm trong việc nghiên cứu sâu sắc và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng của chủ
quyền mà ông cha ta đã phải đổ bao sương máu để xây dựng.Mỗi người học sinh chúng ta ai
cũng cần phải nắm rõ về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển
đảo, lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Để hoàn thành tốt điều đó, chúng ta cần:
-Tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và nhà nước ta về vấn đề biển đông cũng
như nội dung của luật pháp, chế độ pháp lý của các vùng biển theo công ước Liên hợp quốc về
luật
môi
trường
biển.
Xây
dựng
và
quảng
bá
thương
hiệu
biển
Việt
Nam.
- Góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị thế quốc gia biển và hội nhập quốc tế trong
quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, đảo.
-Tích cực tổ chức và tham gia tới các cuộc thi liên quan tới biển đảo và hải đảo Việt Nam như
cuộc thi tìm hiểu về biển đảo,em yêu lịch sử Việt Nam, vẽ tranh,tổ chức ca nhạc,…
-Thường xuyên gửi thư đến các người lính đảo để chia sẻ và động viên và tiếp sức cho các cô
chú thêm động lực để trông giữ biển đảo
-Không ngừng học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt để góp một phần công sức vào công
cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
-Ra sức giữ gìn biển đảo của tổ quốc như lời Bác Hồ đã dặn: “Các Vua Hùng Đã có công dựng
nước,Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.