i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp tăng
cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên” là công trình
nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa
ĐÀO THẾ KHOA
học của PGS.TS. Trần Chí Thiện. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Đào Thế Khoa
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 - 34 - 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Chí Thiện
THÁI NGUYÊN - 2012
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ......................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................ 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 3
5. Kết cấu của đề tài ...................................................................................... 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÁC CHẾ
ĐỘ BHXH ........................................................................................................ 4
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012
Tác giả luận văn
1.1. Lý luận chung về BHXH ....................................................................... 4
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHXH là một tất yếu khách quan........ 4
1.1.2. Khái niệm BHXH ............................................................................ 5
1.1.3. Bản chất của BHXH ........................................................................ 7
Đào Thế Khoa
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm xã hội ............................................................ 8
1.1.5. Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH............................................ 11
1.2. Hệ thống các chế độ BHXH ................................................................. 17
1.2.1. Khái niệm về chế độ BHXH ......................................................... 17
1.2.2. Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH ............................................... 18
2.1. Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn .................................... 31
3.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý .................................. 92
2.1.1. Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995 .............................................. 31
3.3.5. Cân đối quỹ BHXH ổn định và lâu dài ......................................... 93
2.1.2. Giai đoạn từ tháng 10 năm 1995 đến nay ..................................... 35
3.3.6. Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ ................ 95
2.2. Quy trình chi trả chế độ BHXH ........................................................... 42
3.3.7. Một số giải pháp khác ................................................................... 96
2.2.1. Quản lý đối tượng chi trả BHXH .................................................. 42
KẾT LUẬN ................................................................................................... 98
2.2.2. Phân cấp chi trả ............................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101
2.2.3. Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH ................................................ 44
2.2.4. Tổ chức chi trả .............................................................................. 45
2.2.5. Lập báo cáo, xét duyệt thanh quyết toán chi bảo hiểm xã hội ...... 48
2.2.6. Thẩm định chi các chế độ bảo hiểm xã hội ................................... 48
2.3. Thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên ...... 50
2.3.1. Công tác quản lý đối tượng chi trả ................................................ 50
BHXH
:
Bảo hiểm xã hội
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
BNN
:
Bệnh nghề nghiệp
Bảng 2: Tổng hợp chi trả các chế độ BHXH từ năm 2006 đến năm 2010 ..... 54
CNTT
:
Công nghê thông tin
Bảng 3: Bảng tổng hợp chi ốm đau, thai sản, nghỉ DSPHSK từ năm 2006 đến
DSPHSK
Bảng 4: Tổng hợp chi ốm đau theo khối quản lý năm 2006 ........................... 61
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
2
MỞ ĐẦU
người lao động. Sau 15 năm hoạt động, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam
đã tổ chức chi trả các chế độ BHXH cho hàng triệu đối tượng dài hạn và ngắn
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày chế ngự và dự báo
được những rủi ro diễn ra trong cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh... Tuy
nhiên trước diễn biến phức tạp của cuộc sống, con người cũng không thể
lường trước được những rủi ro như bệnh tật, tuổi già, ốm đau, sinh tử... Mong
muốn có một khoản bù đắp những rủi ro không chỉ là của mỗi con người mà
còn là sự quan tâm, chăm sóc của Đảng và Nhà nước. Ngay từ những ngày
đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành các
sắc lệnh về chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và sau đó là điều lệ tạm thời
quy định các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, những
người làm việc trong các tổ chức đoàn thể, xã hội, các đơn vị sản xuất kinh
doanh của Nhà nước và lực lượng vũ trang. Trong quá trình thực hiện, chế độ
chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng
thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước. Ngày 26/01/1995, Chính phủ đã có
Nhu cầu của con người rất đa dạng và luôn thay đổi. Nhu cầu đơn giản
nhất, tối thiếu nhất là ăn, mặc, ở, đi lại. Để đáp ứng nhu cầu này con người
phải làm việc để tạo ra của cải vật chất phục vụ mình. Tuy nhiên con người
sống phụ thuộc rất nhiều vào xã hội, vào thiên nhiên và phải tuân theo những
quy luật của tự nhiên và xã hội. Những quy luật này có tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến từng cá nhân và cộng đồng. Trong cuộc sống không phải con
người lúc nào cũng khoẻ mạnh, có khả năng lao động, gặp may mắn để tạo ra
thu nhập nuôi sống mình và gia đình. Khi gặp phải những rủi ro, các nhu cầu
thiết yếu phục vụ cuộc sống của con người, không vì thế làm mất đi trái lại có
nhu cầu còn tăng thêm thậm chí phát sinh mới như ốm đau cần được chữa
bệnh, sinh con cần thêm thu nhập để nuôi con. Bởi vậy, con người một mặt
tìm cách khắc phục "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" một mặt nhờ sự
tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng.
