TIỂU LUẬN TRIẾT QUAN điểm CHỦ NGHĨA mác lê NIN về QUY LUẬT mâu THUẪN, ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN của QUY LUẬT đối với QUÁ TRÌNH hội NHẬP QUỐC tế ở VIỆT NAM - Pdf 38

TIỂU LUẬN
MÔN: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ LÝ LUẬN VẬN DỤNG

NỘI DUNG
QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ QUY LUẬT MÂU
THUẪN. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT ĐỐI
VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
………………………………………………………………………................


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT MÂU THUẪN
1
1.1
1.2

2
3
3.1
3.2
3.3
3.4
II

1
2
3

Trang

chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển
Vấn đề chống “diễn biến hòa bình” trong quá trình hội
nhập quốc tế
Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập

quốc tế
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

21
23
26
28
29


MỞ ĐẦU

Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng
những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn
trong bản thân sự vật hiện tượng; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi
của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới.
Bàn về quy luật mâu thuẫn (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các
mặt đối lập), V.I.Lênin khẳng định: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện
chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm
được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự
giải thích và một sự phát triển thêm” 1. Như vậy, quy luật mâu thuẫn là một
trong ba quy luật quan trọng nhất, là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật.
Vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển của thế giới

trong sự khác biệt đó, cái hài hòa của những cái căng thẳng, đối lập: đối lập
giữa thiện và ác, giữa trẻ và già, sống và chết… Ông coi đó là sự “tương
phản”, “tương hành” trong vũ trụ. Hêraclit khẳng định đấu tranh là nguồn gốc
của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt trong “sự sống” của
mọi sự vật đang biến đổi. Trong các công trình của mình, tư tưởng của ông
phản ánh về mâu thuẫn, về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,
đó là sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, giữa tập hợp và phân tán trong
quá trình vận động của nguyên tử. Ông diễn tả sự vận động của thế giới vật
chất như là một quá trình vĩnh viễn, vô tận từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, vận động là thuộc tính của các nguyên tử, “các nguyên tử bản chất
là bất động, đã vận động được là nhờ va chạm”.
Trong triết học cổ điển Đức, phép biện chứng đã trở thành một lý luận
được xây dựng một cách có hệ thống. Hêghen là đại biểu xuất sắc nhất của
nền triết học cổ điển Đức. Theo nhận xét của Ănghen: “Hêghen không chỉ
là một thiên tài sáng tạo, mà còn là nhà triết học có tri thức bách khoa,
nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”. Cống hiến lớn nhất của
Hêghen là phép biện chứng, mặc dù đó là phép biện chứng duy tâm. Hêghen
đã xây dựng lý luận mâu thuẫn và đưa ra cách thức giải quyết mâu thuẫn.
Trong “học thuyết về bản chất” của “khoa học logic”, Hêghen đã triển khai
mâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ và coi đó là quy luật bên


trong của bản chất. Hêghen nhấn mạnh, bất kỳ sự đồng nhất nào cũng bao
hàm sự khác biệt và mâu thuẫn. Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận
động, là nguyên lý của phát triển. Tuy nhiên, mâu thuẫn trong hệ thống triết
học của ông không phải là mâu thuẫn của hiện thực khách quan mà là của tinh
thần thế giới, ý niệm tuyệt đối. Hơn nữa, do bị chi phối bởi quan niệm dân tộc
và lợi ích giai cấp mà ông đại diện nên ông có quan điểm thỏa hiệp khi giải
quyết mâu thuẫn. Vì thế, dẫn đến kết cục hệ thống triết học của ông mâu
thuẫn với phép biện chứng của ông.

