BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
________
TRẦN QUANG SƠN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ TRẦN ÁNH
Hà Nội-Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Trần Ánh.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Hà nội, ngày 26 tháng 3 năm 2013
Tác giả
Trần Quang Sơn
2
3.2. Những thách thức (sức ép) và những yêu cầu (nhu cầu) mới đối với đội ngũ cán
bộ quản lý của Ngân hàng Chính sách xã hội ...........................................................94
3
3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Ngân hàng Chính
sách xã hội.................................................................................................................99
3.3.1. Đổi mới cơ chế chính sách sử dụng (quy hoạch thăng tiến, đề bạt, miễn
nhiệm, đánh giá thành tích đóng góp, đãi ngộ) cán bộ quản lý của Ngân hàng Chính
sách xã hội.................................................................................................................99
3.3.2. Đổi mới chính sách hỗ trợ và tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cho từng loại
cán bộ quản lý của Ngân hàng Chính sách xã hội ..................................................103
3.3.3. Đổi mới tiêu chuẩn và quy trình bổ nhiệm các chức vụ quản lý của Ngân hàng
Chính sách xã hội ....................................................................................................105
3.4. Kết luận Chương 3 ...........................................................................................110
KẾT LUẬN .............................................................................................................111
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................113
PHỤ LỤC................................................................................................................115
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt
Viết tắt
Nguyên văn
6
UNDP
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
7
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
5
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Stt
Tên
Trang
I
Danh mục các bảng
1
Bảng 1.1. So sánh giữa kiểm soát chất lượng (QC), đảm bảo chất
Lượng (QA), cải tiến chất lượng(QI)
38
6
Bảng 1.6. Tỷ lệ (%) yếu kém trong công tác (tỷ lệ chấp nhận được)
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp Việt Nam
41
7
Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ cán bộ của NHCSXH đến 31/12/2011
60
8
Bảng 2.2. Tình hình tiếp nhận, tuyển dụng lao động NHCSXH đến
31/12/2011
64
9
Bảng 2.3. Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý của NHCSXH đến
31/12/2011
72
Bảng 2.8. Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội
78
15
Bảng 2.9. Tình hình đào tạo cán bộ quản lý của Ngân hàng chính
sách xã hội từ năm 2009-2011
86
16
Bảng 3.1. Tiêu chuẩn cán bộ quản lý của NHCSXH
6
107
II
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
1
Hình 1.1. Chu trình hình thành chất lượng sản phẩm.
12
7
Hình 1.7. Quá trình tác động của chất lượng lãnh đạo, quản lý đến
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
29
8
Hình 1.8. Quan hệ giữa trình độ quản lý doanh nghiệp với hiệu quả
kinh doanh
30
9
Hình 1.9. Các cơ sở, căn cứ xây dựng tiêu chuẩn cán bộ quản lý
doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam 2005-2020
33
10
Hình 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy hoạt động của NHCSXH Việt
Nam
55
11
nghiệp đó.
Trên thực tế Việt Nam từ trước đến nay vấn đề chất lượng của đội ngũ cán
bộ quản lý là vấn đề còn nhiều yếu kém, bất cập nhất.
Trong tương lai khi nước ta hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới
doanh nghiệp Việt Nam nói chung, hệ thống ngân hàng nói riêng phải có những đột
phá trong giải quyết tất cả các vấn đề, trong đó vấn đề có vai trò quyết định là vấn
đề chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý.
Vì những lý do trên, là một cán bộ của NHCSXH trực tiếp liên quan đến
công tác cán bộ, là học viên cao học chuyên ngành quản trị kinh doanh tôi đã chủ
động đề xuất và được Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau đại học, Trường
Đại học Bách khoa Hà Nội đồng ý cho làm Luận văn Thạc sĩ theo đề tài: “Một số
giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Ngân hàng Chính
sách xã hội Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận giải và hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng của đội ngũ cán bộ
quản lý doanh nghiệp trong kinh tế thị trường.
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của NHCSXH trong
thời gian qua cùng những nguyên nhân.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
của NHCSXH trong thời gian tới.
8
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trong khôn khổ Luận văn, tác giả tập trung vào nghiên cứu đặc điểm chất
lượng của đội ngũ cán bộ quản lý trong toàn hệ thống NHCSXH thời điểm đến
31/12/2011, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và nguyên nhân, từ đó trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tại NHCSXH.
4. Phương pháp nghiên cứu
hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu”. Yêu cầu có nghĩa là những nhu cầu hay
mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn.
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự
vật (sự việc) khác”.
Theo chuyên gia K. Ishikawa: “Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu
của thị trường với chi phí thấp nhất”.
Theo quan niệm của nhà sản xuất: “Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp
của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được
xác định trước”.
Theo quan niệm của người bán hàng: “Chất lượng là hàng bán hết, có khách
hàng thường xuyên”.
Theo quan niệm của người tiêu dùng: “Chất lượng là sự phù hợp với mong
muốn của họ”. Chất lượng sản phẩm/dịch vụ phải thể hiện các khía cạnh sau:
- Thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó.
- Thể hiện cùng với chi phí.
- Gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể.
Trong quản lý chất lượng hiện đại việc tiến hành định nghĩa chất lượng tất
yếu phải xuất phát từ góc độ người tiêu dùng. Về phương diện này nhà quản lý chất
10
lượng nổi tiếng David Garvin đã định nghĩa chất lượng như sau: “Chất lượng là tính
thích hợp sử dụng”. Chuyên gia quản lý chất lượng người Mỹ, giáo sư David
Garvin đã cụ thể hoá khái niệm tính thích hợp sử dụng thành 8 yếu tố sau:
- Tính năng: chức năng chủ yếu của sản phẩm đạt được mức độ và đẳng cấp
kỹ thuật.