Sự phát triển của phân công lao động và trao đổi hàng hoá làm xuất
hiện nền kinh tế hàng hoá. Nhu cầu mở rộng sản xuất dẫn đến việc thuê mướn
lao động. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã
phải cam kết đảm bảo cho người lao động làm thuê một số thu nhập nhất định
để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị rủi ro như: ốm đau,
tai nạn, thai sản... Trong thực tế nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra
và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn
dập, buộc họ phải bỏ ra những khoản tiền lớn cho người lao động mà họ
không muốn. Vì thề, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh
buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm bảo đảm đời
sống cho người lao động khi gặp phải rủi ro, bất lợi. Chính nhờ những mối
Ngoài ra, BHXH có thể được tiếp cận dưới giác độ là an sinh xã hội,
đảm bảo xã hội. Theo tổ chức lao động quốc tê ILO:
quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc
Bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định.
thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn
Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ sản, xuất kinh doanh được
về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai
diễn ra bình thường. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, đồng
càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày
thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
càng đảm bảo. Để quá trình tái sản xuất của xã hội được diễn ra thường
xuyên, liên tục và đời sống của người lao động được đảm bảo an toàn cần
một khái niệm thống nhất về BHXH. Khi đề cập đến vấn đề chung nhất người
nhập. Vì vậy người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định
ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi
cuộc sống và khoản bù đắp này được BHXH chi trả bằng các khoản trợ cấp.
vào cụ thể từng chế độ thì BHXH lại được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL
Người lao động tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH.
INSURANCE. Tuy nhiên sự hoà nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ
Tuy nhiên quyền này chỉ được thực hiện khi họ và người thuê mướn họ hoàn
này là một. Có thể đưa ra khái niệm về BHXH như sau:
thành nghĩa vụ đóng BHXH.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải
gia. Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của
rủi ro. ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông bù cho số ít" và
người lao động. BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá và nó
BHXH được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho
phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy có thể xem xét
người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất đi. Thông qua đó bảo vệ
bản chất của BHXH với những nội dung sau:
và phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, ổn định trật
* BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập.
tự xã hội.
Thực chất BHXH là một tổ chức đền bù hậu quả những rủi ro xã hội.
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ
tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và
Trong bản tuyên ngôn nhân quyền được Hội đồng Liên hợp quốc thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thông điệp trên đây của Liên hợp quốc đã khẳng định vai trò và vị trí
quan trọng của chính sách BHXH, khẳng định hệ thống các chế độ, chính
sách BHXH là cần thiết và không thể thiếu được trong mỗi quốc gia và trong
cộng đồng quốc tế.
Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp chung của toàn xã hội, phục
vụ những thành viên trong xã hội, do đó BHXH có vai trò rất quan trọng
trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia, cụ thể là:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
10
* BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH và bảo
đảm an sinh xã hội.
trường và góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động,
đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền an sinh quốc gia. Cùng với các
Trong cuộc sống, dù muốn hay không con người vẫn phải đối mặt với
các rủi ro. Có những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con
lo lắng về những rủi ro mà mình gặp phải. Khoản bù đắp này đã giảm gánh
phần thực hiện công bằng xã hội. Mặt khác BHXH là quá trình phân phối lại
nặng về tài chính cho người lao động, giúp họ khắc phụ kịp thời những tổn
thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang. Quá trình phân phối này đã làm dịch
thất, sớm phục hồi sức khoẻ, ổn định đời sống để có thể tiếp tục tham gia quá
chuyển tài chính từ những người có thu nhập cao sang những người có thu
trình lao động, học tập và sinh hoạt.
nhập thấp nhằm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.
* BHXH góp phần bảo đảm an sinh xã hội
* BHXH tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động với người sử
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội là một quyền của
dụng lao động và Nhà nước.
con người và được thừa nhận. An sinh xã hội là sự bảo vệ các thành viên của
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được người
xã hội trước những biến cố dẫn đến làm mất hoặc giảm thu nhập. BHXH là
ro. Hoạt động BHXH càng ổn định, vững chắc thì quỹ BHXH càng tăng
nhanh chóng ổn định sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
12
Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao
Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu:
động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công,
- Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước
thời gian lao động. Thông qua BHXH các bên tham gia BHXH đều có lợi và
(NSNN) và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHXH có thể bao gồm nhiều quỹ
được bảo vệ, do đó những mâu thuẫn sẽ được điều hoà và giải quyết. Từ đó
một rủi ro gặp phải nhưng thời gian hưởng trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi
người sẽ khác nhau vì còn phải căn cứ vào mức đóng góp và thời gian tham
gia BHXH của họ, ví dụ chế độ hưu trí. Tính không bồi hoàn thể hiện ở chỗ,
BHXH không thực hiện cùng một lúc mà dàn trải theo thời gian vì vậy, trong
cùng tham gia và đóng BHXH có người lao động được hưởng trợ cấp nhiều
khoảng thời gian người lao động tham gia BHXH chưa đến độ tuổi nghỉ hưu,
lần theo nhiều chế độ khác nhau, nhưng có người được hưởng ít lần hơn, thậm
quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhãn rỗi. Quỹ BHXH sẽ tham gia vào thị
chí không được hưởng ví dục chế độ ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp.
trường tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn lớn, ổn định đem đầu tư
- Quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư để
trong các chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế - xã hội.
bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm
1.1.5. Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH
an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc.
Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung được tạo lập từ những đóng góp
động, quỹ BHXH phải được bảo tồn giá trị và tăng trưởng thông qua hoạt
lao động. Mặt khác, Nhà nước hỗ trợ cho quỹ khi BHXH mất cân đối không
động đầu tư.
đáp ứng được khả năng chi trả và làm chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động
- BHXH là một khâu trong hệ thống tài chính quốc gia, vì vậy nó có
BHXH chắc chắn và ổn định.
quan hệ tác động qua lại giữa các khâu tài chính như: NSNN, tài chính doanh
Người chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH vừa là trách
nghiệp, tín dụng. Mỗi khâu tài chính có quỹ tiền tệ được tạo lập, sử dụng cho
nhiệm, vừa là quyền lợi. Chủ sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về
một mục đích riêng và gắn liền với chủ thể nhất định do đó chúng luôn độc
những rủi ro xảy ra đối với người lao động mà họ thuê mướn. Mặt khác khi
lập với nhau trong quản lý và sử dụng. Nhưng quỹ BHXH có quan hệ chặt
người lao động ốm đau, giảm hoặc mất khả năng lao động họ không phải trả
chẽ với các quỹ tiền tệ tập trung của các khâu tài chính khác như quỹ NSNN,
cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH...
gia đóng phí BHXH.
* Nguồn tạo lập quỹ BHXH
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp
nguồn nêu trên. Ngoài ra quỹ còn được hình thành từ:
- Tiền sinh lời từ các hoạt động đầu tư do sử dụng quỹ BHXH tạm thời
- Người lao động đóng góp
nhàn rỗi.
- Hỗ trợ của Nhà nước
- Tiền do các cá nhân và các tổ chức từ thiện hỗ trợ.
Quỹ BHXH được hỗ trợ từ NSNN là trách nhiệm của Nhà nước. Bởi vì,
- Tiền phạt do đóng BHXH chậm.
trước hết các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những chuẩn mực về pháp
Mỗi chế độ BHXH có một loại phí riêng hoặc có thể tổng hợp chung tất
nhân và các tổ chức xã hội thành lập theo pháp luật và có sự bảo trợ của Nhà
các nguyên tắc cân bằng thu- chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức
nước, để bảo vệ cho những người không ở trong hệ thống bảo hiểm của Nhà
phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều
nước với nguyên tắc tự nguyện thì phí BHXH toàn phần sẽ có cả lãi định mức
chỉnh sao cho tối ưu nhất.
cho tổ chức BHXH.
* Quá trình sử dụng quỹ BHXH:
Mức đóng góp hàng tháng của các bên tham gia BHXH do người lao
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sau đây:
động được gọi là phí BHXH. Về mức đóng BHXH, một số nước quy định:
- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH.
người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH.
Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, còn các chế độ khác do người
một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các
Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả
phương pháp toán học để xác định. Khi tính phí BHXH có thể dựa trên căn cứ
cũng phải đảm bảo thống nhất theo các nội dung chi. Điều đó có nghĩa là tất
khác nhau.
cả các nguồn thu BHXH đều được tập trung vào quỹ BHXH và sử dụng quỹ
- Dựa vào tiền lương và thang bảng lương để xác định mức trợ cấp
BHXH từ đó là cơ sở xác định mức đóng BHXH.
để chi trả cho các chế độ BHXH, chi quản lý và đầu tư. Phương thức quản lý
quỹ BHXH tập trung như vậy nhằm đơn giản, dễ dàng điều tiết giữa các chế
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng sau.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức
hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí BHXH.
độ BHXH trong quá trình chi trả.
