Nghiên cứu hiện trạng và chọn lọc cây trội loài bời lời đỏ (machilus odoratissima nees) tại tỉnh quảng trị - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Lâm nghiệp

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiện trạng và chọn lọc cây trội loài Bời lời đỏ
(Machilus odoratissima Nees) tại tỉnh Quảng trị

Sinh viên thực hiện: Lê Văn Nhân
Lớp: Lâm nghiệp 46
Giáo viên hướng dẫn 1: ThS. Hoàng Dương Xô Việt
Giáo viên hướng dẫn 2: PGS.TS. Đặng Thái Dương
Thời gian thực tập: Từ 28/12/2015 đến 01/05/2016
Địa điểm thực tập: Tỉnh Quảng Trị
Bộ môn: Lâm Nghiệp Xã Hội

NĂM 2016


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ



Ô tiêu chuẩn

CHDCND

Cộng hòa dân chủ nhân dân

KT – XH

Kinh tế xã hội

QP – AN

Quốc phòng an ninh

XNK

Xuất nhập khẩu

BCH

Ban chấp hành

KHHGĐ

Kế hoạch hóa gia đình


PHẦN I
MỞ ĐẦU
Tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiện 473.982 ha, diện tích đất có rừng

củi. Lá có thể làm thức ăn cho gia súc, quả được thu hái và ép dầu làm sáp, chế
8


xà bông. Cho thấy mục đích sử dụng của cây bời lời đỏ rất đa dạng và ưu việt
nên được trồng nhiều ở các vùng Tây Nguyên góp phần lớn phát triển kinh tế
dân cư, xóa đói giảm nghèo.
Việc áp dụng trồng cây bời lời đỏ ở miền Trung và Quảng trị nói riêng vẫn
còn nhiều những vướng mắc trong kỹ thuật và nguồn giống, người dân chưa
hiểu biết nhiều về cây bời lời và kỹ thuật để gây trồng nên cây bời lời đỏ là vẫn
chưa phổ biến ở các tỉnh miền Trung.Từ trước đến nay vẫn chưa có nhiều công
trình nghiên cứu liên quan đến loài Bời lời đỏ. Nhận thấy được sự cần thiết đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và chọn lọc cây
trội loài Bời lời đỏ (Machilus odoratissima Nees) tại tỉnh Quảng Trị”.

9


PHẦN II
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
Bời lời đỏ là loài cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nghiên cứu
về cây Bời lời đỏ trên thế giới chủ yếu chỉ tập trung vào nghiên cứu giá trị dược
liệu được lấy từ vỏ cây, nhưng những tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài về kỹ
thuật gây trồng, sản lượng… thì chưa được nghiên cứu.Bời lời đỏ phân bố ở các
nước như Ấn Độ, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam,
Vân Nam),Bangladesh, Bhutan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, philippines,
Australia.
Tại Ấn Độ, các tác giả Radhakrishman. T. R; Ramasany . A ; Arfin. S
(1989) đã tách được từ vỏ cây Bời lời đỏ chất Sufoof-e-Musammin dùng làm

trị dược phẩm rất lớn. Loài này cực kì nguy cấp do tình trạng khai thác bừa bãi
để dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, nó được sử dụng
để sản xuất các loại thuốc giảm đau, có tác dụng hiệu quả trong điều trị tiêu chảy
và bệnh lỵ,....
Năm 2009 tại Ấn Độ, các tác giả S.P.Singh và Dipti Singh đã công bố
những nghiên cứu về việc tìm nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các loại
dầu sinh học từ những nguồn thực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay
thế cũng đã mô tả đặc tính nguyên liệu dầu sinh học của cây Bời lời đỏ được chế
biến từ hạt cây Bời lời.[13]
Gần đây, hai tác giả người Ấn Độ đã công bố những nghiên cứu về việc tìm
nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các loại dầu sinh học từ những nguồn
thực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay thế cũng đã mô tả đặc tính
nguyên liệu dầu sinh học của cây Bời lời đỏ được chế biến từ hạt cây của nó
(Singh, 2010).[13]
Tại Indonexia, các tác giả Rizan Helmi và Zamri Adel (1989) bằng phương
pháp quang phổ đã chiết xuất từ cành rễ và vỏ cây Bời lời các chất như 2,9
dyhydroxy, 1,10 dimethoxyaporhyne, 6 methonyphenan threne 9% dùng trong y
học. Tại hội nghị quốc tế về y học dân tộc và những cây thuốc họp tại Indonexia
năm 1990 đã xác nhận cây Bời lời đỏ có thể chiết xuất một số hóa chất dùng
trong y dược. Các thông tin trên cho phép khẳng định một cách chắc chắn về giá
trị kinh tế của Bời lời đỏ, nhất là trong lĩnh vực y dược .[12]
Theo tạp chí quốc tế về Công nghệ sinh học và sinh học phân tử nghiên cứu
Bời lời đỏ (Lour) C.B Rob (Tiếng Hin-du: Maida lakri) là một cây thuốc có giá
trị dược phẩm rất lớn. Loài này cực kì nguy cấp do tình trạng khai thác bừa bãi
để dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, nó được sử dụng
để sản xuất các loại thuốc giảm đau, có tác dụng hiệu quả trong điều trị tiêu chảy
và bệnh lỵ,....[14]
Năm 2011, trong luận văn thạc sĩ : Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh
11


