Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của hộ sản xuất hồ tiêu Việt Nam Trường hợp điển hình vùng Đông Nam Bộ - Pdf 38

Những điểm mới và kết quả đạt được khi nghiên cứu của đề tài
“Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của hộ sản xuất
hồ tiêu Việt Nam - Trường hợp điển hình vùng Đông Nam bộ”

Điểm mới nhất của đề tài so với những công trình nghiên cứu trước đó về
ngành hàng hồ tiêu trong và ngoài nước là ngoài phương pháp phân tích bằng mô tả
thống kê, tác giả đã vận dụng mô hình kinh tế để phân tích định lượng các yếu tố
chính tác động đến thu nhập của hộ sản xuất hồ tiêu vùng Đông Nam bộ.
Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu đó, các kết quả thu được qua quá trình
nghiên cứu đề tài là tư liệu bổ sung cho nguồn dữ liệu nghiên cứu về ngành hàng hồ
tiêu Việt Nam, mô hình kinh tế cụ thể:
16,183

1,069

-0,733

0,230

Y1= e
Aps Cu
U
Y2= e20,205 Aps0,525Cu-0,860 U0,683Se0,326
Khi năng suất đất (Aps) tăng hay giảm 1% thì thu nhập ròng/ha (Y1) và thu
nhập lao động gia đình (Y2) trung bình sẽ tăng, giảm tương ứng là 1,069% và
0,525% trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi.
Khi chi phí trung bình (Cu) tăng hay giảm 1% thì thu nhập ròng /ha và thu
nhập lao động gia đình trung bình giảm, tăng tương ứng là 0,733% và 0,860% trong
điều kiện các yếu tố khác không thay đổi.
Khi kiến thức nông nghiệp (U) tăng hay giảm 1% (theo giá trị thang bảng
điểm của đề tài) thì thu nhập ròng/ha và thu nhập lao động gia đình trung bình tăng,


Tác giả xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung trình bày trong Luận văn là do
chính bản thân nghiên cứu và thực hiện, các dữ liệu được thu thập từ các
nguồn hợp pháp và được phản ánh một cách trung thực.

Lời Tri ân
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến:

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Quý Thầy cô;
Các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp;
Các cán bộ huyện và xã tại các vùng điều tra; và
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam

Chuyên ngành : Kinh tế Phát triển
Mã số

Đã nhiệt tình hướng dẫn và hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu!

: 60.31.05
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Châu

Giảng viên hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Đinh Phi Hổ

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008



1.2.1
1.2.2

Đặt vấn đề
Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết cấu của đề tài
Cơ sở khoa học và thực tiễn
Các lý thuyết kinh tế
Thu nhập và các thước đo thu nhập của hộ sản xuất
nông nghiệp
Mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố
đầu vào
Chi phí sản xuất
Mức sản lượng đạt lợi nhuận tối đa và quyết định
sản xuất
Đất – tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành trồng trọt
Lao động và năng suất lao động trong nông nghiệp
Kiến thức nông nghiệp
Tiến bộ công nghệ và tăng trưởng sản lượng trong
nông nghiệp
Một số công trình nghiên cứu điển hình về hồ tiêu
của Việt Nam và thế giới trong những năm gần đây
Tại Việt Nam
Trên thế giới

2.1.


3.1.
3.1.1
3.1.2

10
11
13
15
16
16
20

3.1.3
3.2.
3.2.1
3.2.1.1
3.2.1.2

Mô hình lựa chọn
Kết luận Chương 1
Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập
của Hộ sản xuất hồ tiêu vùng Đông Nam bộ
Tổng quan sản xuất hồ tiêu của Việt Nam và Thế
giới
Sản xuất hồ tiêu trên thế giới
Sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam và vùng Đông Nam
bộ
Mô tả điều tra
Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của

31
32
32
32
34
36
38
39
40
42
43
43
43
45
46
48
48
48
48


3.3.1.3
3.2.2
3.2.2.1

Duy trì quy mô diện tích trồng dưới 1ha
Nhóm giải pháp nâng cao kiến thức nông nghiệp
Tăng cường tính thường xuyên và đa dạng của
thông tin cung cấp
3.2.2.2


Tên các bảng và hình vẽ

48
49
49
Tiêu đề

50
50
50
50
50
51
51
51
52
52
54
58

Trang

Bảng 1.1 Hiệu quả kinh tế của sản xuất hồ tiêu
Bảng 1.2 Hiệu quả đầu tư hồ tiêu, tính bình quân trên các vùng
Đông Nam bộ và Phú Quốc theo quan điểm của ngân
hàng
Bảng 1.3 Hiệu quả sản xuất cây hồ tiêu và một số cây trồng khác
Bảng 1.4 Kết quả đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các
yếu tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất hồ tiêu trên

thời kỳ
Diện tích trồng hồ tiêu của vùng điều tra mùa vụ 2006
Biểu đồ giá xuất khẩu FOB/ tấn tiêu đen và lượng cung
giai đoạn 1989 – 2007

18
19

31
33
35
37
38

13
26
30
32
44


Tên ký hiệu và chữ viết tắt
Bộ NN& PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
GAP: Thực hành nông nghiệp tốt (good agricultural practices)
IPC: Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (International Pepper Community)
IPM: Quản lý dịch bệnh tổng hợp (integrated pest management)
NSLĐ: Năng suất lao động
TFP: Các yếu tố năng suất tổng hợp (total factors of productivity)
VPA: Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (Việt Nam Pepper Association)
VN: Việt Nam

của các yếu tố đầu vào ngày càng tăng cao, và giá hồ tiêu trên thị trường thường
xuyên biến động lên xuống.
Những rủi ro nêu trên nếu không có biện pháp giảm thiểu kịp thời chắc chắn hậu
quả mang đến cho sản xuất sẽ không nhỏ và ảnh hưởng mạnh mẽ đến thu nhập của
người trồng tiêu, vì vậy việc đi tìm lời giải cho bài toán ổn định và tăng thu nhập
cho hộ sản xuất hồ tiêu là yêu cầu cần thiết.

1


Ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến
cung và cầu, điển hình gồm có: giá cả của các sản phẩm có thể thay thế hồ tiêu, thu
nhập và thị hiếu của người tiêu dùng, giá bán của hồ tiêu trên thị trường, tiến bộ
công nghệ, các yếu tố đầu vào của sản xuất, các chính sách của chính phủ, thời tiết
và dịch bệnh. Vì điều kiện về thời gian và kinh phí có hạn nên tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu một số yếu tố chính về phía cung thuộc các nhóm yếu tố đầu vào như
vốn, lao động và kỹ thuật công nghệ của quá trình sản xuất hồ tiêu và không gian
lựa chọn là Vùng Đông Nam bộ - Vùng trồng hồ tiêu trọng điểm chiếm 60% diện
tích trồng và sản lượng hồ tiêu của cả nước năm 2006.
Do vậy đề tài có tên là: “Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của hộ
sản xuất hồ tiêu Việt Nam - Trường hợp điển hình ở vùng Đông Nam bộ”
2. Câu hỏi nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp hai câu hỏi:
Thứ nhất: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chính về phía cung đến thu nhập
của hộ sản xuất hồ tiêu tại Vùng Đông Nam bộ như thế nào?
Thứ hai: Giải pháp nào để ổn định và tăng thu nhập cho Hộ sản xuất hồ tiêu?
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm xác định những kết quả cần đạt được để trả lời
cho các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, đó là:
Xác định các yếu tố chính về phía cung và sự tồn tại mối tương quan giữa

