Nghiên cứu các thông số chủ yếu của bê tông đầm lăn trong tính toán kết cấu mặt đường ô tô và sân bay - Pdf 39


 

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU



1. Đặt vấn đề



2. Mục đích nghiên cứu



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ ỨNG DỤNG TRONG
XÂY DỰNG ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM



1.1. Khái niệm về bê tông đầm lăn



1.1.1. Quá trình hình thành cường độ 



1.2.1.1. Lịch sử ra đời và quá trình phát triển 

15 

1.2.1.2. Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng 

18 

1.2.2. Tại Việt Nam 

21 

1.2.2.1. Thực trạng ứng dụng BTĐL 

21 

1.2.2.2. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và ứng dụng BTĐL 

24 

1.2.2.3. Tiềm năng ứng dụng công nghệ BTĐL 

27 


 


ii 

CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU CHẾ TẠO VÀ THIẾT KẾ

36 

THÀNH PHẦN BÊ TÔNG ĐẦM LĂN

36 

2.1. Nghiên cứu vật liệu sử dụng

36 

2.1.1. Cốt liệu lớn và nhỏ 

36 

2.1.1.1. Cốt liệu lớn 

36 

2.1.1.2. Cốt liệu nhỏ 

37 

2.1.1.3. Lựa chọn hợp lý cấp phối các cốt liệu 

38 

2.1.1.4. Đánh giá các cấp phối cốt liệu bằng thực nghiệm 



53 
53 


iii 
 
2.2.1.1. Độ công tác 

53 

2.2.1.2. Cường độ chịu nén và kéo uốn 

64 

2.2.2. Xác định phương pháp thiết kế thành phần BTĐL 

72 

2.2.2.1. Trình tự thiết kế 

72 

2.2.2.2. Đánh giá độ tin cậy 

73 

2.3. Kết luận chương 2

78 


84 

3.2.2. Cường độ chịu kéo khi uốn 

86 

3.2.2.1. Quan hệ giữa cường độ chịu kéo khi uốn và cường độ chịu nén 

86 

3.2.2.2. Ảnh hưởng của tải trọng trùng phục đến cường độ chịu kéo uốn 

89 

3.2.3. Mô đun đàn hồi 

91 

3.2.5. Độ mài mòn 

94 

3.3. Tính chất vật lý

97 

3.3.1. Khối lượng thể tích 

97 


4.1.1. Yêu cầu về thiết kế cấu tạo mặt đường 

112 

4.1.2. Yêu cầu kỹ thuật lớp móng mặt đường 

113 

4.1.3. Yêu cầu đối với vật liệu 

114 

4.2. Tính toán và đề xuất kết cấu áo đường với vật liệu BTĐL

115 

4.2.1. Các thông số thiết kế mặt đường 

115 

4.2.2. Đề xuất mô hình kết cấu áo đường BTĐL cho đường giao thông cấp thấp 

117 

4.2.2.1.  Xác định chiều dài cho phép của tấm BTĐL 

117 

4.2.2.2. Phân tích kết cấu mặt đường dùng BTĐL làm lớp mặt cho đường cấp thấp

124 

5. Hướng nghiên cứu tiếp theo

124 

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO

II 
iv 

 





 
PHỤ LỤC A. KHÁI QUÁT CÁC PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ
THÀNH PHẦN HẠT TỐI ƯU

VIII 
IX 

PHỤ LỤC B. TRÌNH TỰ CÁC BƯỚC THIẾT KẾ THÀNH PHẦN BTĐL THEO
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP

XVII 



BTXM 

Bê tông xi măng không có phụ gia khoáng 

KLTT 

Khối lượng thể tích 

TTTĐ 

Thể tích tuyệt đối 

TTHH 

Thể tích hỗn hợp 

PP 

Phương pháp 

N/CKD 

Tỷ lệ nước và chất kết dính 

CKD 

Chất kết dính 

C/CL 


HHBT 

Hỗn hợp bê tông 

HH 

Hỗn hợp 

TPH 

Thành phần hạt 

TCVN 

Tiêu chuẩn Việt Nam 

PPTK 

Phương pháp thiết kế 

KLTT 

Khối lượng thể tích 

TKBT 

Thiết kế bê tông 

CTE 

 


viii 
 
DANH MỤC CÁC BẢNG 
Bảng 1.1. Đặc điểm chính của BTĐL 



Bảng 1.2. Một số công trình đập đã được xây dựng ở trong nước 

22 

Bảng 1.3. Bảng tính cường độ yêu cầu khi không có dữ liệu thí nghiệm 

30 

(theo tiêu chuẩn ACI) 