Đỗ Tất Lợi có mô tả hình thái và nêu tác dụng của loài cây này một cách tương
đối tỉ mỉ và đầy đủ hơn về giá trị sử dụng: “…tất cả bộ phận của cây, nhiều nhất
là vỏ thân có chứa một chất nhầy (keo) và một ít tinh dầu nên người ta dùng vào
công nghệ keo dán trong kỹ nghệ làm giấy, phụ gia bê tông, làm hương nén. Vỏ
giã nát đắp lên những nơi sưng, bỏng, vết thương…, vỏ còn dùng sắc nước uống
12


chữa bệnh ñường ruột, lỵ… Nước ngâm vỏ Bời lời dùng bôi đầu làm cho tóc
mượt. Dầu Bời lời dùng làm sáp chế xà phòng. Gỗ Bời lời dùng làm giấy, đóng
đồ gia dụng, làm nhà tạm…”.[1]
Trong sách “Danh mục thực vật Tây nguyên” của Viện khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam, xuất bản năm 1984, cũng đã đề cập đến loài Bời lời đỏ nhưng
cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả và giới thiệu - Trong tạp chí Lâm nghiệp
tháng 7 năm 1994 có bài viết về “Trồng Bời lời nhớt” của Nguyễn Bá Chất. Ở
bài viết này, tác giả cũng đã đề cập đến một số vấn đề kỹ thuật trồng Bời lời
nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và mang tính chất định tính.[4]
Trong tài liệu thông tin chuyên đề “Kỹ thuật trồng Bời lời đỏ” của kỹ sư
Nguyễn Hiền, Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Gia Lai, 1991, đã giới
thiệu một số nét cơ bản về kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng Bời lời đỏ. Song
những đặc điểm sinh thái học của loài cây này thì hầu như chưa được đề cập tới.
Năm 1997, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài “Bước đầu nghiên cứu một số
đặc điểm sinh học của loài Bời lời đỏ (Litsea glutinosa C.B.Roxb) làm cơ sở cho
công tác trồng rừng tại tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Thị Lý, Trường đại học Tây
Nguyên đã xác định được một số đặc điểm sinh học: mô tả thân, cành, lá, rễ,
hoa, mùa và chu kỳ ra hoa, khả năng nẩy mầm, kỹ thuật gieo ươm, dự tính sản
lượng vỏ trên mô hình trồng thuần và trồng xen trong cà phê. Tuy nhiên các dự
tính sản lượng vỏ mới chỉ là tạm tính trên cơ sở giải tích một số cây cụ thể mà
chưa đưa ra được các ước lượng trên cơ sở hàm tương quan về mối quan hệ giữa
sản lượng vỏ với tuổi cây, mật độ trồng…

Từ ngày 28/12/215 đến 1/5/216
3.2.2. Không gian nghiên cứu
Địa bàn tỉnh Quảng Trị
3.3. Mục tiêu nghiên cứu
3.3.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiện trạng phát triển rừng Bời lời đỏ và chọn lọc cây trội
làm cơ sở để chọn giống, phục vụ cho công tác trồng rừng.
3.3.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được hiện trạng phát triển rừng Bời lời đỏ của tỉnh Quảng Trị để
làm cơ sở tiếp tục nghiên cứu
Chọn lọc được cây trội loài Bời lời đỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Tìm hiểu và đánh giá được kĩ thuật trồng loài Bời lời đỏ tại tỉnh Quảng Trị.
Đề xuất được một số giải pháp trồng loài cây Bời lời
3.4. Nội dung nghiên cứu
14


3.4.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Trị
- Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Trị.
- Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị.