tra nhanh nông thôn để tạo lập dữ liệu sơ cấp.
Thống kê các dữ liệu thứ cấp từ việc kế thừa có chọn lọc các công trình khoa học
đã thực hiện trong và ngoài nước về ngành hồ tiêu, thu thập các dữ liệu của ngành
hàng hồ tiêu Việt Nam và thế giới thông qua Tổng cục Thống kê, Hiệp hội Hồ tiêu
Việt Nam, Bộ NN & PTNT, tổ chức Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), và các báo
cáo kinh tế xã hội của các địa phương.
Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các số liệu và thông tin thu thập, kết
hợp phân tích thống kê mô tả và phân tích định lượng thông qua mô hình kinh tế
lượng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong quá trình phân tích các số liệu của ngành hàng hồ tiêu sẽ kiểm nghiệm các
kết luận của những lý thuyết kinh tế vi mô và vĩ mô liên quan.
Những luận cứ khoa học, các nội dung phân tích và đặc biệt là kết quả từ mô hình
đánh giá tác động của một số yếu tố chính về phía cung đến thu nhập của Hộ sản
xuất hồ tiêu, một mặt sẽ cung cấp dữ liệu mới bổ sung cho các công trình nghiên
cứu trước đó, mặt khác sẽ là tư liệu tham khảo cho các địa phương vùng Đông Nam
bộ và các nhà hoạch định chiến lược của ngành hàng hồ tiêu trong việc xác định các
giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và phát triển sản xuất hồ tiêu bền vững ở vùng
Đông Nam bộ.
7. Kết cấu của đề tài
Các nội dung nghiên cứu được trình bày trong ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn.
Chương này sẽ trình bày một số lý thuyết kinh tế vi mô và vĩ mô có liên quan đến
hàm sản xuất, chi phí, lợi nhuận, đất, lao động, năng suất lao động,và đề cập một số
công trình nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước, từ đó có đầy đủ cơ sở khoa
học và thực tiễn xác định những yếu tố chính của sản xuất hồ tiêu ảnh hưởng đến

3




Các lý thuyết kinh tế
1.1.1 Thu nhập và các thước đo thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp
Thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp là giá trị bằng tiền biểu hiện cho kết quả của
quá trình sản xuất và được xác định thông qua các thước đo sau:
Thu nhập gộp - giá trị tổng sản phẩm hay tổng doanh thu là tích của giá bán
sản phẩm và tổng sản lượng đầu ra.
Thu nhập ròng - lợi nhuận là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí,
thu nhập ròng phản ánh hiệu quả kinh tế của sản xuất.
Thu nhập lao động gia đình là tổng của lợi nhuận và chi phí cơ hội của lao
động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất.
Như vậy cùng với giá bán, sản lượng đầu ra và chi phí là những nhân tố quyết định
trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp. Vậy những yếu tố nào liên quan
đến sản lượng và chi phí sản xuất, và khi nào hộ sản xuất nông nghiệp sẽ có được
thu nhập tối ưu? Để giải đáp cho câu hỏi này chúng ta tìm hiểu một số lý thuyết
kinh tế liên quan dưới đây:
1.1.2 Mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào:
Sản xuất là quá trình chuyển hóa những yếu tố đầu vào thành những yếu tố đầu ra
hay còn được gọi là sản lượng đầu ra hoặc sản phẩm, và kết quả của sản xuất do
lượng và chất của các yếu tố đầu vào và công nghệ sử dụng quyết định, mối tương
quan phụ thuộc đó được diễn tả qua hàm sản xuất “Hàm sản xuất biểu diễn mối
quan hệ kỹ thuật hiệu quả của việc kết hợp các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản
lượng đầu ra”1 hay “Hàm sản xuất mô tả những số lượng sản phẩm (đầu ra) tối đa
có thể được sản xuất bởi một số lượng các yếu tố sản xuất (đầu vào) nhất định
tương ứng với trình độ kỹ thuật nhất định”2. Dạng tổng quát của hàm sản xuất:
Y= f (X1, X2, X3, X4..., Xn)
Với: Y là sản lượng đầu ra;
Xi là số lượng yếu tố đầu vào thứ i, các yếu tố đầu vào được chia thành ba
nhóm:
1

động trực tiếp mà thôi. Trong nông nghiệp những yếu tố biến đổi trong ngắn hạn
chủ yếu là yếu tố phân bón, nước tưới và lao động.
Năng suất trung bình của yếu tố đầu vào biến đổi (APXi) đánh giá mức độ đóng góp
của yếu tố đầu vào biến đổi trong quá trình sản xuất, APXi = Y/ Xi, còn năng suất
cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi (MPXi) sẽ xác định mức gia tăng của sản lượng
khi tăng một đơn vị yếu tố đầu vào biến đổi đó trong điều kiện giữ nguyên các yếu
tố sản xuất khác, công thức tính: MPXi=ΔY/ ΔXi.
Việc gia tăng lượng yếu tố đầu vào biến đổi không phải lúc nào cũng làm cho sản
lượng tăng theo, giai đoạn đầu khi tăng lượng yếu tố đầu vào năng suất cận biên và
năng suất trung bình của yếu tố đó đều tăng dần lên dẫn đến sản lượng tăng nhanh,
nhưng khi lượng tăng vượt quá một mức nhất định thì sẽ làm cho năng suất trung
bình và năng suất cận biên của yếu tố đó cùng giảm dần cho đến khi năng suất cận
biên < 0 thì sản lượng bắt đầu giảm. Hiện tượng này có tính quy luật, một quy luật
về công nghệ: duy trì tất cả các yếu tố sản xuất không thay đổi ngoại trừ một yếu tố,
quy luật năng suất cận biên giảm dần cho rằng đến một mức nhất định, sự tăng

7


thêm đầu vào biến đổi này dẫn đến năng suất cận biên của nó giảm dần1. Mối quan
hệ giữa MPX, APXi, và Y như sau:
MPXi>0 thì Y tăng dần;
MPXi > APXi thì APXi tăng dần;
MPXi < 0 thì Y giảm dần;
MPXi < APXi thì APXi giảm dần;
MPXi = 0 thì Y đạt cực đại.
MPXi = APXi thì APXi đạt cực đại.
Như vậy hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào biến đổi cao nhất khi năng suất cận biên
và năng suất bình quân bằng nhau, hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào biến đổi đó vẫn
còn khi năng suất cận biên của nó dương, và sản lượng sẽ đạt tối đa khi năng suất