những sự đối lập bất kỳ. Trái lại, chỉ những mặt đối lập nằm trong sự liên hệ,
sự tác động qua lại với nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Đặc trưng đó cho thấy
sự khác biệt rất cơ bản giữa quan điểm duy vật biện chứng và quan điểm duy
tâm, siêu hình về mâu thuẫn cũng như sự khác biệt về chất giữa mâu thuẫn
biện chứng với các loại mâu thuẫn khác.
2. Nội dung cơ bản của quy luật
Việc nghiên cứu thực chất mối quan hệ biện chứng giữa các mặt đối lập
và vai trò của chúng đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng cho
phép chúng ta vạch ra quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
(hay còn gọi tắt là quy luật mâu thuẫn).
Hai mặt đối lập tuy có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, nhưng
chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại trong sự thống nhất của
chúng. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi
có nhau của mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy tồn tại của mặt kia
làm tiền đề. Nói cách khác, cũng có thể xem sự thống nhất của hai mặt đối lập
là tính không thể tách rời nhau của hai mặt đó. C.Mác giải thích: “Giai cấp vô
sản và sự giàu có là hai mặt đối lập. Với tính cách như vậy, chúng hợp thành
một chỉnh thống nhất nào đó... Là chế độ tư hữu, là sự giàu có, chế độ tư hữu
không thể không duy trì sự tồn tại của bản thân nó, do đó cũng không thể
không duy trì sự tồn tại của mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản... Trái lại,


với tư cách là giai cấp vô sản, giai cấp vô sản buộc phải thủ tiêu bản thân
mình, do đó tiêu diệt cả cái mặt đối lập của nó - tức là chế độ tư hữu - đang
chi phối nó và làm cho nó thành giai cấp vô sản”2.
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, “đồng
nhất” với nhau. Đó là một biểu hiện khác về sự thống nhất của các mặt đối
lập. Do có sự “đồng nhất” này mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một
lúc nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hoá sang mặt đối lập kia (khi xét về
một vài đặc trưng nào đó). Ví dụ: sự phát triển của kinh tế trong chủ nghĩa tư

nhau. Sự thống nhất duy trì sự đứng im, sự ổn định tạm thời của mâu thuẫn,
do đó, nó là cơ sở, tiền đề cho đấu tranh, chuyển hoá của các mặt đối lập. Sự
đấu tranh trực tiếp quy định sự vận động, sự phát triển không ngừng của mâu
thuẫn, do đó, nó vừa là thực chất, vừa là nội lực quy định sự thay thế lẫn
nhau của các trình độ thống nhất. Điều đó cũng có nghĩa, sự thống nhất của
các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối.
Khi xem xét các mối quan hệ như vậy, V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (...)
của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu
tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát
triển, sự vận động là tuyệt đối”3.
Như vậy, trong phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn xét về thực chất, là
sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Nhưng không phải sự thống
nhất thuần tuý mà là sự thống nhất gắn bó hữu cơ với đấu tranh; cũng không
phải là sự đấu tranh chung chung mà là sự đấu tranh gắn bó hữu cơ với sự
thống nhất mới là nguyên nhân chân chính, cuối cùng cho sự vận động, biến
đổi của mọi mâu thuẫn nói chung, do đó, cũng là nguyên nhân chân chính cuối
cùng cho sự vận động, biến đổi của từng sự vật, hiện tượng nói riêng. C.Mác
viết: “Cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng
nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung
hợp giữa hai mặt ấy thành một phạm trù mới”4.
3
4

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1981, t.29, tr. 379-380.
C.Mác và Ph. ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.4, tr. 191


Sự vận động, phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định
và tính thay đổi. Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định
những tính chất ấy của sự vật. Khi coi “thống nhất” như là một trường hợp