15


3.4.2. Đánh giá hiện trạng rừng Bời lời đỏ của tỉnh Quảng Trị
3.4.3. Chọn lọc cây trội loài Bời lời đỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Điều tra chọn lọc cây trội
- Đặc điểm sinh trưởng
3.4.4. Đánh giá ảnh hưởng kĩ thuật trồng đến các chỉ tiêu sinh trưởngloài Bời
lời đỏ


• Dạng

1: Đánh giá sinh trưởng của cây ở các dạng lập địa chính

• Dạng

2: Ô tiêu chuẩn để xác định cây trội; Điều tra cây dự tuyển; Bấm tọa


độ GPS của các vùng nghiên cứu và cây trội chọn lọc
Điều tra tuyển chọn cây trội:
-

Điều tra cây ở rừng trồng: Lập OTC diện tích 500m 2 để đánh giá các chỉ tiêu
chọn lọc. Điều tra trên rừng trồng ở độ tuổi thành thục hoặc gần thành thục công
nghệ (7-9 tuổi). Phiếu đánh giá cây trội lặp sẵn theo tiêu chuẩn ngành (giống cây
rừng).

-

Điều tra tuyển chọn cây bời lời đỏ ở rừng tự nhiên: điều tra và đánh giá cá thể
bời vì hiện tại giống tự nhiên bị người dân khai thác nên số lượng cũng như chất
lượng giống còn rất thấp trong rừng tự nhiên, không thể áp dụng phương pháp
lập OTC điều tra như ở rừng trồng.

-

Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê: giá trị trung bình, phương sai, sai tiêu
chuẩn và phân tích phương sai để chọn lọc cây trội theo các chỉ tiêu chọn lọc.

7. Đối với cây lấy gỗ hoặc vỏ, lá phải chưa khai thác, đặc biệt chưa bị chặt
ngọn.
8. Trong rừng trồng có thể chọn cây gần nhau, trong rừng tự nhiên phải
chọn cây cách xa nhau ít nhất 100m (tránh 2 cây trong cùng một gia đình).
9. Để chọn cây trội trong một khu rừng cần phải điều tra một cách tỷ mỉ và
có hệ thống trên toàn bộ diện tích rừng để tránh tình trạng bỏ xót.
Phương pháp xác định cây trội
1.

Phương pháp áp dụng cho rừng thuần loài đều tuổi

a.

Phương pháp điều tra thống kê



Bước 1: Khảo sát toàn khu rừng để chọn ra những cây đáp ứng sơ bộ yêu
cầu của mục tiêu chọn giống. Những cây này được gọi là cây trội dự tuyển.
Bước này chủ yếu điều tra bằng mắt để xác định cây thích hợp mà chưa theo tỷ
lệ cây hay tỷ lệ diện tích cần đo đếm. Cây trội dự tuyển có gần khớp với cây trội
hay không phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và kỹ xảo của nhà chọn giống.



Bước 2: Điều tra đo đếm toàn bộ cây trội dự tuyển trên ô mẫu để xác định
trị số trung bình của sản phẩm theo chỉ tiêu chọn giống và xác định mức độ biến
động cho từng tính trạng. Ô tiêu chuẩn thường có từ 50 cây trở lên.



Khi chọn cây trội trong rừng tự nhiên không đồng tuổi thì một mặt sử dụng
phương pháp hồi quy đưa về dạng cây cùng tuổi để so sánh; mặt khác phải dùng
phương pháp đánh giá và cho điểm các tính trạng chọn lọc. Tuy nhiên, xác định
cây trội trong rừng tự nhiên là công việc hết sức khó khăn, ít có ý nghĩa thực tế.
b.

Phương pháp cây so sánh



Bước 1: Điều tra toàn bộ khu rừng như phương pháp trên để chọn cây trội
dự tuyển.
Bước 2: Lập OTC


+

Chọn 5 cây tốt nhất trong một vòng tròn cách cây trội khoảng 25 - 30m để làm
cây so sánh hoặc cây kiểm tra. Nếu không có cây thích hợp trong vòng tròn thì
cây so sánh có thể ở ngoài. Trường hợp điều tra trên đất dốc thì cây so sánh phải
nằm trên đường đồng mức với cây trội dự tuyển. Nói chung, cây so sánh không
nên lấy ở lập địa xấu hơn cây dự tuyển.