8

1.1.3 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất (TC) là toàn bộ chi phí bằng tiền mà nhà sản xuất đã chi ra để mua
các yếu tố đầu vào, tính đầy đủ chi phí sản xuất còn bao gồm cả chi phí cơ hội của
mọi nguồn lực trong sản xuất là số tiền mà khoản đầu tư có thể thu được nếu sử
dụng nó vào việc khác với mức trả cao hơn.
Chi phí trung bình (AC) sẽ xác định chi phí sản xuất tính cho một đơn vị sản lượng
đầu ra, AC = TC/Y, còn chi phí cận biên (MC) xác định mức tăng chi phí sản xuất
khi tăng một đơn vị sản lượng đầu ra, MC= ΔTC/ΔY.
Do các khả năng thay đổi của các yếu tố đầu vào là khác nhau trong ngắn hạn và
trong dài hạn, nên đặc điểm của chi phí sản xuất, chi phí trung bình và chi phí cận
biên trong ngắn hạn và trong dài hạn cũng khác nhau.
Chi phí sản xuất ngắn hạn:
Chi phí sản xuất ngắn hạn (STC) gồm có chi phí cố định (SFC) và chi phí biến đổi
(SVC), trong đó:
Chi phí cố định là toàn bộ chi phí mà nhà sản xuất phải chi ra trong mỗi đơn
vị thời gian cho các yếu tố đầu vào cố định cho dù không sản xuất ra một sản phẩm
nào ví dụ như: tiền thuê hoặc khấu hao trang thiết bị và nhà xưởng, tiền lương cho
bộ máy quản lý, và lãi suất vốn vay, chi phí cố định không thay đổi khi sản lượng
thay đổi. Trong sản xuất nông nghiệp các chi phí chính thuộc chi phí cố định gồm
có: tiền mua và thuê đất, khấu hao tài sản (máy nông nghiệp, nhà kho, sân phơi,
công trình thủy nông, vườn cây lâu năm, gia súc làm việc), và lãi vốn vay, riêng đối
với cây trồng lâu năm các khoản như giống, tiền công, phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật và nước tưới đầu tư trong giai đoạn chưa cho sản phẩm cũng nằm trong chi phí
cố định.
Chi phí biến đổi là toàn bộ chi phí mua các yếu tố đầu vào biến đổi như
nguyên vật liệu, tiền công lao động trực tiếp, chi phí biến đổi thay đổi cùng với sự
thay đổi sản lượng đầu ra trong ngắn hạn. Trong nông nghiệp chi phí biến đổi là các
khoản tiền chi cho phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiền công lao động, các nguyên

tương đối do đường cầu dốc xuống, tác động này làm giảm doanh thu cận biên
(MR) khi bán thêm một đơn vị sản phẩm, tuy nhiên các nhà sản xuất vẫn tiếp tục
tăng sản lượng nếu doanh thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên và sẽ dừng việc
tăng sản lượng nếu doanh thu cận biên nhỏ hơn chi phí cận biện (MR
SAVC) và giá sản phẩm bù đắp được chi phí trung bình dài hạn (P > LAC), và nhà
sản xuất sẽ ngừng hoạt động nếu P < SAVC và P < LAC.
Các lý thuyết trên đã đưa ra những vấn đề liên quan đến sản lượng và chi phí trong
quá trình sản xuất một cách tổng quát, tiếp theo chúng ta sẽ xem xét một số đặc tính
riêng có của các yếu tố đầu vào chính trong sản xuất nông nghiệp để xác định một
cách cụ thể hơn mối tương tác giữa sản lượng, chi phí và thu nhập của hộ sản xuất
nông nghiệp.
1.1.5 Đất – tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành trồng trọt
Đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất và chưa thể thay thế được đối với sản xuất
trên quy mô lớn của ngành nông nghiệp và đặc biệt đối với trồng trọt, đặc điểm
khác biệt của đất so với những tư liệu sản xuất khác là chất lượng của đất sẽ tăng

10

lên nếu sử dụng đất một cách hợp lý. Tính chất đặc biệt này là do độ phì nhiêu của
đất tạo nên, độ phì nhiêu của đất được hình thành và bồi đắp bởi ba nguồn: thứ nhất
từ nguồn tự nhiên do các tác động lý, hoá, sinh trong tự nhiên tạo thành; thứ hai là
từ nguồn nhân tạo do áp dụng hệ thống canh tác hợp lý; và thứ ba là nguồn tiềm
năng do sự kết hợp của hai nguồn tự nhiên và nhân tạo đến một lúc nào đó sẽ làm
tăng độ phì nhiêu của đất.
Bị giới hạn về mặt diện tích và lãnh thổ nên quỹ đất là có hạn cả về số lượng và


11


12

Y/S

Hình 1.1 Xu hướng tăng trưởng năng suất lao động nông nghiệp thế giới

C
B

A
S/La

Hình 1.2 Xu hướng chuyển dịch năng suất lao động nông nghiệp
Việt Nam, 1985– 2005
Y/S (%)

nghiệp cần phải tăng hoặc YA/S hoặc S/LA hoặc cả hai. Tác động của từng yếu tố
năng suất đất và yếu tố hệ số đất – lao động đối với sản lượng tùy thuộc vào quá
trình phát triển của nông nghiệp, thông qua lý thuyết hàm sản xuất nông nghiệp tăng
trưởng theo các giai đoạn phát triển của nhà kinh tế SS. Park (1992) sẽ thấy được
mối tương tác một cách rõ nét. Theo SS. Park, sản xuất nông nghiệp phát triển qua
ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn sơ khai: đây là thời kỳ công nghệ chưa phát triển, sản xuất nông nghiệp
chủ yếu dựa vào yếu tố tự nhiên (N) như đất, nước, khí hậu, và lao động. Năng suất
đất có xu hướng giảm dần do khai thác cạn kiệt độ phì nhiêu của đất và chịu sự chi
phối của quy luật năng suất biên giảm dần của yếu tố lao động, do vậy để tăng sản

130
120
110
100
90
80
80

90

100

110

S/La (%)

Nguồn: Đinh Phi Hổ, Giáo trình kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê 2003,
trang 46, 47 và Niên giám thống kê 2003 – 2005
Ghi chú: Điểm A là điểm xuất phát của NSLĐ nông nghiệp giai đoạn sơ khai, từ A đến B
thể hiện sự dịch chuyển của NSLĐ nông nghiệp trong giai đoạn sơ khai và giai đoạn đang
phát triển, từ B đến C thể hiển sự dịch chuyển của NSLĐ nông nghiệp giai đoạn phát
triển.Đường dịch chuyển NSLĐ nông nghiệp Việt Nam cũng có xu hướng giống của thế
giới, nhưng với tốc độ chậm hơn (độ dốc thấp).