Nếu quỹ BHXH được hình thành theo hai loại quỹ: Quỹ BHXH ngắn
hạn và quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn. Quỹ
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại
BHXH ngắn hạn được chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản,
tật... sẽ được hưởng trợ cấp BHXH theo các chế độ. Như vậy, có người lao
thực tế và đúng mục đích hơn. Đồng thời, còn tạo điều kiện cho người lao
động gặp rủi ro, mắc bệnh hiểm nghèo... sẽ được hưởng. Có người sẽ không
động thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn.
gặp rủi ro không mắc bệnh hiểm nghèo, không hưởng. Trong khi đó, đã tham
gia BHXH thì đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, do đó người lao động tham
1.2. Hệ thống các chế độ BHXH
gia BHXH không gặp rủi ro đã giúp đỡ người gặp rủi ro thông qua quỹ
1.2.1. Khái niệm về chế độ BHXH
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy
định cụ thể và chi tiết được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, điều kiện để
hưởng, mức hưởng, thời hạn hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp cho
từng trường hợp cụ thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù
hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của quốc gia.
Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật
như Luật, Nghị định, Điều lệ, các thông tư... Tuy nhiên dù có cụ thể hoá đến
đâu thì các chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mỗi chế độ
BHXH chi trả các chế độ BHXH.
- Khi chi trả các chế độ thường căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của
các bên tham gia BHXH, nếu đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít và
phần lớn các chế độ chi trả định kỳ. Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí,
của các bên tham gia BHXH. Ngoài ra cũng phải xem xét tới những công ước
thống BHXH, các chế độ BHXH giữ vai trò trung tâm. Mọi hoạt động của hệ
những quy định quốc tế khi xây dựng chế độ BHXH. Nhìn chung một chế độ
thống BHXH phải xoay quanh các hệ thống BHXH.
BHXH được xác định bởi các yếu tố chính sau:
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Đối tượng được hưởng BHXH.
- Các chế độ được xây dựng theo pháp luật mỗi nước, định kỳ các chế
- Các trường hợp được BHXH
độ BHXH cần phải được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội
- Điều kiện hưởng BHXH
của đất nước.
- Mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
người có quan hệ lao động, làm công ăn lương. Nhưng ở mỗi nước tuỳ thuộc
vào điều kiện của hệ thống BHXH mà có quy định cụ thể riêng. Nói chung,
các đối tượng hưởng BHXH cũng đồng thời là đối tượng tham gia BHXH (trừ
trường hợp chế độ tử tuất). Một chế độ trong một hệ thống có thể có đối
tượng hưởng nhưng đối tượng khác lại không được hưởng. Ví dụ: trong chế
2- Trợ cấp ốm đau
độ thất nghiệp thì công chức không thuộc đối tượng hưởng...
3- Trợ cấp thất nghiệp
* Các trường hợp được BHXH
4- Trợ cấp tuổi già (chế độ hưu)
Các trường hợp được BHXH thường liên quan đến những sự kiện gọi là
5- Trợ cấp trong trường hợp TNLĐ-BNN
"rủi ro xã hội". Những " rủi ro xã hội" này có thể do nhiều nguyên nhân khác
6- Trợ cấp gia đình
nhau dẫn đến hậu quả làm suy giảm (tạm thời hay vĩnh viễn) khả năng lao
7- Trợ cấp thai sản
động của người lao động hoặc khả năng lao động của họ không được sử dụng
(thất nghiệp) và cuối cùng là thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp của người lao
* Các điều kiện hưởng
3- Trợ cấp trong trường hợp TNLĐ-BNN
Để được hưởng các chế độ BHXH, người lao động phải có đủ những
4- Trợ cấp tàn tật
5- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
điều kiện nhất định như: Phải tham gia BHXH, phải đóng BHXH và phải có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
22
những rủi ro xảy ra. Tuỳ theo từng loại chế độ mà có những điều kiện riêng
điều kiện và môi trường lao động khác nhau thì mức độ "trẻ lao động" là khác
kèm theo.
+ Khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước
học đó là tuổi già. Theo quy định của Liên hợp quốc, người đạt tuổi 60 được
+ Trình độ quản lý lao động, quản lý xã hội.
coi là người già. Tuổi già để hưởng hưu trí của các nước không giống nhau,
+ Các chính sách dân số của quốc gia
có vùng 50-60 tuổi đã là già, nhưng lại có nước, có vùng thì tuổi già là 60-70
+ Các chính sách lao động việc làm.
tuổi. Chính vì vậy, không thể áp dụng độ tuổi nghỉ hưu của nước này cho
- Điều kiện tài chính BHXH
nước khác, vùng này cho vùng khác. Cơ sở sinh học còn liên quan tới điều
kiện về giới tính của người lao động. Do có sự khác biệt về cấu tạo cơ thể của
nam và nữ nên sự suy giảm tự nhiên khả năng lao động của nam giới và nữ
giới khác nhau và thường tuổi thọ lao động của nam giới cao hơn nữ giới. Ví
dụ nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi hoặc nam 65 tuổi, nữ 60 tuổi. Ngoài ra sự kiện
sinh đẻ ở nữ giới, hiện tượng ốm đau xảy ra bất thường đối với người lao
động là nguyên nhân làm suy giảm tự nhiên khả năng lao động của con người
và làm ảnh hưởng đến "tuổi thọ lao động".