động, phát triển của sự vật. Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài luôn vận động trong sự tác động lẫn nhau. Mỗi bước giải quyết mâu thuẫn
này lại tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn kia. Vì thế, phải đồng thời giải
quyết cả mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Coi trọng giải quyết mâu
thuẫn bên trong và chú ý thoả đáng giải quyết mâu thuẫn bên ngoài. Trong thực
tế, ở những điều kiện cụ thể, đôi khi việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài lại có
vai trò đặc biệt với sự tồn tại và phát triển của sự vật. Giải quyết mối quan hệ
hữu cơ mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài trong sự nghiệp cách mạng,
Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng: "Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là
yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố
quan trọng để phát triển nhanh, bên vững và xây dựng nên kinh tế độc lập, tự
chủ. Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của
đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả"6.
3.2. Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định
sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình
tồn tại của sự vật.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó quy định sự vận động, phát triển của một mặt nào đó của sự vật.
3.3. Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát
triển nhất định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết mâu
thuẫn khác ở cùng giai đoạn (những mâu thuẫn thứ yếu). Sự phát triển hơn
nữa của sự vật, sự chuyển hoá của nó sang giai đoạn tồn tại khác phụ thuộc
vào việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu mới nảy sinh.

6

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr.102.




có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết
phù hợp, biết kết hợp các mặt đối lập một cách linh hoạt, sáng tạo. Trong quá trình hoạt động nhận thức và
thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định;
phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn; tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả
năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế. Và mâu thuẫn chỉ
được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi. Cho nên, chúng ta không được giải quyết mâu thuẫn một cách
vội vàng khi chưa có đủ điều kiện; cũng không để cho việc giải quyêt mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát,
phải cố gắng tạo điều kiện thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn, những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra
phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất!

Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình
thức cụ thể khác nhau). Đối với các mâu thuẫn khác nhau phải có phương
pháp giải quyết khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất của mâu thuẫn và những
điều kiện cụ thể. Phải tôn trọng mâu thuẫn, có biện pháp giải quyết thích hợp
với từng mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn, tích cực tìm tòi, phát hiện
mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc,
khuynh hướng của sự vận động và phát triển. V.I.Lênin cho rằng: “Sự phân
đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó
là thực chất… của phép biện chứng”7.
Với nhãn quan chính trị thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại, Nguyễn Ái
Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy được những mâu thuẫn cơ bản đang
tồn tại trong lòng xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Những mâu
thuẫn ấy đã tôi thúc Người quyết tâm ra đi tìm cho dân tộc ta con đường cứu
nước đúng đắn. Sau bao năm bôn ba tìm được cứu nước, ôm ấp khát vọng
“độc lập cho tổ quốc tôi, hạnh phúc cho đồng bào tôi” đã đưa Người đến với
chủ nghĩa Mác-Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của thời đại, chiếc
“cẩm nang” thần kì cứu nước, cứu dân mà bấy lâu nay dân tộc ta hằng khao
khát. Nên Bác khẳng định: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần

thẳng vào sự thật, đã mạnh dạn thừa nhận sai lầm và tiến thành đổi mới toàn
diện đất nước mà trước hết là đổi mới tư duy chính trị và đặc biệt là tư duy
phát triển kinh tế nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình xây dựng
CNXH, giải phóng sức sản xuất đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội.
II. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT MÂU
THUẪN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT
NAM


Công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo không
chỉ diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước bị
khủng hoảng mà còn diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những thay đổi
to lớn và sâu sắc. Trước hết, đó là sự khủng hoảng và đi tới sụp đổ của
hệ thống XHCN. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu cho
thấy việc xây dựng mô hình CNXH theo kiểu đối lập hoàn toàn với chủ
nghĩa tư bản đã trở nên lỗi thời. Thực tế đó buộc các Đảng Cộng sản
cầm quyền phải nhìn nhận lại về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
hiện đại. Trong khi đó, bản thân chủ nghĩa tư bản hiện đại cũng có sự
thay đổi, điều chỉnh, thích nghi với những biến đổi của quốc tế (mặc dù
sự thay đổi, điều chỉnh đó không làm thay đổi được bản chất của một
chế độ bất công, song cũng thể hiện một số giá trị tích cực nhất định).
Sự điều chỉnh về các vấn đề xã hội cũng như sức mạnh vốn có của nó
về mặt khoa học và công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức quản lí lẫn xã
hội, là những thực tế không thể bác bỏ. Hơn nữa, dưới sự tác động
mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, xu thế toàn cầu hóa kinh
tế đã xuất hiện, ngày càng diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến đời sống
của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Gắn liền với xu thế toàn
cầu hóa nền kinh tế, thế giới còn đứng trước những vấn đề toàn cầu cần
phải giải quyết: sự bùng nổ dân số, bảo vệ môi trường, đẩy lùi dịch
bệnh hiểm nghèo, chống chủ nghĩa khủng bố và tội phạm quốc tế... đã