1.1.7 Kiến thức nông nghiệp
Chất lượng của yếu tố đầu vào đóng vai trò quan trọng đối với sản lượng đầu ra
trong quá trình sử dụng yếu tố đầu vào đó, vai trò chất lượng của bản thân yếu tố
lao động - vốn nhân lực lại có ý nghĩa đặc biệt hơn bởi lao động là yếu tố đầu vào

13

giá thành.
Ngày nay trong nền kinh tế tri thức và kinh tế mở thì vai trò của kiến thức lại càng
hết sức quan trọng, trong đó kiến thức kinh tế và kiến thức kỹ thuật cùng có vai trò
quyết định đến thành quả đạt được của người nông dân, để lượng hóa quan hệ giữa
kiến thức nông nghiệp với thu nhập của nông dân các nhà kinh tế sử dụng mô hình
của hàm sản xuất Cobb – Douglas:
1 ,2

Y = a Xibi
Trong đó:
Y là tổng thu nhập gộp (tổng giá trị sản phẩm) hoặc thu nhập ròng hoặc thu
nhập lao động gia đình trong năm.
Xi là các yếu tố đầu vào chính trong năm sản xuất như: diện tích đất gieo
trồng, lao động sử dụng, vốn lưu động, kiến thức nông nghiệp.
1.1.8 Tiến bộ công nghệ và tăng trưởng sản lượng trong nông nghiệp
Trong các yếu tố thuộc nhóm tăng năng suất (TFP), công nghệ - những cách thức
sản xuất ra hàng hoá có vai trò hết sức quan trọng đến kết quả của sản xuất. Tiến bộ
công nghệ trong năng suất diễn ra thông qua các phát minh, tức là việc khám phá
ra các tri thức mới và áp dụng các tri thức mới vào quy trình sản xuất trong thực
tế1. Vai trò của tiến bộ công nghệ đối với việc tăng sản lượng được các trường phái
đánh giá như sau:
Solow chỉ ra ngoài phần đóng góp cho tăng trưởng sản lượng do yếu tố vốn
K và yếu tố lao động còn một phần do đóng góp của tiến bộ công nghệ - được gọi là
phần dư Solow, phần dư này khá lớn và phụ thuộc vào trình độ công nghệ của mỗi
quốc gia.
Quan điểm của trường phái Tân cổ điển là nguồn gốc của tăng trưởng chính
là cách thức kết hợp các yếu tố K và L.
Và nhà kinh tế Kaldor cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế phụ thuộc
vào phát triển tiến bộ kỹ thuật và công nghệ.
Vai trò của tiến bộ công nghệ đối với sản xuất không chỉ dừng lại ở việc làm tăng

cũng như định hướng cho việc phát triển cây hồ tiêu, điển hình có một số công trình
nghiên cứu sau:
Điều tra hiện trạng, hiệu quả kinh tế và khả năng phát triển của sản xuất
hồ tiêu cả nước do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện năm 2000.
Quy hoạch phát triển vùng trọng điểm hồ tiêu Tỉnh Bình Phước và
Huyện Phú Quốc do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện năm 2001.
Quy hoạch phát triển sản xuất hồ tiêu cả nước đến năm 2010 do Phân
viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn thực hiện năm 2003.
Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ và thị trường để phát
triển vùng hồ tiêu nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu do Viện Khoa học
Kỹ thuật miền Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện năm
2005.
Điều tra hiện trạng sản xuất một số cây công nghiệp lâu năm trên toàn
quốc (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, và điều) do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông
nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện năm 2006.
Thông qua các điều tra khảo sát thực địa các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm theo hộ,
xã, huyện; điều tra thu thập các số liệu thứ cấp; phân tích tài chính – kinh tế;
phương pháp thí nghiệm, thực nghiệm các giải pháp về giống và kỹ thuật canh tác,
các công trình trên đã đưa ra những kết quả và kết luận chính như sau:
a)
Xác định được các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm
Qua đánh giá hiện trạng sản xuất hồ tiêu cả nước, các công trình nghiên cứu trên đã
xác định được các vùng trồng hồ tiêu trọng điểm có quy mô lớn gồm có:
Vùng Đông Nam bộ có các tỉnh Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng
Nai;
Vùng Tây Nguyên có các tỉnh Đắc Nông, Đắc Lắk, Gia Lai;
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có Phú Quốc; và


Vùng
Thu nhập ròng

Lao động gia

Thu nhập
Thu nhập ròng

đình
Duyên Hải

Lao động gia
đình

22,30

32,11

8,45

23,76

Tây Nguyên

25,07

36,47

13,21

Năm đầu tư
Đầu tư ban đầu

0

1

2

3

4

5

6

7

8

9

88,6

Chi vật tư

9,7

15,6


13,2

13,2

13,2

13,2

104,4

24,2

29,2

31,0

31,6

31,2

30,4

30,4

30,4

30,4

2,6


45,5

63,0

70,0

64,8

56,0

56,0

56,0

56,0

16,3

32,0

38,4

33,5

25,6

25,6

25,6

Lợi nhuận
sản lượng
Cây hồ tiêu
39,34
18,77
Cây điều
8,70
6,90
Cây cao su
18,00
18,98
Cây cà phê
16,00
10,00
Cây chè
15,00
9,50
Cây ăn quả
17,50
12,50
Cây mía
15,60
7,76
Nguồn: “Điều tra hiện trạng sản xuất một số cây công nghiệp lâu năm
trên toàn quốc 2005”

18

d)



51,8

25,3

Vốn

57,2

18,4

23,8

Lao động

20,4

42,0

37,6

Hiểu biết kỹ thuật

27,0

29,5

42,3

Hỗ trợ khuyến nông


Giá bán

48,4

29,0

22,1

Nguồn: “Điều tra hiện trạng sản xuất một số cây công nghiệp lâu năm
trên toàn quốc 2005”

Kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu này đã là những căn cứ quan trọng
giúp ngành hàng hồ tiêu Việt Nam kế thừa sử dụng xây dựng chiến lược phát triển
đến năm 2020, tuy nhiên, mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả

19


sản xuất của Hộ chưa được các công trình phân tích định lượng bằng mô hình kinh
tế lượng.

1.2.2 Trên thế giới
Tại các nước sản xuất hồ tiêu, các nhà khoa học và kinh tế có nhiều công trình
nghiên cứu về cây hồ tiêu, điển hình có:
Các công trình nghiên cứu “Các giải pháp kiểm soát sâu bệnh” của Ấn Độ,
Indonesia, Malaysia, SriLanka thực hiện qua các năm 2000 – 2007;
Công trình nghiên cứu “Tỷ lệ sử dụng và kiểm soát dư lượng thuốc trừ
sâu và bảo vệ thực vật cho sản xuất hồ tiêu” của Malaysia 2004 và Brazil 2007;
Các công trình nghiên cứu “Hiệu quả sản xuất hồ tiêu”của các nước thực