- Điều kiện lao động và môi trường lao động: Song song với cơ sở sinh
học, điều kiện lao động và môi trường lao động là một căn cứ rất quan trọng
để xác lập điều kiện nghỉ hưởng BHXH. Điểm chung nhất là điều kiện lao
động ảnh hưởng đến người lao động làm suy giảm khả năng lao động của họ.
cầu về BHXH (nhu cầu cá nhân và nhu cầu chung, có tính xã hội của hệ thống
- Thông qua công tác chi trả các chế độ BHXH kiểm tra tính đúng đắn,
hợp lý cũng như những tồn tại bất cập của chính sách BHXH để kịp thời sửa
bảo hiểm).
Mức trợ cấp và thời gian hưởng BHXH tuỳ thuộc vào từng chế độ
BHXH. Tuy nhiên cơ sở để tính mức trợ cấp BHXH là căn cứ vào thu nhập
đổi, bổ sung đảm bảo quyền lợi cho người lao động; hạn chế tối đa tình trạng
khiếu kiện, đảm bảo công bằng giữa các thành viên tham gia BHXH.
của người lao động trước khi nhận được trợ cấp hoặc dựa vào mức thu nhập
- Thông qua công tác chi trả giúp cơ quan BHXH phát hiện những sai
cơ bản chung nào đó của xã hội. Nhưng mức trợ cấp đó phải đảm bảo yêu cầu
sót trong quá trình xét duyệt hưởng trợ cấp BHXH, phát hiện những đối tượng
là bù đắp được sự thiếu hụt thu nhập ở mức tối thiểu cho người lao động
hưởng sai trợ cấp từ đó có những biện pháp ngăn chặn, giảm hành vi giả mạo
hưởng BHXH có tính đến thời gian tham gia và mức đóng BHXH. Một số cơ
hồ sơ, chứng từ để hưởng trợ cấp BHXH.
- Từ thực trạng chi trả có thể đánh giá được nguyên nhân tăng giảm chi
sở dùng làm căn cứ xác định các mức trợ cấp là:
bảo an sinh xã hội. Vai trò của công tác này thể hiện ở những điểm sau đây:
- Chi trả đầy đủ, kịp thời, chính xác tới từng đối tượng hưởng BHXH
góp phần tạo ra nguồn thu nhập kịp thời, giúp người lao động có thu nhập để
chữa bệnh, nuôi con, phục hồi sức khoẻ, ổn định cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
góp phần hoàn thiện các chế độ BHXH.
- Thực hiện tốt công tác chi trả tạo được niềm tin của người lao động
đối với Đảng, Nhà nước về chính sách BHXH.
1.3.2. Cơ sở chi trả các chế độ BHXH
Cơ sở chi trả các chế độ BHXH là hệ thống các văn bản quy định của
Nhà nước cho phép xác định phạm vi đối tượng hưởng, loại trợ cấp, mức trợ
cấp, thời gian hưởng trợ cấp. Do đó, ở hầu hết các nước khi tiến hành chi trả
các chế độ BHXH đều dựa vào luật, các văn bản, quy định của Nhà nước và
các văn bản do cơ quan BHXH Trung ương hướng dẫn.
Thông thường các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH phải đáp ứng các
tiêu chuẩn theo luật của từng nước quy định. Loại trợ cấp, mức trợ cấp và thời
gian trợ cấp cho các đối tượng cũng tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội và
phương thức quản lý của mỗi quốc gia.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
cho quỹ BHXH.
- Chi đúng đối tượng: Vừa bảo đảm nguyên tắc tài chính vừa đảm
1.3.4. Quy trình chi trả các chế độ BHXH
bảo nguyên tắc tham gia BHXH có đóng, có hưởng. Thực hiện việc chi
Tổ chức bộ máy BHXH được thành lập từ Trung ương xuống địa
đúng cho đối tượng là sự đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các chế độ
phương. Cơ quan BHXH trung ương có trách nhiệm ban hành, hướng dẫn quy
BHXH, loại bỏ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để được hưởng thụ
trình chi trả, đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí để thực hiện chi trả các
các chế độ BHXH.
chế độ BHXH, kiểm tra quá trình thực hiện công tác chi trả của cơ quan
- Chi đủ: Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc
BHXH địa phương và quản lý chặt chẽ đối tượng được hưởng BHXH, nguồn
của công tác quản lý chi trả. Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng
kinh phí chi trả. Cơ quan BHXH địa phương trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chi
đảm bảo chi trả kịp, thời đây đủ.
hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả.