+

Cây so sánh phải được chọn theo các đặc điểm mong muốn như đối với cây trội.
Sau khi đo đếm các chỉ tiêu thì tiến hành đánh giá so sánh cây trội với cây kiểm
tra bằng cách cho điểm. Theo Zobel và Talbert (1984), những chỉ tiêu được đánh
giá cho điểm: chiều cao, thể tích, tán cây, độ thẳng thân, khả năng tỉa cành,
đường kính cành và góc phân cành.

2. Tính trạng được vẽ thành biểu đồ sử dụng riêng cho từng tuổi và lập địa.
Những cây nằm ở một khoảng nhất định phía trên đường hồi quy thì được thừa
nhận là cây trội và càng cao hơn càng tốt.
Chú ý: Phải đánh giá tính trạng chất lượng trước khi sử dụng đường hồi
quy vì tính trạng chất lượng có khả năng di truyền cao, ít chịu ảnh hưởng của
tuổi cây, dễ mang lại hiệu quả mong muốn.
Xây dựng đường hồi quy là công việc rất khó khăn và phức tạp, vì thế
phương pháp này có ý nghĩa trong nghiên cứu nhiều hơn, ít áp dụng ngoài
thực tế.
3.5.3.Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu nghiên cứu được phân tích, xử lý dựa trên nền các phần mềm
Excel, và các phần mềm chuyên dụng khác;
- So sánh các mẫu về lượng: Sử dụng phương pháp phân tích phương sai để
đánh giá mức độ biến động giữa các công thức thí nghiệm. Sử dụng tiêu chuẩn t
(Student) để chọn ra công thức thí nghiệm tốt nhất
- So sánh các mẫu về chất: Sử dụng tiêu chuẩn χ 205 để so sánh đánh giá và
chọn ra công thức tốt nhất.

21


PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Trị
4.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
1. Vị trí địa lý
Quảng Trị là tỉnh nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên
4.739,8224km2. Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính, gồm


Những lợi thế về vị trí địa lý đã đạt được đang tạo cho Quảng Trị một nền
tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong
nước và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế,
đẩy nhanh hơn nữa phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới.
2. Địa hình
22


Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang
Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: Vùng núi cao phân bố ở phía
Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp, vùng trung du và đồng bằng
nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh, kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển. Do địa hình
phía Tây núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc.
- Địa hình núi cao: Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi
bát úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000m, độ dốc 20-30 0. Địa
hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh. Các khối
núi điển hình là Động Voi Mẹp, Động Sa Mui, Động Châu, Động Vàng. Địa
hình vùng núi có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại
gia súc.
- Địa hình gò đồi, núi thấp: Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa
hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh. Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có
độ cao trên 500m. Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các
dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình. Khối bazan Gio Linh Cam Lộ có độ cao xấp xỉ 100 - 250m dạng bán bình nguyên, lượn sóng thoải, vỏ
phong hóa dày, khối bazan Vĩnh Linh nằm sát ven biển, có độ cao tuyệt đối từ
50-100m
- Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống
các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30m. Bao
gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu
mỡ, đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu

Giữa hai miền Đông và Tây Trường Sơn chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời
gian. Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến
22%, trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên
85%, có khi lên đến 88-90%.
- Nắng: Quảng Trị có số giờ nắng khá cao, trung bình 5-6 giờ/ ngày, có sự
phân hóa theo thời gian và không gian ro rệt: miền Đông có tổng số giờ nắng lên
tới 1.910 giờ, miền Tây chỉ đạt 1.840 giờ. Các tháng có số giờ nắng cao thường
vào tháng 5, 6, 7, 8, đạt trên 200 giờ. Nắng nhiều là điều kiện rất thuận lợi cho
quang hợp, tăng năng suất sinh học cây trồng. Tuy nhiên, nắng nhiều và kéo dài,
nhiệt độ cao dẫn đến hạn hán ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư.
- Gió: Tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa
Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở Quảng Trị là
hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta. Trung bình mỗi
24


năm có khoảng 45 ngày.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh
hưởng của bão. Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10. Bão có cường
suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản
xuất nông nghiệp và đời sống dân cư .
2. Thủy văn
Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1
km/km2. Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía
Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc. Toàn tỉnh có
12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông
Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh)
- Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao
1.257 m, có chiều dài 65km. Lưu lượng trung bình năm 43,4 m3/s.
- Hệ thống sông Thạch Hãn: Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn


51,5

809

115

15,7

1,15

1,43

2

Thạch Hãn
(Quảng Trị )

700

156

69

2660

301 20,1 38,6

0,92


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status