sản xuất theo quy mô.
Thu nhập lao động gia đình Y2 trong năm, có đơn vị tính là triệu đồng/năm, công
thức tính Y2 = P * Q – Cu*Q + Chi phí cơ hội lao động gia đình, Y2 sẽ đánh giá
thực tế thu nhập của Hộ.
Với P là giá bán trung bình, Q là sản lượng thu hoạch, và Cu là chi phí trung bình
của năm sản xuất.
Các biến độc lập:
Diện tích đất trồng tiêu đang cho sản phẩm (S), đơn vị tính là ha, đây là
biến đại diện cho quy mô sản xuất, kỳ vọng quy mô đất trồng sẽ có tác động dương
đến thu nhập.
Năng suất đất (Aps) đơn vị tính là tấn/ha, là biến tổng hợp cho năng suất
của các yếu tố đầu vào, công thức tính Aps = Q/S, kỳ vọng sẽ có tác động dương
đến thu nhập, sau đây gọi tắt là năng suất.
Chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay chi phí trung bình (Cu), đơn vị
tính là đồng/kg, Cu được cấu thành bởi chi phí cố định trung bình và chi phí biến
đổi trung bình, cụ thể:
Chi phí cố định trung bình – chi phí kiến thiết trung bình (Ckt) được xác định
bằng công thức: Ckt = TCkt*S/(Tổng diện tích trồng *10 năm * Q).
Trong đó: chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản (TCkt) là chi phí trồng mới và chi phí
của các năm chưa cho sản phẩm gồm các loại chi phí: mua đất (nếu có), làm đất,
giống, trụ trồng (cây choái), phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, lao động (lao động
gia đình và lao động thuê), và chi phí khác (tưới nước, thuế sử dụng đất, lãi vốn
vay, nhiên liệu)
10 năm là chu kỳ kinh doanh trung bình của một vườn tiêu đã được các chuyên gia
đưa ra trên cơ sở thực tế của sản xuất hồ tiêu tại vùng Đông Nam bộ.
Chi phí biến đổi trung bình – chi phí kinh doanh trung bình (Ckd) được xác
định bằng công thức: Ckd = TCkd/Q
Trong đó: chi phí kinh doanh (TCkd) là chi phí trong năm thu hoạch gồm các loại
chi phí: phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, lao động (lao động gia đình và lao động
thuê), và chi phí khác (tưới nước, thuế sử dụng đất, lãi vốn vay, nhiên liệu), chi phí

(1)
(2)

Từ mô hình (1), (2) có thể lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố dưới dạng mô hình hồi
quy tuyến tính:

LnY1 = β0 + β1LnS(+) + β2LnAps(+)+ β3LnCu(-)+ β4LnU(+)+β5Se (+) (3)
(β0= Ln1)

LnY2 = γ0 + γ1LnAps(+)+γ2LnCu(-)+γ3LnU(+)+γ4Se (+) (4)
(γ0= Ln2)

Trong đó: các β và γ - hệ số hồi quy và chính là hệ số co giãn của biến phụ thuộc
thu nhập đối với các biến độc lập. Mô hình (3), (4) thỏa mãn các điều kiện của mô
hình hồi quy tuyên tính cổ điển dưới đây:
Biến phụ thuộc LnY1 và Ln Y2 phân phối chuẩn với trung bình của LnY1và LnY2
tại một giá trị của biến độc lập và có phương sai không đổi;
Các giá trị của LnY1 và LnY2 độc lập thống kê đối với nhau;
Tất cả các giá trị trung bình của LnY1 và LnY2 đều nằm trên một đường hồi quy
tổng thể; và
Không có quan hệ cộng tuyến giữa các biến độc lập.

Kết luận Chương 1
Sản lượng và chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp,
cả hai đều phụ thuộc vào lượng và chất của các yếu tố đầu vào tham gia trong quá

22

trình sản xuất và kỹ thuật để phối hợp các yếu tố đó. Các yếu tố đầu vào được chia
thành ba nhóm chính, đó là nhóm các yếu tố vốn, nhóm các yếu tố lao động và

Vốn nhân lực không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động kinh tế nào, trong đó trí
lực phản ánh chất lượng của lao động và có vai trò là động lực quan trọng trong
việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, vì thế củng cố và bổ sung kiến thức nói chung
và kiến thức nông nghiệp nói riêng cho hộ sản xuất là rất cần thiết nhằm tăng hiệu
quả của sản xuất và thu nhập cho chính họ.

23


Một số công trình trong và ngoài nước đã điều tra các yếu tố chính tác động đến
năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, giá thành, và phân tích hiệu quả kinh tế
mang lại từ sản xuất hồ tiêu, đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề tài kế thừa.

Chương 2
Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của
Hộ sản xuất hồ tiêu vùng Đông Nam bộ
2.1. Tổng quan sản xuất hồ tiêu của Việt Nam và thế giới
2.1.1 Sản xuất hồ tiêu trên thế giới
Bảy quốc gia chính sản xuất hồ tiêu gồm có: Ấn độ, Brazil, Trung Quốc, Indonesia,
Malaysia, Sri Lanka và Việt Nam, sản lượng của các nước này chiếm trên 90% tổng
sản lượng của thế giới, và trên 80% hồ tiêu được sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu,
riêng Ấn Độ và Trung Quốc thì ngược lại. Ba kênh nhập khẩu chính là kênh các
nước sản xuất nhập khẩu để tái chế biến và xuất khẩu tiếp, kênh các nước chuyên
kinh doanh hồ tiêu gồm Singapore, Hà Lan, Hồng Kông, và Tiểu Vương Quốc Ả
Rập, và kênh các nước tiêu dùng tại các thị trường EU, Mỹ, Trung Đông, Châu Phi
và Châu Á. Ngoại trừ Trung Quốc, các quốc gia còn lại tham gia vào Cộng đồng Hồ
tiêu Quốc tế (IPC) nhằm tăng cường các hoạt động hợp tác để phát triển sản xuất hồ
tiêu thế giới. Sản xuất hồ tiêu tại mỗi quốc gia có một số đặc điểm nổi bật sau:
Ấn Độ: hồ tiêu là một loại cây gia vị quan trọng nhất và được trồng lâu đời
tại các bang miền Nam Kerala, Kanataka, và Tamil Nadu theo quy mô hộ gia đình.

lượng cả nước, Sarawak là nơi có điều kiện tự nhiên gần giống đảo Phú Quốc với
đặc trưng của khí hậu đại dương, năng suất trung bình đạt 2 – 2.5 tấn/ha, mùa thu
hoạch từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm. Malaysia chú trọng vào việc sản xuất các
sản phẩm có chất lượng cao với 75% là hạt tiêu đen và 25% là hạt tiêu trắng được
chế biến thành nhiều dạng sản phẩm cho kênh bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng
cuối cùng như tiêu ngâm, tiêu bột, tinh dầu. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là các
nước tiêu dùng tại Châu Âu và Mỹ. Malaysia là nước đứng ở vị trí thứ 6 về sản xuất
và thứ 5 về xuất khẩu với tỷ trọng 6% và 8% tổng sản lượng và tổng lượng xuất
khẩu hồ tiêu thế giới.
Sri Lanka: có đặc điểm sản xuất tương tự Ấn Độ, hiện đang đứng ở vị trí
thứ 7 về sản xuất và thứ 6 về xuất khẩu với tỷ trọng 4% và 3% tổng sản lượng và
tổng lượng xuất khẩu của thế giới.
Trung Quốc: hồ tiêu chủ yếu được trồng ở đảo Hải Nam để chế biến tiêu
trắng tiêu dùng trong nội địa (tính cả Hồng Kông), hiện đứng thứ 5về sản xuất với
tỷ trọng 7% tổng sản lượng hồ tiêu thế giới.
Hình 2.1 Sản lượng và Xuất khẩu trung bình
của các quốc gia sản xuất hồ tiêu, giai đoạn 2002 -2007