Quy trình chi trả các chế độ BHXH được thực hiện như sau:
- Chi kịp thời: Nguyên tắc này đặt ra thể hiện vai trò của BHXH trong
Một là, quản lý đối tượng: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH
việc ổn định cuộc sống cho đối tượng. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải
thường được chia ra đối tượng hưởng chế độ dài hạn và đối tượng hưởng
quy định rõ ràng thời gian chi trả và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian
trợ cấp ngắn hạn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
27
28
Là phương thức chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp BHXH thông qua
theo nhiều cấp từ Trung ương xuống địa phương. Trong đó mỗi cấp vừa chịu
đại lý chi trả. Theo phương thức này, cơ quan BHXH ký kết hợp đồng trách
sự ràng buộc bởi các chế độ, thể lệ chung, vừa có tính chất tự chủ. Phân cấp
nhiệm với một số cá nhân làm đại lý chi trả thông qua chính quyền địa phương.
chi trả được hiểu là sự phân định phạm vị, trách nhiệm, quyền hạn và các chế
Những cá nhân này thường là những người đang hưởng chế độ BHXH, có
độ BHXH của các cấp cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện công tác
trách nhiệm, uy tín ở địa phương và được cơ quan chính quyên địa phương giới
chi trả chế độ BHXH. Cơ quan BHXH Trung ương là cơ quan quản lý sẽ quy
thiệu. Hàng tháng, đại lý chi trả nhận danh sách đối tượng và tiền từ cơ quan
định rõ ràng nhiệm vụ, trách nhiệm, loại chế độ, đối tượng quản lý cho
BHXH cấp địa phương hoặc giao nhận tay ba tại Kho bạc, ngân hàng để tiến
BHXH các cấp địa phương cũng như đơn vị có liên quan. Cơ quan BHXH địa
hành chi trả cho các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH. Sau mỗi kỳ chi trả, đại lý
hưởng trợ cấp và địa bàn chi trả. Cán bộ chi trả phải thực hiện tất cả các khâu
trong quá trình chi trả: lên kế hoạch, thông báo thời gian chi trả cho từng địa
bàn, đơn vị được phân công phụ trách, chuẩn bị tiền chi trả và lập báo cáo,
quyết toán với cơ quan BHXH sau khi chi trả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
29
30
Năm là, lập báo cáo, xét duyệt quyết toán chi các chế độ BHXH: Báo
cáo quyết toán phản ánh toàn diện kết quả thực hiện công tác chi trả BHXH ở
cơ quan BHXH. Vì vậy sau khi tổ chức chi trả, cơ quan BHXH phải tập hợp
chứng từ, lập báo cáo về quá trình tổ chức chi trả bao gồm: Báo cáo về số đối
tượng tăng, giảm trong kỳ, báo cáo về số tiền thực hiện chi trả trong kỳ và báo
cáo về số đối tượng, số tiền chưa chi trả trong kỳ và vấn đề phát sinh trong
quá trình chi trả... gửi cơ quan BHXH cấp trên tổng hợp và làm căn cứ để
1.4 . Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp thu thập số liệu tài chính các
năm, ứng dụng thực tiễn với lý luận ngành, việc áp dụng các văn bản quy
phạm pháp luận.
Trên cơ sở xử lý các nghiệp vụ giải quyết các chế độ chính sách cho
người hưởng để phân tích, đánh giá những vấn đề bất cập và đề xuất hướng
xử lý, kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác
31
32
Chƣơng 2
việc cải tiền, bổ sung chế độ tiền lương, các chế độ BHXH, Quốc hội đã phê
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ
chuẩn và Hội đồng chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
kèm theo nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961. Đối tượng áp dụng là công
BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ rất sớm, việc thực thi các chế độ
BHXH đã đem lại những hiệu quả xã hội to lớn. Trải qua nhiều giai đoạn lịch
sử, các chế độ BHXH ngày càng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước.
2.1. Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn
2.1.1. Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta được làm chủ
đất nước. Ngay sau khi dành chính quyền, Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải
quyết chính sách cho người lao động. Sắc lệnh số 54 ngày 03/11/1945 quy
định những căn cứ, điều kiện để các công chức Nhà nước được hưởng chế độ
hưu trí. Sắc lệnh số 105 ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công
chức nhà nước. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 quy định cụ thể các chế độ
thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tuất đối với
công chứ Nhà nước. Sắc lệnh số 29 ngày 13/3/1947 và sắc lệnh số 77/SL ngày
* Quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của chủ sử dụng lao động
(15%), người lao động (5%) và sự hỗ trợ của Nhà nước.
* Các chế độ BHXH bao gồm:
Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp TNLĐ-BNN, hưu trí và trợ
cấp tử tuất.
