VĂN MẪU 11: HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM ĐỌC VÀ HIỂU VỀ BÀI HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM - Pdf 38

VĂN MẪU 11: HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM
ĐỌC VÀ HIỂU VỀ BÀI HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM

BÀI SỐ 1:

1. Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành
Nguyễn Tường Lân. Thạch Lam sinh ra ở Hà Nội, khi cha mất việc, ông về sống ở huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tuổi thơ nơi phố huyện nghèo này đã để lại dấu ấn đậm nét
trong sáng tác của Thạch Lam. Ông cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo là những cây bút
chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn. Tuy vậy, sáng tác của Thạch Lam có phong cách
riêng so với hầu hết các nhà văn lãng mạn 1930 – 1945.
Tác phẩm chính : Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc (tập truyện ngắn), tiểu
thuyết Ngày mới, tiểu luận Theo dòng, tuỳ bút Hà Nội băm sáu phố phường…
Tác phẩm của Thạch Lam có một giọng điệu trữ tình rất riêng. Nhẹ nhàng, tình
cảm và giàu chất thơ, tác phẩm của Thạch Lam có khả năng đi sâu vào trái tim người đọc.
Viết về cuộc sống khổ cực hay về những nét đẹp của Hà Nội xưa, văn Thạch Lam đều
thấm đượm tinh thần nhân văn chủ nghĩa.
2. Hai đứa trẻ là truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của
Thạch Lam. Một cách rất nhẹ nhàng mà thấm thía, qua tâm trạng của hai đứa trẻ và cảnh
sống nghèo cực của những người dân nơi phố huyện, nhà văn đã thể hiện những tư tưởng
nhân đạo sâu sắc về thân phận con người. Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực, vừa thấm
đẫm tinh thần nhân đạo.
Truyện ngắn của Thạch Lam thường không có cốt truyện, tác giả thường đi sâu
vào miêu tả nội tâm nhân vật với những cảm xúc và cảm giác mơ hồ, mong manh. Miêu
tả những diễn biến nội tâm tinh tế, sâu sắc của nhân vật là biệt tài của Thạch Lam. Trong
Hai đứa trẻ, nhà văn đã sử dụng thành công thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản, qua


đó đặc tả được cảnh nghèo và tương lai không mấy sáng sủa của những người dân phố
huyện. Với giọng điệu tâm tình, ngôn ngữ, diễn đạt tinh tế, giàu chất thơ, tác phẩm mang
lại cho người đọc những rung động hết sức tinh tế và nhân bản.

thấy trong một khoảnh khắc rất ngắn thứ ánh sáng sang trọng trên những toa tàu, hồi ức
về những ngày sống sung sướng ở Hà Nội của hai đứa trẻ và những suy nghĩ của cô bé
Liên là tất cả tình tiết cơ bản của câu chuyện. Một câu chuyện dung dị, đời thường, không
tô vẽ và một lối kể chuyện như tâm tình thủ thỉ với chính mình là những nét riêng trong
nghệ thuật kể chuyện của Thạch Lam ở Hai đứa trẻ.
Trong Hai đứa trẻ, nhà văn đặc biệt chú ý đến miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật.
Chính vì thế mới gọiHai đứa trẻ là loại truyện ngắn trữ tình. Nhà văn chú ý miêu tả tâm
trạng của cô bé Liên. Cảnh vật cũng được nhìn bằng ánh mắt của Liên. Là nhân vật trung
tâm của truyện, những hành động của Liên không được chú tâm miêu tả. Câu chuyện như
một dòng tâm trạng của nhân vật, từ khi chứng kiến cảnh chiều xuống đến khi chuyến tàu
đêm đi qua. Có thể nói nhân vật Liên thuộc loại nhân vật trữ tình trong văn xuôi. Qua
những cảm nhận của Liên về cảnh vật và cuộc sống xung quanh, nhà văn thể hiện một
nỗi buồn thấm thía và sâu sắc về số phận con người. Nỗi buồn của cô bé Liên cứ tăng tiến
dần theo sự muộn dần của đêm. Khi chợ tàn và khi nhìn cảnh chiều đến, một buổi chiều
êm như ru của phố huyện, lòng Liên man mác buồn mà không rõ nguyên nhân. Khi bóng
đêm bao trùm phố huyện, “một đêm mùa hạ êm như nhung”, lại càng đáng sợ hơn. Cuộc
sống quá buồn tẻ. Chẳng hứa hẹn một điều gì thay đổi cả. Nỗi buồn của Liên không trực
tiếp thể hiện qua ngôn ngữ mà thể hiện ở ánh mắt “trong mắt chị bóng tối ngập đầy
dần”, qua tâm trạng chờ đợi chuyến tàu đêm. Cuộc sống nơi phố huyện nghèo ấy vô
cùng đơn điệu, ngày hôm sau là sự lặp lại y nguyên ngày hôm trước : chị Tí lại dọn hàng
nước dù chẳng hi vọng gì nhiều, vợ chồng bác Xẩm xuất hiện với chiếc đàn bầu ảo não,
người nhà thầy thừa đi gọi người đánh tổ tôm… Kể cả buổi chợ đúng phiên cũng tiêu
điều xơ xác, hàng họ bán chẳng được là bao. Cuộc sống tối tăm và ngột ngạt, đơn điệu và
buồn tẻ. Sống trong cảnh bế tắc ấy, những người như chị em Liên đã tìm được một cứu
cánh tinh thần. Họ đã hàng đêm miệt mài ngồi chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua với chút hi