30 

Bảng 1.4. Các chỉ tiêu cường độ và mô đun đàn hồi của bê tông làm đường 

31 

theo Tiêu chuẩn 22TCN 223-95 

31 


49 

Bảng 2.9. Vùng biến đổi của các biến 

55 

Bảng 2.10. Kết quả thí nghiệm tính công tác của BTĐL 

56 

Bảng 2.11. Thông tin mô hình hồi quy cho kết quả thí nghiệm độ công tác 

57 

Bảng 2.12. Phân tích phương sai ANOVA cho mô hình hồi quy đã xây dựng 

58 

Bảng 2.11. Kết quả lượng nước hợp lý của BTĐL 

63 

Bảng 2.12. Thành phần bê tông đầm lăn tính cho 1m3 

65 

Bảng 2.13. Cường độ chịu nén trung bình của BTĐL với tỷ lệ N/CKD và TB 

66 


Bảng 2.20. Thống kê kết quả thí nghiệm cường độ nén 

74 

Bảng 3.1. Kết quả đo tính công tác VC, s 

80 

Bảng 3.2 Kết quả thí nghiệm độ kháng xuyên của vữa BTĐL 

83 

Bảng 3.3. Thành phần vật liệu và kết quả cường độ chịu nén của BTĐL 

84 

Bảng 3.4. Mối quan hệ giữa cường độ nén (Rn) với thời gian t tính theo Ln(t) 

86 

Bảng 3.5. Kết quả cường độ chịu uốn tương ứng với cường độ nén 

86 

Bảng 3.6. Kết quả cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo uốn 

88 

Bảng 3.7. Kết quả mô đun đàn hồi tương ứng với cường độ nén 


Bảng 4.3. Ứng suất chịu tải trọng và nhiệt của các mô hình kết cấu 

120 

Bảng A.1. Lượng sót trên mỗi mắt sàng, % 

xiv 

Bảng B.1. Xác định thể tích đặc của cốt liệu lớn Vđ 

xvii 

Bảng B.2. Hệ số hồi quy và loại cốt liệu 

xix 

Bảng B.3. Lượng nước sơ bộ 

xix 

Hình B.3. Biểu đồ quan hệ giữa độ ẩm và tỷ trọng khô 

xxiii 

Hình B.4. Biểu đồ quan hệ giữa cường độ nén và chất kết dính 
 

xxiv 

 

12 

Hình 1.7. Hình ảnh thi công mặt đường BTĐL [74] 

14 

Hình 1.8. Biểu đồ về quá trình phát triển cường độ của BTT và BTĐL [74] 

14 

Hình 1.9. Số lượng đập BTĐL (cao trên 15m) được xây dựng tại một số quốc gia trên thế 
giới tính tới 1998 [69]. 
15 
Hình 1.10. Sơ đồ lịch sử phát triển công nghệ bê tông đầm lăn làm mặt đường, mặt bãi 
theo [74] 
18 
Hình 1.11. Xây dựng đập BTĐL thủy điện Trung Sơn (Thanh Hóa) 

23 

Hình 1.12. Thi công thử nghiệm mặt đường BTĐL - IBST thực hiện 2001[13] 

24 

Hình 1.13. Quá trình thay đổi ứng suất do co ngót và phát triển cường độ chịu kéo của bê 
tông theo thời gian 
32 
Hình 2.1. Các cỡ hạt cốt liệu tại các cỡ sàng khác nhau 

41 


61 

Hình 2.10. Quan hệ giữa VC, N/CKD và C/CL với N = 120l 

62 


 


xi 
 
Hình 2.11. Sự phát triển cường độ của bê tông 

64 

Hình 2.11. Các mẫu được đúc, bảo dưỡng và nén để xác định cường độ 

66 

Hình 2.12. Quan hệ giữa Rn28 với tỷ lệ N/CKD 

67 

Hình 2.13. Quan hệ giữa Rn28 của BTĐL với tỷ lệ CKD/N 

69 

Hình 2.14. Quan hệ giữa Rku28 với tỷ lệ N/CKD 


Hình 3.5. Quan hệ giữa cường độ nén và cường độ kéo uốn 

88 

Hình 3.6. Sự phát triển cường độ kéo uốn theo thời gian [68] 