Số lượng tấn

100000

Sản xuất

80000

Xuất khẩu

60000
40000


do
ne
s
In

In
di

Br
a

zi

l

0

Nguồn IPC

(Số xuất khẩu của Việt Nam cao hơn sản lượng do có phần nhập khẩu tiểu ngạch từ
Campuchia và số liệu thống kê sản xuất thiếu chính xác)

26

2.1.2 Sản xuất hồ tiêu tại Việt Nam và vùng Đông Nam bộ
Sản xuất hồ tiêu của Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh kể từ năm 1995, diện tích
trồng tăng trung bình 10% - 20%/năm trong giai đoạn 1995 – 2003, các năm 2005,
2006 và 2007 có xu hướng giảm nhẹ. So sánh 2006 với 1995 thì diện tích trồng tăng
7 lần từ 6.779 ha lên 48.200 ha, và sản lượng tăng 9 lần từ 9442 tấn lên đến100.000


27


Duyên hải Nam Trung bộ: đang chiếm tỷ trọng trong tổng diện tích trồng
và tổng sản lượng của cả nước tương ứng là 2% và 0,2% với tổng diện tích trồng hồ
tiêu 1.100 ha cho sản lượng trên 1.000 tấn/năm và được phân bố tại 6 tỉnh: Đà
Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, với quy mô
diện tích trồng trung bình 0,73 ha/hộ. Do điều kiện không thuận lợi về khí hậu, đất
cũng như là suất đầu tư thấp nên năng suất của vùng chỉ đạt ở mức1,3 tấn/ha, khả
năng cạnh tranh kém so với các vùng sản xuất khác về giá thành và số lượng, thu
hoạch từ tháng 2 đến tháng 4.
Tây Nguyên: hồ tiêu được trồng ở Tây Nguyên từ năm 1975 nhưng tập
trung phát triển mạnh vào giai đoạn 2001 – 2003 khi trồng cà phê kém hiệu quả do
sự sụt giảm mạnh của giá cà phê. Tây Nguyên hiện đang là vùng trồng hồ tiêu đứng
ở vị trí thứ hai có tỷ trọng trong tổng diện tích trồng và sản lượng của cả nước
tương ứng là 28% và 35,5% với khoảng 14.000 ha trồng hồ tiêu tập trung chính ở
Đắc Nông (5.600ha), Gia Lai (3800ha) và Đắk Lak (3800ha), sản lượng dao động
30.000 tấn/ năm. Những điều kiện tự nhiên dưới đây đã tạo ra lợi thế cho sản xuất
hồ tiêu của vùng:
Hồ tiêu trồng trên các loại đất chủ yếu là đất nâu đỏ bazan (Fu và Fk), đất đỏ
vàng (Fa) có hàm lượng các dưỡng chất khá cao và thành phần cơ giới trung bình
rất thích hợp cho cây hồ tiêu và đa số là đất mới khai thác nên độ phì nhiêu ở mức
cao;
Diện tích đất nông nghiệp trên đầu người cao trung bình 2,2 ha/hộ thuận lợi
cho việc sản xuất tập trung;
Khí hậu cao nguyên với hai mùa khô và mưa rõ rệt có biên độ nhiệt giữa
ngày và đêm cao đã tăng tích tụ hương thơm cho hạt tiêu của vùng.
Kinh tế nông nghiệp đang giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của vùng
nên các hộ tiếp tục tập trung phát triển các cây công nghiệp lâu năm đặc biệt là cao

tố cơ bản tạo ra thế mạnh trong sản xuất hồ tiêu của vùng gồm có:
Đặc điểm tự nhiên: quỹ đất nông nghiệp khá lớn và tập trung với tỷ lệ cao các
chủng loại đất thích hợp trồng cây hồ tiêu như đất đỏ bazan và đất xám phù xa, quy
mô đất nông nghiệp trên hộ cao nhất nước 2,74 ha/hộ, do vậy thuận lợi cho việc
canh tác hồ tiêu theo quy mô trang trại. Bên cạnh đó khí hậu nhiệt đới gió mùa có
nhiệt độ trung bình 26oC - 27oC, giờ nắng trong năm khoảng 2.500 giờ/năm, ít bão
là các điều kiện tốt cho cây hồ tiêu sinh trưởng và thuận lợi trong việc thu hoạch.
Đặc điểm kinh tế xã hội: những ưu thế về mặt địa lý kinh tế với tài nguyên đa
dạng và có định hướng phát triển đúng đắn đã tạo ưu thế để phát triển kinh tế tổng
hợp đa dạng ngành với những ngành chính như: dịch vụ tài chính ngân hàng, công
nghiệp nhẹ, du lịch, dầu khí, thủy hải sản và nông nghiệp theo hướng tập trung,
công nghiệp hóa và hiện đại hóa thuận lợi hơn các vùng kinh tế khác. Hiện Đông
Nam bộ đang dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân trên 12%/năm. Với điều kiện tốt về: cơ sở hạ tầng (giao thông, hệ thống
thuỷ lợi, viễn thông, lưới điện), các chính sách thu hút đầu tư, các dịch vụ hỗ trợ
cho kinh doanh phong phú, và nguồn nhân lực có chất lượng, kết hợp với ưu thế về
sản lượng hồ tiêu đã thu hút các nhà đầu tư phát triển mạng lưới kinh doanh và chế
biến hồ tiêu, đưa vùng trở thành trung tâm kinh doanh hồ tiêu của cả nước.
Lao động nông nghiệp: năng lực và trình độ dân trí của các hộ khá đồng đều, có kỹ
năng canh tác tốt và đã tích lũy được kinh nghiệm sản xuất hồ tiêu, đây cũng là

29


điểm thuận lợi để phát triển cộng đồng sản xuất hồ tiêu theo hướng sản xuất hàng
hóa tập trung.
Điểm mạnh của sản xuất hồ tiêu: ngoài ưu thế về sản lượng vượt trội, năng suất
bình quân của vùng đạt ở mức khá cao trên 2 tấn /ha, chất lượng hạt tiêu tuy không
có tính đặc trưng nhưng ổn định và có giá thành thấp nhất, đã tạo cho hạt tiêu của
vùng có khả năng cạnh tranh khá cao.

100000
80000
60000
40000
20000
0
1975

1985

1990

1995

2000

2005

Nguồn: Tổng Cục Thống kê và VPA

30

2006

2007

Qua biểu đồ tại Hình 2.2, hầu hết sản lượng được sản xuất ra dùng cho xuất khẩu,
như vậy có thể khẳng định các sản phẩm hồ tiêu Việt Nam là sản phẩm hàng hóa, vì
thế sản xuất và kinh doanh sản phẩm hồ tiêu phải tuân theo và chịu sự chi phối của
các quy luật thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu.