nghĩa thì cũng sẽ đưa chế độ, đưa dân tộc tới chỗ nguy hiểm, bị đồng
hóa, xâm lấn và cuối cùng bị tiêu diệt. Do đó, yêu cầu đặt ra cho chúng
ta là phải làm sao để vừa thống nhất, vừa đấu tranh giữa hai mặt đối lập
là xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa để có thể tận dụng được tối đa
thời cơ thuận lợi, đồng thời hạn chế tối đa nguy cơ tiêu cực, góp phần
thúc đẩy nhanh quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.


Trước yêu cầu đặt ra, Đại hội lần thứ VI của Đảng khẳng định: Mở
rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. Đẩy
mạnh quá trình khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc. Đại hội lần
thứ VII: giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều
kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và BVTQ. Đồng thời
góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình
ĐLDT, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội lần thứ VIII tiếp tục thực hiện
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần
Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chủ
trương: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế. Điều này phản ánh tư thế chủ động của nước ta trên trường
quốc tế, khẳng định Việt Nam không chỉ sẵn sàng là bạn, mà còn sẵn sàng là
đối tác tin cậy trong quan hệ làm ăn với các nước trong cộng đồng thế giới.
Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam là bạn, là đối
tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến
trình hợp tác quốc tế và khu vực. Đồng thời, Đại hội cũng đề ra 3 nhiệm vụ và
4 nguyên tắc trong công tác đối ngoại: Thứ nhất, giữ vững môi trường hòa
bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Thứ hai, đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội, CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Thứ ba, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế

Tiếp tục nghiên cứu dự báo tình hình, Đảng ta chỉ rõ: cục diện thế giới
đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục
phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế. Toàn cầu
hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá
trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức… Đại hội lần thứ XI kế
thừa và phát triển đường lối đối ngoại qua các thời kỳ lên tầm cao mới và


khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà
bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ
vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;
nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”9.
Thực tiễn hơn 25 năm đổi mới của Việt Nam đã thu được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử - đó là công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
từ tư duy kinh tế, xã hội đến chính trị và đặc biệt là trong lĩnh vực đối ngoại
và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang là một thành viên ngày càng chủ
động, tích cực và có trách nhiệm cao trong nhiều diễn đàn khu vực và quốc tế.
Những dấu ấn nổi bật nhất trong 5 năm qua là Việt Nam trở thành thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hoàn thành xuất sắc nhiệm
kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 và
đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010 một cách tự tin, đĩnh đạc, đầy
tinh thần trách nhiệm. Việt Nam là quốc gia đã hoàn thành 5/8 mục tiêu thiên
niên kỷ của Liên Hợp quốc đưa ra trước niên hạn… Và, đến cuối nhiệm kỳ
Đại hội lần thứ X, Việt Nam đã có quan hệ hầu như với tất cả các nước trên
thế giới. Cho đến nay, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ lên tầm "đối tác chiến

có thể có sự bình đẳng trong quá trình hợp tác, trao đổi về kinh tế cũng
như công nghệ với bên ngoài. Điều đó càng chứng tỏ sự cần thiết phải
xây dựng cho được nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Như vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng đòi hỏi khách
quan của toàn cầu hóa, Đảng ta đã vận dụng linh hoạt, có nguyên tắc tư
tưởng biện chứng về kết hợp giữa hai mặt đối lập. Từ đó, quá trình đổi