vọng vô cùng mong manh. Liên và An háo hức chờ đợi chuyến tàu để được gặp lại chút
ánh sáng của những ngày còn được sống sung túc. Những người bán hàng chờ đợi khách
xuống tàu dù họ vẫn biết chẳng mấy khi có khách xuống ở cái ga xép này. Họ đều chờ

thực. Cái độc đáo trong lựa chọn chi tiết của Thạch Lam là như vậy. Chỉ bằng chi tiết mà
tái hiện được cả bộ mặt hiện thực.
Nghệ thuật lựa chọn chi tiết còn được thể hiện khi miêu tả cảnh đêm. Nhà văn đã
dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối. ánh sáng ngọn đèn dầu ở hàng nước chị Tí, ở gánh
phở của bác phở Siêu làm nổi bật sự mênh mông của đêm tối ở làng quê. Nghệ thuật
tương phản làm người đọc cảm nhận rõ hơn sự mênh mông của đêm tối. Còn ánh sáng
đoàn tàu vụt qua trong thoáng chốc với những ồn ào và sôi động của nó càng tăng thêm
sự tĩnh mịch, tăm tối và buồn tẻ nơi phố huyện nghèo. Và ánh sáng ngọn đèn dầu của chị
Tí chập chờn đi vào giấc ngủ của Liên – hình ảnh kết thúc câu chuyện- đã để lại một
niềm day dứt, một dư âm cho tác phẩm
Nhẹ nhàng và tinh tế, Thạch Lam đã vẽ lên một bức tranh đầy sức gợi về một phố
huyện nghèo. Qua tâm trạng của Liên, cuộc sống của hai chị em và người dân nơi phố
huyện ấy, nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực mà còn thể hiện một tư tưởng nhân văn
có giá trị lâu dài. Trước hết, tác phẩm là bức tranh chân thực về đời sống phố huyện
nghèo với những kiếp người nhỏ nhoi, tội tình (hai đứa trẻ, chị bán hàng nước ban ngày
đi mò cua xúc tép, vợ chồng người hát xẩm&hellip. Chẳng có gì đảm bảo cho tương lai
của họ. Phía trước họ càng nhìn càng tối, ánh sáng của hi vọng dù có nhưng chỉ le lói ở
chính nơi họ ngồi. Hiện thực thì nghèo khó, không gì hứa hẹn ở tương lai, những con
người nhỏ bé ấy sống như thế nào. Họ gửi gắm ước mơ vào chuyến tàu đêm với một
luồng ánh sáng phù hoa tan biến rất nhanh. Qua việc tả cảnh kiên trì hàng đêm chờ tàu
qua rồi mới dọn hàng, mới đi ngủ của những con người ấy, nhà văn muốn thể hiện một tư
tưởng nhân văn. Đó là khẳng định sự bất diệt của khát vọng, ước mơ. Cuộc sống dù
nghèo khổ, tăm tối và bế tắc đến đâu cũng không thể dập tắt được hi vọng và khát vọng
của con người.


Tác phẩm đã thể hiện tình thương yêu vô bờ và sự trân trọng của nhà văn đối với
những thân phận nhỏ bé trong xã hội. Một cốt truyện nhẹ nhàng nhưng giá trị thật sâu sắc
và thấm thía. Với một con đường rất riêng, ngòi bút của Thạch Lam đã đánh thức lòng
trắc ẩn trong tâm hồn mỗi con người và làm nảy sinh ở họ những tình cảm nhân văn cao

riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang
trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam”
(Hà Nội băm sáu phố phường). Có thể xem truyện ngắn Hai đứa trẻ như một phiên bản
thu nhỏ hầu hết những đặc điểm về nội dung tư tưởng tình cảm cũng như văn phong
Thạch Lam đã nói ở trên.
2. Cái tài của Thạch Lam là ở chỗ : thật dung dị, thật nhẹ nhàng, chỉ bằng vài trang
văn xuôi giàu chất thơ mà đưa được người đọc về một thế giới của một cuộc sống tối
tăm, buồn tẻ, đáng thương… đáng thương nhất là hai đứa trẻ. Vì lẽ ấy, tác phẩm là một
lời kêu cứu : Hãy cứu lấy cuộc sống của những con người như Liên và An, hãy tìm cách
cải tạo sự tẻ nhạt của những “ao đời” tù đọng…
3. … Trong văn hoá Việt Nam trước Cách mạng 1945, Thạch Lam là một trong số
những nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc. Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh,
nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc. Dưới cái hình thức không
những thoát ra khuôn sáo cũ của cách hành văn đương thời mà lại có rất nhiều đức tính
sáng tạo ấy, văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn
nhạy cảm và từng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng
ngày. Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân
cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị khác và thôn quê. Thạch
Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người chung
quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những
tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học. Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu
lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính…