21
Phước,
Xã Lộc Tấn
7
7
6
20
Huyện Lộc
Xã Lộc Thuận
8
8
8
24
Ninh
Tỷ lệ hộ điều tra/tổng số hộ
5,3%
10
9
1
20
Tỉnh Bà Rịa Xã Bàu Chinh
Xã Kim Long
4
12
5
21
VT,
Huyện Châu Xã Quảng Thành
7
15

216

31


Hình 2.3 Diện tích trồng hồ tiêu của vùng điều tra mùa vụ 2006

3
0, 1
370

4085,
14%

%

1 06

0,
770

00 ,

Thống kê cho thấy tính hiệu quả của yếu tố quy mô vẫn đang duy trì, song so sánh
thu nhập ròng và thu nhập lao động gia đình theo quy mô diện tích thì các giá trị thu
nhập trung bình trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần khi quy mô tăng:
Bảng 2.2 Thu nhập ròng và thu nhập lao động gia đình/ha
Đơn vị tính: triệu đồng/ha/năm

36%


1832, 15%
6436, 53%
1887, 16%

4 xã điề u tra huyệ n Lộc Ninh

3 xã điề u tra huyệ n Châu Đức

3 xã điề u tra huyệ n Cẩm Mỹ

Các xã khác của 3 huyệ n

Nguồn: Tổng cục Thống kê và báo cáo Kinh tế - Xã hội 2006, 2007 của các Huyện

2.3. Tác động của một số yếu tố chính đến thu nhập của Hộ sản xuất hồ
tiêu tại vùng Đông Nam bộ
2.3.1 Thực trạng các yếu tố trong mô hình
2.3.1.1 Quy mô diện tích đất cho sản phẩm
Hiện trạng quy mô đất trồng hồ tiêu của Hộ tại các vùng điều tra là: 15% - 20% số
Hộ có diện tích trồng dưới 0,5ha, 60%-65% số Hộ có diện tích trồng từ 0,5 ha - 1ha
và 15% - 20% số Hộ có diện tích trồng trên 1ha.

32

Quy mô >1ha

Y2/
ha


25,3

23,8

32,2

20,4

30,1

Giá trị lớn nhất

165,2

178,4

143,7

167,6

168,0

174,5

17215,
58%

26%

Quy mô 0,5 – 1ha

huy động vốn bên ngoài, với tình hình lãi suất vốn vay ngân hàng thương mại tăng
mạnh vào năm 2008 trên 1,5% tháng sẽ đẩy chi phí lãi vay vốn lên 18%/năm, đối
với cây trồng lâu năm đây là mức chi phí đem lại rủi ro cao, vì thế các Hộ gặp khó
khăn về nguồn vốn.
Thứ tư, lao động nông nghiệp đang giảm: do việc trồng và chăm sóc cây
hồ tiêu hiện gần như không sử dụng được máy móc mà chủ yếu dựa vào sức lao
động là chính, trung bình 300 – 400 công lao động/ha/năm nên sản xuất hồ tiêu là
một ngành sản xuất thâm dụng lao động. Vì vậy với xu hướng lao động trong
nông nghiệp giảm dần do di chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã gây
khó khăn về lao động.
Hiện số lao động chính trung bình tham gia sản xuất của Hộ chỉ ở mức 2,27, lượng
lao động sẵn có này chỉ đáp ứng cho quy mô trồng hồ tiêu dưới 1ha trong điều kiện
không nuôi trồng cây con nào khác. Do vậy hầu hết các hộ đang phải thuê trung
bình khoảng 44% tổng lượng lao động cần thiết để canh tác cây hồ tiêu và 35% số
hộ đang gặp khó khăn về lao động.
Theo báo cáo kinh tế xã hội năm 2006, 2007 của các Huyện, diện tích trồng hồ tiêu
giảm tại một số địa phương, cụ thể so sánh 2007/2006: huyện Lộc Ninh giảm mạnh
18%, huyện Châu Đức giảm 5%, huyện Cẩm Mỹ giảm 18%.
2.3.1.2 Năng suất
Năng suất qua mẫu điều tra đạt mức trung bình là 2,88 tấn/ha, mức thấp nhất là 1,33
tấn/ha, và mức cao nhất là 5,00 tấn/ha, tỷ lệ số Hộ có năng suất dưới mức trung bình
là 50,9% trong đó: 0,9% có Aps

Quy

>1ha

Tr. Bình

3,76

3,19

3,07

Nhỏ nhất

2,75

1,87

2,00

Lớn nhất

5,00

5,00

4,40

Tr.bình


Nhỏ nhất

1,50

1,70

1,53

Lớn nhất

5,00

3,00

3,30

3,09

2,86

2,70

Giá trị
Aps

Huyện
Lộc
Ninh


2,72

1,74

56,0

2,49

1,85

34,6

2,88

2,20

30%

Kết quả trên cũng cho thấy mặc dù trong cùng một vùng trồng có các điều kiện tự
nhiên tương đối giống nhau nhưng năng suất giữa các Hộ có sự chênh lệch đáng kể,
năng suất cao nhất hơn năng suất thấp nhất trên 150%, năng suất trung bình cao hơn

35


năng suất thấp nhất trên 100%. Các nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt này
gồm có:
Lựa chọn giống: chất lượng nhân giống hồ tiêu vẫn chưa đảm bảo lựa chọn
được dây lươn sạch bệnh và khỏe, 36%, 14% và 15% là tỷ lệ số Hộ điều tra tại các
huyện Lộc Ninh, Châu Đức và Cẩm Mỹ lựa chọn giống hồ tiêu không đạt chuẩn.

hưởng chính đến mức sản lượng, điều này phù hợp với lý thuyết hàm sản xuất trong

36

ngắn hạn sản lượng phụ thuộc vào lượng các yếu tố đầu vào biến đổi như nguyên
nhiên vật liệu, lao động trực tiếp.
Bảng 2.4 Chi phí trung bình
Vùng

Bình Phước
Lộc Ninh
Bà Rịa VT
Châu Đức
Đồng Nai
Cẩm Mỹ
Vùng

Đơn vị tính đồng /kg
Chi phí
Cu
trung bình
Điều tra của
Viện QH 2005
(Cu)

Chi phí kiến
thiết trung
bình
(Ckt)



14970

20.550

18.466

Đồng thời thống kê mẫu cũng cho thấy hai yếu tố đầu vào có vai trò hết sức quan
trọng trong thời kỳ kinh doanh là lao động và phân bón, chi phí của hai yếu tố này
chiếm tỷ trọng cao trong chi phí kinh doanh trung bình tương ứng là 35,50% và
46,98%. Như vậy trong thời kỳ kinh doanh khi giá lao động tăng 1% sẽ làm chi
phí trung bình tăng 0,27% (35,5%*75%) còn giá phân bón tăng 1% làm chi phí
trung bình tăng 0,35% (47%*75%).
Xu hướng giá lao động và giá phân bón đang ngày một tăng cao, tiền công năm
2006/2005 tăng 30%, 2007 và 2008 /2006 tăng 10%, và giá phân bón tăng trung
bình 2006/2005 là 5%, 2007/2006 là 5%,và 2008/2007 là 60%. Với mức tăng này
làm tăng chi phí trung bình của mùa vụ 2007/2006 là 9,75% và 2008/2006 là
23,7%, trong điều kiện suất đầu tư không thay đổi so với 2006.
Ngoài giá của các yếu tố đầu vào chính tăng mạnh, vấn đề trụ hoặc cây choái hiện
cũng đang ảnh hưởng đến chi phí trung bình. Để đảm bảo đặc tính sinh trưởng của
cây hồ tiêu cần có bóng râm nên việc dùng choái sống tốt hơn sử dụng trụ bằng bê
tong hoặc trụ gỗ, nhưng trên thực tế đang có những trở ngại trong việc sử dụng
choái sống bởi sự cạnh tranh dinh dưỡng với cây hồ tiêu làm lượng phân bón phải
tăng lên mới đủ nuôi cả hai cây nếu không năng suất kém, đồng thời một số loại cây
choái như vông, lồng mứt hay bị sâu bệnh làm đổ trụ tiêu. Cả hai bất lợi này của
choái sống đã dẫn đến chi phí tăng lên nhiều đặc biệt là trong tình hình giá phân bón
cao, và tiềm ẩn rủi ro làm ngắn chu kỳ kinh doanh của cây hồ tiêu.

