Bài dự thi mẫu EM YÊU LỊCH SỬ mới nhất - Pdf 39

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN HAI BÀ TRƯNG
TRƯỜNG THCS TRẦN PHÚ
====*****====

BAI DƯTHI
“EM YÊU LỊCH SỬ VIÊÊT NAM”
Họ và tên: ……………………………
Lớp:

............................................

Năm học 2016 - 2017


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
Câu 1. Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm ghi
lại bài ca dao về 36 phố Hà Nội, có câu như sau :
Rủ nhau đi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Đóng vai một hướng dẫn viên du lịch em hãy giới thiệu về Lịch sử 36
phố phường của Thăng Long - Hà Nội.
-Trả lời:Xin chào các bạn!Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn ,
những người đã thể hiện tình yêu của mình đối với thành phố Hà Nội yêu quý
cuả chúng tôi bằng việc dành thời gian đến tham quan, du lịch Hà Nội.Hôm nay
với vai trò là một công dân của Thủ Đô tôi xin làm hướng dẫn viên để cùng
đồng hành với các bạn trong chuyến du lịch này nhé.
Các bạn thân mến! Thật tự hào khi được giới thiệu với các bạn về thành phố
Hà Nội. Thành phố có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến.Đúng là như vậy đấy các
bạn ạ :Nói đến quá trình lịch sử phát triển của “Thăng Long - Hà Nội” thì không
thể không nhắc đến khu phố cổ Hà nội. Trong cuốn Việt Nam thi văn hợp tuyển
của Dương Quảng Hàm ghi lại bài ca dao về 36 phố Hà Nội, có câu như sau :


Nghề thêu xưa…

Công Hành) sống thời Lê Trung Hưng người làng Quất Động nay thuộc huyện
Thường Tín, Hà Nội. Nhưng đó là truyền thuyết theo sử sách nước ta nghề thêu
đã có từ thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Thời đó nhân dân ta đã dệt được vải
mịn và thêu hoa lá gọi là Bạch Diệp. Năm 1156 Vua nhà Lý đã từng tặng vua
nhà Tống 850 tấm đoạn màu vàng có thêu rồng cuộn. Vậy Lê Công Hành có thể
chỉ là người có công cải tiến kĩ thuật thêu hoặc sáng chế ra những kiểu mẫu mới
và phổ biến cho dân quanh vùng. Ngày trước nghề thêu chủ yếu là làm những
hàng phục vụ các nhà quyền quý, các đền chùa và phường tuồng (mũ mãng,
triều phục, cờ quạt, đối trướng, khăn trầu, áo ngự…). Kĩ thuật thêu thời ấy cũng
đơn giản, bảng mầu chỉ quanh quẩn có năm mầu. Tới đầu thế kỉ thứ hai mươi
mới có thêm các nguyên vật liệu mới (như sa tanh, chỉ xoa tức tơ chỉ châu Âu,
thuốc nhuộm nhiều mầu…) nên nghề thêu phát triển kĩ thuật thêu tinh vi hơn
thêu hàng trắng, thêu nổi trên kim tuyến v.v… Có nhiều mặt hàng mới mẻ đáp
ứng nhu cầu và thị hiếu đương thời: khăn trải giường thêu, những con rồng uốn
khúc vờn mây, chỗ nổi chỗ chìm, hoặc thêu chim phượng xòe cánh miệng ngậm
phong thư, đuôi vắt vẻo. Những mặt gối thêu tứ long ly, hay những bộ tranh tứ
bình: mai, lan, cúc, trúc… Có mặt hàng “đầu hổ” thêu đầu con hổ, đôi mắt tròn
3


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
xoe, mũ và trán độn cao gồ lên, râu ria tua tủa trông thật dữ. Lại có những bức
tranh thêu phong cảnh hoặc cảnh sinh hoạt chợ quê, đình làng, cô gái gẩy đàn,
ông đồ viết câu đố… Nhưng tinh xảo nhất thì phải kể đến loại tranh chân dung.
Đúng là người thợ thêu bằng cây kim và sợi chỉ mà “vẽ” lên chân dung những
con người. Điều này quả là khó, vì phải thêu sao cho giống y như người thật,
sinh động và có “thần sắc”.