89 

Hình 3.7. Quan hệ giữa tải trọng trùng phục và sự suy giảm cường độ kéo uốn [9] 

90 

Hình 3.8. Hình ảnh thí nghiệm xác định mô đun đàn hồi 

91 

Hình 3.9. Quan hệ giữa mô đun đàn hồi và cường độ chịu nén 

92 

Hình 3.10. Mối quan hệ giữa cường độ chịu nén và mô đun đàn hồi 

94 

Hình 3.11. Thiết bị thí nghiệm mài mòn 

95 

Hình 3.13. Mẫu thử mài mòn theo TCVN 3114-93 

 
Hình 3.19. Ảnh hưởng của nước và xi măng đến độ co ngót [60] 

101 

Hình 3.20. Đúc mẫu bằng bàn rung, mẫu và tủ bảo dưỡng đo co ngót 

102 

Hình 3.21. Chi tiết thiết bị đo 

102 

Hình 3.22. Thí nghiệm đo độ co ngót 

103 

Hình 3.23. Co ngót tổng cộng của 

104 

BTT và BTĐL 

104 

Hình 3.24. Quan hệ độ co ngót BTĐL - thời gian 

104 

Hình 3.25. Co ngót nội sinh của 


Hình 3.31. Mối quan hệ giữa CTE và mức độ đứt gãy [83] 

110 

Hình 3.32. Mối quan hệ giữa CTE và độ bằng phẳng IRI [83] 

110 

Hình 4.1. Mặt bằng bố trí tấm BTĐL 

118 

Hình 4.2. Mô hình kết cấu 1 (KC1) 

119 

Hình 4.3. Mô hình kết cấu 2 (KC2) 

119 

Hình 4.4. Mô hình kết cấu 3 (KC3) 

119 

Hình 4.5. Biểu đồ ứng suất tính toán của các kết cấu 

120 

Hình 4.6. Lớp móng BTĐL (KC4) 

 

Trong quá trình phát triển với sự xuất hiện của nhiều vật liệu mới và công nghệ thi 

công liên tục được cải tiến đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều loại mặt đường, trong đó phải 
kể đến công nghệ bê tông đầm lăn. Bê tông đầm lăn (BTĐL) là bê tông không có độ sụt 
được đầm chặt bằng lu  rung với thành phần tương tự như bê tông xi măng. Công nghệ 
này bắt đầu được áp dụng từ những năm 60 ở một số nước như Canada, Italia, Đài loan 
và sau đó đã được lần lượt áp dụng ở nhiều nước khác nhờ các đặc tính ưu việt như tốc 
độ thi công nhanh, giá thành thấp so với bê tông thông thường (BTT), đặc biệt là cho một 
số đập thủy lợi, thủy điện lớn. Đối với công nghệ mới này, sự lựa chọn loại vật liệu sử 
dụng, sau đó là chất lượng và lượng dùng của chúng là nhân tố chính ảnh hưởng đến chất 
lượng và giá thành của sản phẩm. Giống như với BTT, các thành phần vật liệu của BTĐL 
gồm: chất kết dính, cốt liệu, nước và phụ gia hóa học. Tuy nhiên điểm khác giữa hai loại 
bê  tông  này  là  chất  kết  dính  sử  dụng  cho  BTĐL  ngoài  xi  măng  còn  có  thêm  phụ  gia 
khoáng được xem như là thành phần bắt buộc. Phụ gia khoáng có vai trò quan trọng trong 
việc cải thiện các tính chất của bê tông và thỏa mãn các yêu cầu cần thiết trong qui trình 
thi công.  
 

Ở  Việt  Nam  những  năm  gần  đây,  hàng  loạt  các  công  trình  thủy  điện  được  xây 

dựng mà ở đó vai trò của BTĐL đã thực sự được khẳng định. Tuy nhiên, việc ứng dụng 
BTĐL trong xây dựng hạ tầng giao thông chưa có nhiều. Trong khi đó hàng loạt các công 
trình đường giao thông qua các vùng thường xuyên chịu lũ lụt, các bãi đỗ xe, sân cảng và 
sân bãi các công trình công nghiệp lớn, đang và sẽ được xây dựng trong tương lai gần. 
 
 




BTĐL và là cơ sở ứng dụng vật liệu trong công tác thiết kế kết cấu áo đường cứng.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 

Đối tượng của luận án là nghiên cứu  BTĐL  để ứng dụng trong xây dựng đường 

giao thông ở Việt Nam.  
 