mới của nước ta nói chung và công cuộc hội nhập quốc tế, hội nhập
khu vực đã đạt được những thành công quan trọng, góp phần thúc đẩy
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Vấn đề chống “diễn biến hòa bình” trong quá trình hội nhập quốc tế
Sau sự sụp đổ của các nước XHCN, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế
quốc Mỹ ráo riết tiến hành chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ với
tham vọng xoá bỏ các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam.
Nếu những năm trước đây, các thế lực thù địch thường sử dụng biện
pháp “cứng rắn” để chống phá Việt Nam thì nay, họ đã thay đổi biện pháp
chiến lược, chuyển từ “cứng rắn” sang “mềm dẻo”, vừa thúc đẩy quan hệ để
lôi kéo, vừa gây sức ép để tác động “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam
theo hướng “tự diễn biến” là chính. Hiện nay, mối quan hệ của phương Tây
đối với Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Phương Tây không đưa
Việt Nam trở lại “danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn
giáo” mà lên tiếng ủng hộ Việt Nam nhiều hơn trên các diễn đàn quốc tế; ký
kết với Việt Nam nhiều dự án đầu tư, làm ăn kinh tế, đẩy mạnh hợp tác với
Việt Nam trên nhiều lĩnh vực văn hóa, giáo dục, quân sự... Nhưng bên cạnh
đó vẫn có những thế lực ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”,
“chuyển hóa” Việt Nam. Các thế lực thù địch luôn xác định, bằng mọi giá
phải thay đổi cơ chế chính trị của Việt Nam. Vì vậy, một số thế lực của

hiểu tình hình, thu thập thông tin và lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền”
để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Sau vụ người Mông ở Mường Nhé
(5/2011), các thế lực xấu ở phương Tây, bằng nhiều cách đã “hỗ trợ” nhóm
phản động người Mông ở Tây Nguyên để vận động người Mông ở đây ra các
tỉnh phía Bắc “đón vua”; đồng thời lôi kéo người Mông từ Điện Biên vào các
tỉnh Tây Nguyên để “lánh nạn”, chờ cơ hội lập lại “Vương quốc Mông”. Hơn
thế, còn tài trợ, giúp đỡ, huấn luyện một số cốt cán “tin lành Đề-ga” ở nước


ngoài để đưa về Việt Nam hoạt động thông qua các bức bình phong “tổ chức
phi chính phủ”. Việc làm này ít nhiều đã gây sức ép đối với chính quyền địa
phương sở tại, gây mất ổn định trật tự và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất ở
một số địa phương.
Nham hiểm, xảo quyệt hơn, một số chiến lược gia của phương Tây
cho rằng, lực lượng có tính chất quyết định, nòng cốt cho việc chuyển hóa,
thúc đẩy “tự diễn biến” ở Việt Nam là “những người cấp tiến” trong nội bộ
Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, họ đã và đang tìm mọi cách “lôi kéo”, “mua
chuộc” nhằm xây dựng “đội ngũ mới” (lực lượng đối lập trong Đảng và Nhà
nước); từ đó, đẩy mạnh việc gieo “mầm mống dân chủ” phương Tây, hình
thành các phe phái, khuynh hướng trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Mặt khác,
các thế lực thù địch tìm mọi cách để đẩy mạnh tham nhũng và lợi dụng
chống tham nhũng, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Đảng để kích động,
gây chia rẽ, tạo sự hoài nghi, mâu thuẫn trong nội bộ Đảng; chia rẽ Đảng với
quần chúng nhân dân. Qua đó, từng bước thực hiện ý đồ “dùng cộng sản lật
đổ cộng sản”, làm tê liệt hệ thống chính trị XHCN ở nước ta. Gần đây,
hướng tiếp cận của họ là hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu
sắc” tại một số nước trên thế giới, và đưa các tổ chức này vào Việt Nam hoạt
động để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng Việt Nam. Các tổ chức
như Quỹ Dân chủ quốc gia (NED), có kế hoạch mỗi năm sẽ đào tạo ít nhất
10 sinh viên Việt Nam làm “hạt giống” sau khi trở về Việt Nam công tác sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status