* Tổ chức bộ máy thực hiện:
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ thu, giải quyết chế độ chính
sách, chi trả các chế độ BHXH do Tổng Công đoàn Việt Nam (nay là Tổng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
33
34
liên đoàn lao động Việt Nam), Bộ Nội vụ (nay là Bộ lao động - Thương binh
chi BHXH của Bộ LĐTB&XH, Bộ tài chính cấp thẳng kinh phí cho Sở Tài
và xã hội) quản lý.
chính vật giá địa phương, Sở tài chính vật giá sẽ cấp kinh phí cho Sở
- Tổng Công đoàn Việt Nam tổ chức thành 3 cấp là Tổng Công đoàn
LĐTB&XH để Sở lại cấp kinh phí cho Phòng LĐTB&XH chi trả các chế đọ
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hoặc người Việt Nam làm
Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Quỹ BHXH
việc tại nước ngoài.
không tập trung mà được chi tại các đơn vị sử dụng lao động, toạ chi từ nguồn
Các chế độ BHXH được xây dựng điều chỉnh và bổ sung tương đối kịp
kinh phí phải trích nộp. Nếu số phải nộp lớn hơn số thực chi thì cuối tháng
thời phù hợp với hoàn cảnh kinh tế chính trị xã hội của nước ta góp phần ổn
đơn vị phải nộp lại cho Tổng Công đoàn Việt Nam, còn nếu số thực chi lớn
định cuộc sống cho hàng triệu lao động khi họ gặp những rủi ro ốm đau, thai
hơn số phải nộp thì được Tổng công đoàn Việt Nam cấp bù.
sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất.
- Bộ LĐTB&XH phân cấp cho cấp huyện được giải quyết chế độ hưu
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, thực hiện BHXH vẫn còn những tồn
và tử tuất. Người sử dụng lao động ra quyết định cho người lao động được
tại: Các chế độ BHXH xây dựng nhưng qua nhiều lần sửa đổi trở nên chắp vá.
người ban hành chế độ chính sách cũng đồng thời là người giải quyết chế độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
35
36
chính sách do đó tình trạng gian lận trong hồ sơ, có nhiều sai sót dẫn đến hiện
01/2003/Nđ-CP về việc chuyển đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH
tượng chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH. Chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995.
lao động theo hình thức toạ thu, toạ chi, quỹ BHXH không phải là cân đối
* Tổ chức bộ máy thực hiện:
hàng năm do đó luôn trong tình trạng không cân bằng.
BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam.
Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, cơ
Bảo hiểm xã hội Việt Nám được tổ chức thành ngành dọc 3 cấp từ
Trung ương đến cấp huyện.
chế quản lý BHXH cũng có sự thay đổi. NGày 26/01/1995, Chính phủ đã có
+ Ở Trung ương là BHXH Việt Nam,
Nghị định số 12/CP về việc ban hành điều lệ BHXH áp dụng đối với cán bộ,
+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) là
công nhân viên chức Nhà nước, người lao động theo loại hình BHXH bắt
buộc. Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc
thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vụ thực hiện các chế độ bảo
BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam.
+ Ở các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là
huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh.
hiểm xã hội cho người lao động, BHXH trở thành một ngành độc lập, quỹ
* Quỹ BHXH.
BHXH được tách khỏi NSNN. Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
37
38
- Đối tượng được hưởng: Người lao động có đóng BHXH nghỉ việc vì
ốm đau, tai nạn rủi ro mà có xác nhận cảu tổ chức y tế do Bộ Y tế quy định
yêu cầu của người sử dụng lao động; bi tai nạn trên tuyến đường đi và về từ
nơi ở đến nơi làm việc.
- Mức trợ cấp: Tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và
thì được hưởng chế độ trợ cấp ốm đau.
- Mức trợ cấp ốm đau, khi nghỉ việc chăm sóc con nhỏ ốm đau hoặc
được tính theo mức tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ công bố.
thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số bằng 75% mức lương làm căn cứ
Bị suy giảm từ 31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp
đóng BHXH trước khi nghỉ việc. Trường hợp người lao động bị mắc bệnh cần
hàng tháng kể từ ngày ra viện và được chia làm 7 mức từ 0,4 đến 1,6 tháng
điều trị dài ngày theo quy định, nhưng sau thời hạn 180 ngày phải điều trị
đối với người làm việc trong điều kiện bình thường hoặc 5, 6 tháng trong điều
kiện đặc biệt.
- Mức trợ cấp thai sản bằng 100% mức lương đóng BHXH trước khi
nghỉ. Ngoài ra được trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng tiền lương đóng BHXH.
phục vụ bằng 80% mức tiền lương tối thiểu.
Người lao động bị tai nạn lao động làm tổn thương các chức năng hoạt
động của chân, tay, tai mắt, răng, cột sống...vv.. được trang cấp phương tiện
giúp cho sinh hoạt.
Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian
điều trị lần đầu) thì gia đình được trợ cấp một lần hoặc hàng tháng bằng 24
tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất.
Chế độ trợ cấp hưu trí:
- Đối tượng được hưởng: Người lao động khi nghỉ việc nam đủ 60 tuổi,
nữ 55 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên. Nam đủ
55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên trong đó có đủ 15
Chế độ trợ cấp TNLĐ - BNN:
- Đối tượng hưởng: Người lao động bị tai nạn lao động trong giờ làm
năm làm công việc nặng ngọc, độc hại, làm việc ở nơi có phụ khu vực hệ số
việc, tại nơi làm việc; ngoài nơi làm việc (kể cả ngoài giờ do yêu cầu của
từ 0,7 trở lên, đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975,
người lao động); bi tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo
ở Campuchia trước ngày 31/8/1989.
đình được nhận tiền tuất một lần. Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người
quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH. Còn đối với những người đủ
lao động đang làm việc hoặc người lao động nghỉ việc chờ giải quyết chế độ
số năm đóng BHXH nhưng nghỉ việc hưởng lương hưu trước tuổi thì mỗi
hưu trí chết, tính theo thời gian đã đóng BHXH nhưng tối đa không quá 12
năm nghỉ trước giảm đi 1% mức. Mức lương thấp nhất cũng bằng mức
tháng. Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người lao động đang hưởng hưu
trú, trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng chết thì tính theo thời gian đã hưởng hưu
lương tối thiểu.
+ Người lao động nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến
dưới 55 tuổi có thời gian đóng BHXH đủ 30 năm mà có nguyện vọng về hưu
thì được hưởng lương hưu như cách tính trên nhưng mỗi năm nghỉ việc hưởng
lương hưu trước tuổi không bị giảm 1%.
trí hoặc trợ cấp đang hưởng, nếu chết năm thứ hai trở đi thì mỗi năm giảm đi
một tháng nhưng tối thiểu bằng 3 tháng lương hưu trợ cấp.
Kể từ khi có luật BHXH thì các chế độ trên là:
Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ.
- Đối tượng hưởng: Người lao động tham gia BHXH bắt buộc được
+ Ngoài lương hưu hàng tháng, đối với lao động nữ có thời gian đóng
trên 25 năm, lao động nam có thời gian đóng trên 30 năm khi nghỉ hưu được
lương tối thiểu, khi có luật BHXH được quy định bằng 50% của tháng lương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vào mức độ suy giảm sức khoẻ của người lao động.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhận xét về hoạt động BHXH giai đoạn này:
* Kết quả đạt được:
Sự ra đời của hệ thống BHXH Việt Nam đã đánh dấu một bước trưởng
thành, một sự thay đổi cả về chất và lượng trong việc tổ chức thực thi chính
sách BHXH ở Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
41
42
- Đã hình thành được hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa
phương để quản lý quỹ BHXH tập trung thống nhất.
- Đối tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng đến người lao
động thuộc mọi thành phần kinh tế và đang dần dần từng bước mở rộng đến tất
cả người lao động, đến các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội như Nghị định
- Hình thành được quỹ BHXH độc lập, tách khỏi NSNN. Quỹ BHXH
- Công ước 102 quy định có 9 chế độ BHXH nhưng hiện nay nước ta
mới có 6 chế độ (kể cả chế độ bảo hiểm y tế). Để đảm bảo quyền lợi cho
người lao động và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần nghiên cứu bổ sung thêm
các chế độ khác. Việc bổ sung thêm các chế độ cần tính toán đến mức đóng
gíp của người tham gia BHXH để đảm bảo đủ nguồn chi trả.
- Những quy định về điều kiện được hưởng chưa chặt chẽ dẫn đến
người lao động và người sử dụng lao động lợi dụng để thanh toán tiền BHXH.
- Mặc dù đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng nhưng số đối
tượng tham gia BHXH mới chỉ chiếm trên 10% số người lao động bắt buộc
phải đóng BHXH. Người lao động làm việc ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh
thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố
tình tím cách trốn đóng BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố
tình tìm cách trốn đóng BHXH ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.
- Chính sách BHXH vẫn còn đan xen với các chính sách xã hội khác
như chính sách sắp xếp tổ chức, tinh giảm biên chế.
BHXH khi họ gặp rủi ro.
- Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý thu, chi BHXH từ phân tán hành
chính bao cấp sang cơ chế tập trung thống nhất, phấn biệt rõ chức năng quản
lý Nhà nước về BHXH và chức năng sự nghiệp BHXH, đã hạn chế tình trạng
quản lý trùng lắp, lỏng lẻo gây nên những thiếu sót sai phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dung chưa phù hợp.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2. Quy trình chi trả chế độ BHXH
2.2.1. Quản lý đối tượng chi trả BHXH