37



18.985

119,33

>= 4,5

19.719

124,90

Qua số liệu so sánh năng suất với chi phí trung bình và thu nhập ròng một lần nữa
khẳng định vai trò của yếu tố năng suất đối với thu nhập, đồng thời cũng xác định
được mức năng suất có chi phí thấp nhất là từ 4 tấn đến < 4,5 tấn/ha, còn khi năng
suất lớn hơn 4,5 tấn/ha, chi phí trung bình có dấu hiệu bắt đầu tăng lên, có nghĩa
năng suất cận biên của yếu tố đầu vào biến đổi đã bắt đầu giảm mà ở đây chủ yếu là
yếu tố phân bón và lao động.
2.3.1.4 Kiến thức nông nghiệp
Với tổng số điểm đánh giá kiến thức nông nghiệp là 35 trong đó 21 điểm kiến thức
kỹ thuật và 14 điểm kiến thức kinh tế thì số Hộ đạt trên 50% số điểm là khá thấp cụ
thể: chỉ có 26% số hộ đạt trên 10 điểm về kiến thức kỹ thuật, 56% số hộ đạt trên 7
điểm về kiến thức kinh tế, và có 45% số hộ đạt có tổng số điểm trên 17.
Sở dĩ kiến thức của Hộ sản xuất hồ tiêu không cao là do hầu hết các Hộ bị hạn chế
về những kiến thức quan trọng nhất như: cách thức sử dụng phân bón (83% số Hộ
sử dụng phân bón không đúng cách); phòng trừ sâu bệnh (90% số Hộ không có biện
pháp phòng trừ những bệnh thường gặp); nhận biết các nhân tố ảnh hưởng đến giá
bán (chỉ có 4,2% số Hộ nhận biết được các nhân tố chính); thông tin thị trường thế
giới (chỉ có10% số Hộ biết một số thông tin về các nước sản xuất và xuất khẩu); và
cách hạch toán chi phí (74% số Hộ hạch toán không đúng).
Hiện 65% số hộ tiếp cận kiến thức kỹ thuật sản xuất hồ tiêu thông qua đài phát

73% , số hộ trồng giống hồ tiêu Vĩnh Linh là 23% và 4% số hộ trồng giống hồ tiêu
Ấn Độ. Tại Châu Đức và Cẩm Mỹ số hộ trồng giống hồ tiêu Lộc Ninh là 18%, số
hộ trồng giống hồ tiêu Vĩnh Linh là 72% và 10% là số hộ trồng giống hồ tiêu Ấn
Độ. Như vậy trên 90% số hộ trồng hồ tiêu vẫn đang trồng các giống đã du nhập vào
nước ta từ lâu như Vĩnh Linh và Lộc Ninh, chỉ có khoảng 4% - 10% số Hộ trồng
một vài giống tiêu Ấn Độ, tiêu Lada Belangtoeng được nhập nội cách đây 10 năm,
kết quả điều tra của đề tài tương thích với số liệu của các công trình nghiên cứu
trước đó.
Điểm mạnh của các giống truyền thống là khá thích hợp với điều kiện tự nhiên của
vùng và năng suất ổn định, nhưng lại bị hạn chế ở khả năng chống chịu sâu bệnh và
hạn hán hay úng lụt, trong khi đó các giống mới được nhập nội có thể khắc phục tốt
những hạn chế này.
Chủng loại giống ít và nhân giống bằng phương pháp vô tính một mặt đã dẫn đến
chất lượng giống ngày càng bị suy giảm, mặt khác khi có các đợt dịch bệnh có tính
lây lan cao như bệnh tuyến trùng sẽ dẫn đến sự chết hàng loạt.
Đến nay giống hồ tiêu đang là một nội dung được các nhà khoa học và người sản
xuất rất quan tâm nhưng chưa có hướng đi cụ thể và đầu tư thích hợp của các ban
ngành và các cấp.

39


2.3.2 Kết quả của mô hình hồi quy
Trên cơ sở dữ liệu điều tra 216 mẫu (Hộ trồng hồ tiêu) theo tình hình thực tế của
năm sản xuất 2006 và giá bán vào năm 2007 (vì thu hoạch vào tháng 11 đến tháng 4
nên hồ tiêu chủ yếu được bán vào năm kế tiếp), sau khi xử lý dữ liệu và ước lượng
các tham số của hàm hồi quy tuyên tính bằng phương pháp bình phương bé nhất
(OLS) trên phần mềm SPSS đã cho kết quả hồi quy dưới đây:

biến độc lập LnAps, LnCu, LnU và LnSe với các giá trị của VIF nhỏ (Phụ lục 3.1)

0,009
0,239
Df=215
F= 206,510 (0,000)
R2= 0,831
Đối với thu nhập lao động gia đình:
Ln(Y2)= 20,205+ 0,525 LnAps - 0,860 LnCu+ 0,683LnU +0,326Se
(SE) 3,604
0,154
0,270
0,288
0,107
(t)
5,606
3,412
(3,185)
2,373
3,040
(p)
0,000
0,001
0,002
0,019
0,003
Df=215
F= 18,662 (0,000)
R2= 0,261
Trong đó: SE là sai số chuẩn, t là giá trị thống kê t và p là xác xuất phân phối theo
quy luật Student có mức ý nghĩa α=5% tương ứng của các hệ số hồi quy.
Lựa chọn biến:

0,525%.
Hệ số γ2= - 0,860 là hệ số co giãn của thu nhập lao động gia đình đối với chi
phí trung bình, β’2 cho biết trong trường hợp các yếu tố khác trong mô hình không
đổi khi chi phí trung bình tăng lên 1% thì thu nhập lao động gia đình của Hộ giảm
trung bình 0,860%.
Hệ số γ3= 0,683 là hệ số co giãn của thu nhập lao động gia đình đối với kiến
thức nông nghiệp, β’3 cho biết trong trường hợp các yếu tố khác trong mô hình
không đổi khi kiến thức nông nghiệp tăng lên 1% (tính theo giá trị thang bảng điểm
của đề tài) thì thu nhập lao động gia đình của Hộ tăng trung bình 0,683%.
Hệ số γ4= 0,326 là hệ số co giãn của thu nhập lao động gia đình đối với
giống, β’4 cho biết trong trường hợp các yếu tố khác trong mô hình không đổi khi

41



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status