Phạm vi nghiên cứu là lựa chọn vật liệu, thiết kế thành phần, xác định một số tính 

chất cơ bản của BTĐL trong phòng thí nghiệm. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương án 
kết cấu phù hợp với các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế và điều kiện môi trường ở Việt Nam. 

 
 



 
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ ỨNG DỤNG TRONG
XÂY DỰNG ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
 

Mục đích của chương này nhằm đánh giá tình hình nghiên cứu, ứng dụng vật liệu 

bê tông đầm lăn trong nước và trên thế giới, từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu của luận 
án cho ứng dụng trong xây dựng đường ở Việt Nam. 
1.1. Khái niệm về bê tông đầm lăn

 



 
tỷ lệ rắn so với lỏng ngày một tăng, hỗn hợp mất dần tính dẻo, các sản phẩm ở thể keo 
liên kết với nhau thành thể ngưng keo. 
 

- Giai đoạn kết tinh: nước ở thể ngưng keo vẫn tiếp tục mất đi, các sản phẩm mới 

ngày càng nhiều, chúng kết tinh lại thành tinh thể rồi chuyển sang thể liên tinh làm cho cả 
hệ thống hóa cứng. Đến cuối giai đoạn đông kết cấu trúc của hồ xi măng được hình thành 
làm cho nó biến đổi thành đá xi măng và khả năng chịu lực tăng lên. Sự hình thành cấu 
trúc của đá xi măng trải qua các quá trình vật lý và hóa học phức tạp, là sự biến đổi tổng 
hợp mà ở đó các quá trình xảy ra đồng thời, xen kẽ và tác dụng tương hỗ nhau. 
Mặc dù, trong BTĐL lượng nước và lượng xi măng ít hơn nhiều so với BTT, song 
các  quá  trình  thủy  hỏa  của  xi  măng  vẫn  diễn  ra  phức  tạp  như  bản  chất  vốn  có  của  nó, 
đồng thời là cơ sở căn bản cho sự hình thành cường độ bê tông sau này. Tuy nhiên, do 
lượng hồ xi măng không đủ lấp đầy khoảng rỗng giữa các hạt cốt liệu và bôi trơn bề mặt 
các hạt cốt liệu, nên hỗn hợp bê tông bị rời rạc và kém dẻo. Sự bổ sung của thành phần 
phụ  gia  khoáng  (PGK)  cùng  với  xi  măng  tạo  thành  chất  kết  dính  cho  cốt  liệu  lớn  (bộ 
khung chịu lực chính của kết cấu).  Phụ gia khoáng sẽ góp phần tăng thể tích hồ, bổ sung 
lượng hạt mịn còn thiếu để lấp đầy lỗ rỗng tại các khe giữa các hạt cốt liệu tăng tính dẻo 
cho hỗn hợp, tăng độ đặc chắc cho bê tông, do đó làm tăng khả năng chịu lực và chống 
thấm của bê tông. Ngoài ra, nó còn làm giảm lượng nhiệt tỏa ra từ các sản phẩm của quá 
trình thủy hóa xi  măng, giảm độ co ngót cho bê tông, đây là nguyên nhân chính gây ra 
rạn nứt phá hoại kết cấu bê tông sau này. 
Bên cạnh đó, lực chấn động cũng là yếu tố quan trọng khác góp phần hình thành 
nên cường độ cho BTĐL. Trong giai đoạn đầu, nhờ máy trộn cưỡng bức, các thành phần 


Trong xây dựng đường

Lượng chất kết dính (kg/m3) 

60  250 

 

Tỷ lệ N/CKD 

0,4  0,8 

0,3  0,4 

75 

20 

15 

45 

10  25 

30  60 

Đường kính của cốt liệu lớn (mm) 
Cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi 
(MPa) 


-

Trong hỗn hợp tối ưu, sự cản trở của các hạt vật liệu là tối thiểu do đó đáp ứng 
tốt với đầm rung có biên độ và tần số cao. 