(carré) là vuông, do vậy lính pháp gọi lực lượng này là “Việt Minh carê”.
Trong thời gian này, việc bảo vệ an ninh trong thành phố, ngoài các đội
công an xung phong thuộc sở công an Bắc Bộ còn có các đội tự vệ, đây là lực
lượng tự vệ vũ trang địa phương Hà Nội.
Thực ra tự vệ Hà Nội lúc đó gồm bốn thành phần: tự vệ chiến đấu, cứu
quốc Hoàng Diệu (gọi là tự vệ chiến đấu Hoàng Diêu), Tự vệ xí nghiệp, Tự vệ
thành Hoàng Diệu và dân quân tự vệ ngoại thành. Các lực lượng tự vệ trên
(nòng cốt là tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu) đều do thành ủy và ủy ban
hành chính thành phố trực tiếp lãnh đạo.
1- Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu vừa làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan
lãnh đạo, vừa củng cố tổ chức, làm công tác quần chúng huấn luyện quan sự
và học tập chính trị. Dù chỉ là lực lượng vũ trang địa phương nhưng về tổ
chức biên chế và các mặt sinh hoạt của tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu
đều theo nề nếp một đơn vị vũ trang tập trung. Do thành phần được chọn từ
những đội viên ưu tú của các đoàn thể cứu quốc, từng trải qua hoạt động
trong những ngày tiền khởi nghĩa và tham gia cướp chính quyền, đồng thời
do có sự lãnh đạo tực tiếp của chi bộ Đảng nên tự vệ chiến đấu cứu quốc
Hoàng Diệu phát huy vai trò xung kích đi đầu trong cuộc đấu tranh làm thất
bại âm mưu chống phá của quân Tưởng và bọn Việt Quốc, Việt Cách phản
động.
5


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
2- Cùng với việc xây dựng đội tự vệ chiến đấu, một tổ chức vũ trang tập trung
và thống nhất. Thành phố còn trọng xây dựng một lực vũ trang rộng rãi ở tất
cả các khu phố, trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố. Đó là tự vệ thành
Hoàng Diệu (gọi tắt là tự vệ thành), một tổ chức thể hiện rõ đường lối vũ
trang toàn dân của Đảng.
Tự vệ thành gồm chủ yếu là nhân dân lao động, dân nghèo thành thị, học

Còn tự vệ thành, tự vệ xí nghiệp và dân quân tự vệ ngoại thành với tính chất
quần chúng vũ tang rộng rãi, chính là công cụ bảo lực của chính quyền cơ sở
chiến đấu tại chỗ, với cái tên chung sau này là đan quân tự vệ, nằm trong lực
lượng hệ thống vũ trang ba thứ quân khi đã hình thành hoàn chỉnh.
Từ tháng 3-1946 khi quân pháp được phép vào Hà Nội, chúng đã gây nhiều
tội ác mới. các chiến sĩ tự vệ luôn kịp thời có mặt ở những nơi quân Pháp và bọn
phản động gây sự, khi cần buộc phải “ra tay” sẵn sàng dũng vũ lực để ngăn chặn
hành động gây rối khiêu khích của chúng, do đó lính Pháp rất sợ những người
Việt Minh đội mũ có sao vuông và dặn nhau hễ gặp “Việt Minh carê” thì nên
tránh.
Cảm nhận của em về chiến thắng của lực lượng vũ trang Hà Nội.
Ngay sau những ngày cách mạng tháng Tám Hà Nội rơi vào tình thế “ Ngàn
cân treo sơi tóc”. Tự vệ thành phố còn non trẻ, vũ khí thô sơ nhưng đã chiến đấu
với tinh thần mưu trí dũng cảm đối với kẻ thù đong hơn tình hình vô cùng phức tạp.
Lực lượng vũ trang là những người công nhân, thanh niên trí thức đã thể hiện
lòng yêu nước của mình bằng những hành động cụ thể từ hướng dẫn quần chúng
đến giữ trật tự an ninh thành phố, đến bảo vệ chính phủ kháng chiến. Họ đã có
mặt ở mọi nơi mọi lúc để ngăn chặn những hành động phá hoại của kẻ thù. Đó
là những con người không sợ hiểm nguy, xả thân vì Tổ quốc bảo vệ thành quả
cách mạng, trong những ngày đầu cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Bản thân em rất khâm phục tinh thần, ý chí, nghị lực của lực lượng vũ trang
thành phố-Những người lính Việt Minh đội mũ có sao vuông làm kẻ thù vô cùng
khiếp sợ. Em nguyện sẽ là những thế hệ kế tục truyền thống của lớp cha ông đi
trước.