BÀI SỐ 2:

Tác giả: Thạch Lam (1910-1942)
a. Cuộc đời:
- Ông là nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn.
- Đặc điểm con người: Sống trầm tĩnh và điềm đạm, rất tinh tế. Đặc điểm ấy để lại
Tác giả tập trung mô tả tâm trạng

một gian hàng để bán nhưng gia tài chẳng đáng bao nhiêu. Với gia tài như thế, họ cũng
không hi vọng có một cuộc sống khá giả hơn.
=> NX chung: Có thể nói mỗi con người xuất hiện trong câu truyện đều có một
cảnh ngộ riêng nhưng đều mang một đặc điểm chung là tất cả đều sống trong mòn mỏi,
buồn chán, bế tắc, không một chút hi vọng gì về cuộc sống hạnh phúc, tươi sáng hơn
nhưng điều quan trọng nhất là tất cả những mảnh đời ấy, cảnh ngộ ấy đã hiện lên qua cái
nhìn bùi ngùi, thương cảm của nhà văn. Tất cả được thể hiện rất rõ qua cách hành văn,
qua những chi tiết tưởng như ngẫu nhiên: mùi vị của đất, cảnh chợ tàn, hai đứa trẻ nghĩ
đến bát phở…đặc biệt là chi tiết ánh đèn leo lét nơi ngọn đèn hàng nước của chị Tí cứ láy
đi láy lại (xuất hiện 7 lần trong tác phẩm) tạo ra ở người đọc nỗi thương cảm trong khi đó
hiện tại là một màn đêm dày đặc đầy bóng tối. Kết thúc tác phẩm, hình ảnh ngọn đèn ấy
gây một ấn tượng day dứt cuối cùng đi vào giấc ngủ của chị em Liên: “Liên thấy mình
sống giữa bao sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng
đất nhỏ”.


2. Nhịp sống ở phố huyện nghèo trong câu truyện cứ lặp đi lặp lại một cách quẩn
quanh đơn điệu, tẻ nhạt và tù túng:
- Chị em Liên chiều nào cũng ngồi đếm tiền dù họ chẳng bán được bao nhiêu,
ngày nào cũng ngồi trên chiếc chõng sắp tàn và đêm nào cũng kiên nhẫn thức chờ đợi để
được nhìn tàu từ Hà Nội về.
- Mẹ con chị Tí dù chẳng kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào cũng dọn hàng
- Gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt để trước mặt, nhưng bác
chưa hát vì chưa có khách nghe thì thỉnh thoảng góp chuyện bằng tiếng đàn bầu bật trong
yên lặng.
+ Cảnh sống của họ thật bấp bênh, bế tắc. Chừng ấy người trong bóng tối ngày
này qua ngày khác cứ sống trong sự quẩn quanh, tẻ nhạt ấy. Đó là lối sống mà Xuân Diệu
từng viết: “Hết cơm mai rồi lại cơm chiều”.
+ Đó là cuộc sống của những con người trong ao đời bế tắc, tù túng nhưng cũng
chính đó lại là lí do thức đợi tàu của bằng ấy mảnh đời nơi phố huyện nghèo bởi chuyến

khát vọng hướng tới cuộc sống hạnh phúc.Mặt khác qua tâm trạng đó, nhà văn Thạch
Lam lên tiếng tố cáo, lên án xã hội đã vùi dập, đẩy con người vào cuộc sống tăm tối, nhất
là trẻ thơ. Cuộc sống nơi phố huyện có khác nào mảnh đất cằn cỗi, bạc phếch mà hai chị
em Liên như hai mầm non mọc trên đó sẽ ra sao? Nó sẽ tàn héo, lụi tàn. Nhà văn lên
tiếng đòi thay đổi cuộc sống, đem lại cho những đứa trẻ cuộc sống xứng đáng hơn, có
hạnh phúc, có tương lai.
4. Qua “Hai đứa trẻ” nhà văn còn thể hiện tấm lòng thiết tha gắn bó với quê
hương, đất nước, thiên nhiên.
- Qua câu truyện, tác giả đã dựng lên cái gần gũi, thân thiết, rất gần gũi, thân thiết,
gợi cảm.


- Các nhân vật trong câu truyện dù sống trong cuộc sống tù đọng, leo lét, mòn mỏi
vẫn thiết tha với cuộc sống nơi phố huyện: “Một mùi ẩm thấp bốc lên, hơi nóng của ban
ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất,
của quê hương này”.
- Dù sống trong nghèo khổ, lam lũ, hai đứa trẻ vẫn thiết tha ngắm sao và tìm sông
Ngân Hà và con vịt theo sau ông thần Nông, ngắm những đợt hoa bàng khẽ rơi khe khẽ,
vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây.
=> Đó là những hình ảnh của quê hương, đất nước rất thân thuộc quanh ta nhưng
qua cách hành văn nhẹ nhàng, dịu dàng đầy chất thơ đã trở nên gợi cảm biết bao. Từ đó
nhà văn bồi đắp cho người đọc tình yêu quê hương đất nước




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status