 

Hỗn hợp tối ưu không được sử dụng cho mọi công trình xây dựng do có sự thay 

đổi những yêu cầu trong quá trình thi công và hoàn thiện. Do vậy, mà cấp phối trộn các 
cốt  liệu  được  tính  toán  theo  các  tiêu  chuẩn  tối  ưu  mới  chỉ  là  những  định  tính  ban  đầu, 
việc tiến hành thực nghiệm là rất quan trọng nhằm đánh giá cụ thể hơn nữa về cốt liệu sử 
dụng có phù hợp hay không. 
1.1.2.2. Phương pháp thiết kế cấp phối
Lựa chọn PPTK thành phần hỗn hợp BTĐL hợp lý là một bước rất quan trọng đảm 
bảo  chất  lượng  của  bê  tông,  đồng  thời  đảm  bảo  tính  kinh  tế  và  tính  bền  lâu  cho  công 
trình. Để BTĐL đạt được độ chặt như yêu cầu thì hỗn hợp phải đủ khô để chịu được tác 
động của thiết bị đầm lăn và phải đủ ướt để cho phép chất kết dính đủ để phân bố, bao 
bọc và lấp đầy chỗ trống giữa các cốt liệu trong quá trình trộn và đầm nén.  
Hiện nay có rất nhiều PPTK thành phần bê tông đã được đề xuất và ứng dụng trên 
toàn thế giới cho hỗn hợp BTĐL. Do vậy, rất khó để xác định phương pháp nào để làm 
chuẩn, tuy nhiên có hai quan điểm thiết kế hỗn hợp BTĐL chính như sau: 
-  Quan  điểm  bê  tông:  dựa  vào  tỷ  lệ  N/CKD  được  giữ  không  đổi  và  hỗn  hợp  trộn 
được xác định bằng khối lượng tuyệt đối. 
- Quan điểm cơ  học  đất: dựa vào  mối quan  hệ giữa chất  kết dính,  cốt liệu và hỗn 
hợp được trộn xác định bởi độ ẩm tối ưu và tỷ trọng khô lớn nhất. 
Dù thiết kế theo bất kỳ phương pháp nào thì mục đích chính của việc thiết kế BTĐL đều 
phải đảm bảo các yếu tố như: 


Các  thông  số  còn  lại  tính  toán  từ  phương  trình  thể  tích  tuyệt  đối  (TTTĐ)  (trình  tự  các 
bước thiết kế xem phụ lục B). 
Nhận xét:
 

- Phụ gia khoáng thay thế một phần xi măng theo thể tích tuyệt đối; 

 

- Trong biểu đồ lựa chọn các tỷ lệ, cường độ nén của BT chỉ giới hạn bởi một số 

cường độ cụ thể như: 13,79MPa ở 90 ngày tuổi; 20,68MPa; 27,58MPa; 34,47 MPa ở 28 
ngày tuổi. Do vậy, khi thiết kế thành phần bê tông mác cao hơn trong xây dựng đường thì 
việc sử dụng phương pháp này bị hạn chế. 
 
 
 



 
Phương pháp RCCD (Roller -Compacted Concrete Dams) - Trung Quốc  
 

 

Thiết  kế  thành  phần  tương  tự  như  BTT,  dùng  nguyên  lý  bao  bọc  lấp  kín  và  tính 

toán các thành phần bằng phương trình TTTĐ (trình tự các bước thiết kế xem phụ lục B).  
Việc tính hàm lượng CKD dựa trên công thức: 


- Rckd là cường độ chất kết dính được xác định theo TCVN 6016:2011. 
Thiết kế thành phần hỗn hợp BTĐL theo quan điểm cơ học đất

 

- Phương pháp được thiết lập dựa trên mối quan hệ giữa tỷ trọng ướt và tỷ trọng 

khô  với  độ  ẩm  của  hỗn  hợp  bằng  việc  đầm  chặt  mẫu  với  những  độ  ẩm  khác  nhau.  Nó 
cũng khá giống phương pháp dùng để xác định mối quan hệ giữa độ ẩm và tỷ trọng của 
đất. 
 

- Nguyên lý lèn được phát triển bởi Proctor rất sớm từ năm 1930 – 1940, Proctor 

đã chỉ ra rằng với một năng lượng lèn xác định, tồn tại một giá trị độ ẩm tối ưu để cho 
hỗn hợp được lèn chặt tối đa (KLTT lớn nhất). Khi tăng năng lượng lèn, hệ số lèn chặt 
tăng lên trong khi độ ẩm tối ưu tương ứng giảm đi. 
 