7


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
Câu 3:Bằng những kiến thức lịch sử chọn lọc, hãy khẳng định quá trình xác

bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi.
Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ
Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và
Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bản
nhà Nguyễn (1802-1945)... đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như
là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra
khai thác các quần đảo này. Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng
thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đỉnh
cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần
đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Cũng cần nói thêm là
trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi là
Vạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng... Trên thực tế, các chúa
Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử
người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để
thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các thể lệ tuyển chọn
người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định
rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn
(1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà
Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm
Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo
sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.
9


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
Sau khi đô hộ Đông Dương, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai
quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh, ngăn chặn buôn

Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm
đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắt
giữ 82 "ngư dân” Trung Quốc.
Đối với nhóm đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền VNCH tiếp
tục quản lý cho đến năm 1974. Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải
quân chiếm luôn phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền VNCH và
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã kịch liệt
phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Năm 1975, chính quyền
VNCH sụp đổ, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo
do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông. Nhà nước Việt Nam thống nhất
sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lập
các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc
quản lý hành chính trên các quần đảo này. Một sự thật hiển nhiên là cho đến
năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo
Trường Sa. Ngày 14-3-1988, Trung Quân bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái
phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Dưới ánh sáng của
pháp luật quốc tế, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để
khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng
quy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên. Đây là chủ quyền
chuyên biệt, không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay
tuyên bố minh thị. Mọi sự tùy tiện chiếm cứ của nước ngoài dù có bằng vũ lực
hay không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực. Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quần
đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cách
lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa
của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982. Về mặt địa
chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành



Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”

Trẻ em đảo Trường Sa Lớn ngày nay
đang trên đường đến lớp học
Chúng em cần làm những việc sau để góp phần bảo vệ chủ quyền biển
đảo thiêng liêng của Tổ Quốc:
Biển, đảo Việt Nam là phần lãnh thổ của đất nước Việt Nam, qua nghìn đời
nó đã luôn gắn chặt với cư dân nước Việt về cả vật chất lẫn tinh thần. Biển, đảo
là máu thịt của Tổ quốc, vì vậy mỗi người dân Việt Nam phải có trách nhiệm
giữ gìn và bảo vệ biển đảo. Đăc biệt là chúng em-những chủ nhân tương lai của
đất nước.
- Trước hết là học sinh sinh viên cần đi đầu trong việc tích cực tuyên truyền,
nâng cao nhận thức cho cộng đồng về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững
biển và hải đảo Việt Nam. Đồng thời tranh thủ các nguồn lực và sự ủng hộ từ
hợp tác quốc tế với các nước bè bạn và các tổ chức quốc tế trên mọi lĩnh vực.
- Tăng cường học tập, nghiên cứu, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý,
bảo vệ và phát triển bền vững biển, đảo.
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về khai thác, sử dụng bền
vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo.
13


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm
soát và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.
- Xây dựng và quảng bá thương hiệu biển Việt Nam.
- Tích cực tham gia góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị thế quốc
gia biển và hội nhập quốc tế trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển,


16


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”
Cơ sở pháp lí để khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam:

An Nam đại quốc họa đồ và Đại Nam thống nhất toàn đồ
( An Nam Đại quốc họa đồ (1838) của Giám mục Jean Louis Taberd (Pháp) vẽ
và xuất bản trong cuốn từ điển La tinh – An Nam năm 1838. Bản đồ vẽ theo
phương pháp hiện đại, chính xác và được chú thích bằng 3 thứ tiếng (La tinh,
Hán, Quốc ngữ). Dọc theo khu vực duyên hải và ngoài khơi An Nam, bản đồ có
ghi tên các cảng, đảo... và ở khoảng giữa vĩ tuyến 16 và 17 độ Bắc, kinh tuyến
111 độ Đông, bản đồ có vẽ cụm đảo nhỏ với dòng chữ "Paracel seu Cát Vàng"
(Paracel hoặc Cát Vàng)
Đại Nam thống nhất toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể
hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa bằng chữ Hán.).

17


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”

(19 Châu bản triều Nguyễn là loại văn bản hành chính của vương triều
Nguyễn (1802-1945). Trên các châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê của
các vua triều Nguyễn bằng son đỏ. Những tờ châu bản này được trích từ kho
tàng châu bản triều Nguyễn, gồm 734 tập với hàng trăm nghìn trang văn bản
gốc.
Nội dung các châu bản trung bày trong triển lãm này phản ánh quá trình
thực thi chủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và

Một số hoạt động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam
đối với Trường Sa và Hoàng Sa:

Đại tướng Lê Đức Anh (lúc này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) ở quần đảo
Trường Sa, Việt Nam năm 1988

Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam
trên đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa tháng 5-1988
20


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”

Các chiến sĩ đảo Sinh Tồn Đông tuần tra ven đảo

Học sinh ủng hộ Quỹ “Vì Trường Sa thân yêu – Vì tuyến đầu Tổ Quốc”

21


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”

Thanh niên hưởng ứng Quỹ “Vì Trường Sa thân yêu – Vì tuyến đầu Tổ Quốc”

22


Bài thi: “Em yêu lịch sử Việt Nam”

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status