 



 
 

-  Dựa  trên  nguyên  lý  này,  khối  lượng  thể  tích  khô  của  hỗn  hợp  BTĐL  được  sử 

dụng như một chỉ số để thiết kế thành phần BTĐL theo quan điểm cơ học đất. KLTT khô 
độc lập với hàm lượng nước và được tính toán từ KLTT ướt theo công thức: 


- Tuy nhiên BTĐL là một loại bê tông đặc biệt với độ sụt bằng không, nó vẫn đảm 

bảo tính năng là bê tông, với sự ảnh hưởng lẫn nhau của các thành phần trong hỗn hợp, 
không tách rời hay độc lập như thành phần của đất. 
Kết luận: 
 

-  Qua  những  khảo  sát  về  mặt  lý  thuyết  ban  đầu,  hai  quan  điểm  thiết  kế  trên  đây 

đều có đặc điểm chung là TKBT không có độ sụt và đều đi tìm lượng nước tối ưu cho cấp 
phối; 
 

- Phương pháp thiết kế bê tông thể hiện được tính chất lấp đầy lỗ rỗng bởi hồ xi 

măng giữa các hạt cốt liệu. Mặc dù vậy, phương pháp này chưa nêu bật được sự liên quan 
giữa  đặc  điểm  đầm  nén  trong  thiết  kế,  mà  đây  lại  là  một  điểm  khác  biệt  cơ  bản  giữa 
BTĐL với các BTT khác; 
 
 


10 
 
 

- Thí nghiệm đầm nén dùng Proctor cải tiến là biện pháp có hiệu quả cho việc lựa 

chọn  hàm  lượng  nước  để  vừa  đảm  bảo  tính  công  tác  cũng  như  các  tính  chất  khác  cho 

 


11 
 
 

- Thiết bị lèn: lu rung bánh thép có tải trọng động (5 7)kg/mm chiều rộng bánh. 

Biên độ dao động (0,5  0,8)mm. Tần số rung 40Hz  60Hz (2400  3600)vòng/phút. Sơ 
đồ thi công như trong hình 1.1. 

 
Hình 1.1. Sơ đồ thi công mặt đường bằng công nghệ BTĐL
 

- Thiết bị lu hoàn thiện mặt: lu bánh lốp có hệ thống phun nước, tải trọng (1,2  

1,5) T/bánh. 
 

- Các thiết bị khác: thiết bị phun nước bảo dưỡng áp lực P > 40 at, máy cắt khe co, 

khe giãn có khả năng cắt sâu trên 10cm. 
Hỗn hợp BTĐL sau khi trộn đạt được tính công tác cần thiết với độ cứng thử trên 
thiết bị Vebe cải tiến từ (20  40)s được chuyển đến hiện trường bằng xe tự đổ. Sau đó 
HHBT được rải bằng máy rải với chiều rộng và chiều dày theo thiết kế. Sau khi rải, thay 
vì  được  đầm  chặt  bằng  thiết  bị  đầm  dùi  như  BTT,  BTĐL  được  làm  chặt  từ  mặt  ngoài 
bằng  xe  lu  với  tải  trọng  lèn  và  thời  gian  lèn  thích  hợp.  Sau  khi  kết  thúc  quá  trình  làm 
chặt, bề mặt bê tông được hoàn thiện lại bằng xe lu lốp. Sau 1 ngày tiến hành cắt khe co 

1. Cấp phối vật liệu: 
 

- BTT: cốt liệu lớn và nhỏ thường chiếm từ 60%  75% thể tích hỗn hợp (TTHH);  

tỷ lệ N/XM dao động trong khoảng 0,4  0,45, làm vữa xi măng đủ ướt để tạo nên một 
lớp bao bọc lấy các cốt liệu và nhét đầy các lỗ rỗng giữa chúng. 
 

- BTĐL: cấp phối cốt liệu được yêu cầu chặt chẽ hơn và thường chiếm từ 75%  

85% TTHH; hỗn hợp thường trộn khô hơn so với BTT do lượng dùng nước thấp hơn. 
 

So sánh hàm lượng các vật liệu trong BTĐL và BTT như trong hình 1.6. 

 
Hình 1.6. Biểu đồ vật liệu sử dụng trong BTĐL và BTT [74]
 
 


13 
 
2. Độ công tác 
 

- BTT: là hỗn hợp bê tông (HHBT) có độ lưu động, tính công tác được xác định 

bằng độ sụt (tính bằng cm). Hỗn hợp lưu động được nhào trộn tốt là một hỗn hợp dẻo có 

như thể lỏng. Nhờ đó, trong quá trình gia công chấn động, các phần tử HH được sắp xếp 
lại chặt chẽ hơn và trên thực tế hỗn hợp được đầm chặt (hình 1.7). 
 

 
 



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status