- Tính năng kèm theo: để khách hàng thấy thuận tiện và thoải mái với chức
năng sản phẩm được tăng cường.
- Sự đáng tin cậy: tính chuẩn xác và xác suất của chức năng quy định hoàn
chuyển đổi được về mặt pháp lý và hiện thực.
- Sản phẩm phải đắt giá, nghĩa là nó có giá trị cao hơn hẳn so với các sản
phẩm tương tự cùng loại.
1.1.1.2. Sự hình thành chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm bất kỳ nào đó cũng được hình thành
qua nhiều quá trình và theo một trật tự nhất định. Rất nhiều chu trình hình thành nên
chất lượng sản phẩm được nêu ra song đều thống nhất là quá trình hình thành chất
lượng sản phẩm xuất phát từ thị trường trở về với thị trường trong một chu trình
khép kín.
1
12
2
Trước
sản xuất
11
3
4
10
Tiêu
dùng
Sản
đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh khiến các doanh nghiệp nhận thức
được vai trò của chất lượng trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Chất
lượng đã trở thành ngôn ngữ phổ biến chung trên toàn cầu. Những đặc điểm của
giai đoạn ngày nay đã đặt các doanh nghiệp phải quan tâm tới vấn đề chất lượng là:
+ Xu hướng toàn cầu hoá với sự tham gia hội nhập của doanh nghiệp vào
nền kinh tế thế giới của mọi quốc gia. Đẩy mạnh tự do thương mại quốc tế.
+ Sự thay đổi nhanh chóng của những tiến bộ xã hội với vai trò của khách
hàng ngày càng cao.
+ Cạnh tranh tăng lên gay gắt cùng với sự bão hoà của thị trường.
+ Vai trò của các lợi thế về năng suất, chất lượng đang trở thành hàng đầu.
- Tình hình thị trường: đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm, tạo
lực hút định hướng cho sự phát triển chất lượng sản phẩm. Sản phẩm chỉ có thể tồn
tại khi nó đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất
lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu
cầu trên thị trường. Nhu cầu càng phong phú đa dạng, thay đổi càng nhanh thì chất
lượng càng phải nâng lên, hoàn thiện để thích ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng cao
của khách hàng. Yêu cầu về mức chất lượng đạt được của sản phẩm phải phản ánh
được đặc điểm, tính chất của nhu cầu. Đến lượt mình, nhu cầu lại phụ thuộc vào
tình trạng kinh tế, khả năng thanh toán, trình độ nhận thức, thói quen, phong tục,
truyền thống, văn hoá, lối sống, mục đích sử dụng sản phẩm của khách hàng. Xác
định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm, xu hướng vận động của nhu cầu là căn cứ
đầu tiên và quan trọng nhất để tăng chất lượng của sản phẩm.
- Trình độ tiến bộ khoa học-công nghệ: Trình độ chất lượng của sản phẩm
không thể vượt quá giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học công nghệ của
một giai đọan lịch sử nhất định. Tiến bộ khoa học-công nghệ tạo ra khả năng không
ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Tiến bộ khoa học công nghệ là không giới
2
GS. Nguyễn Đình Phan, Giáo trình Quản lý chất lượng trong tổ chức, Trường Đại học Kinh tế quốc dân,
trang [27].
những đặc tính thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng nhưng không phải tất cả mọi nhu
cầu của cá nhân đều được thoả mãn. Những đặc tính chất lượng của sản phẩm chỉ
14
thoả mãn toàn bộ nhu cầu cá nhân nếu nó không ảnh hưởng tới lợi ích của xã hội.
Bởi vậy, chất lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường văn
hoá-xã hội của mỗi nước.
* Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp (vi mô).
Bốn yếu tố trong tổ chức được biểu thị bằng quy tắc 4M là:
+ Men-Con người, lực lượng lao động (yếu tố quan trọng nhất): Con người là
nhân tố trực tiếp tạo ra và quyết định đến chất lượng sản phẩm. Cùng với công nghệ
con người giúp doanh nghiệp đạt chất lượng cao trên cơ sở giảm chi phí. Chất lượng
phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiêm, ý thức trách nhiệm, tinh
thần hiệp tác phối hợp giữa các thành viêm và mọi bộ phận trong doanh nghiệp.
Hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được những nhu cầu về thực hiện
mục tiêu chất lượng là một trong những nội dung cơ bản của quản lý chất lượng
trong giai đoạn hiện nay
+ Methods or Measure-Phương pháp quản lý, đo lường: Quản lý chất lượng
dựa trên quan điểm lý thuyết hệ thống: một doanh nghiệp là một hệ thống trong đó
có sự phối hợp đồng bộ thống nhất giữa các bộ phận chức năng. Mục tiêu chất
lượng đặt ra được dựa trên cơ sở giảm chi phí phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức
quản lý của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng của hoạt động quản lý phản ánh chất
lượng của doanh nghiệp. Sự phối hợp khai thác hợp lý giữa các nguồn lực hiện có
để tạo ra sản phẩm lại phụ thuộc vào nhận thức, sự hiểu biết về chất lượng và plý
chất lượng, trình độ xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình, chính
sách, mục tiêu chất lượng của cán bộ quản lý của doanh nghiệp. Theo W. Edwards
Deming thì có tới 85% những vấn đề về chất lượng do hoạt động quản lý gây ra. Vì
vậy, hoàn thiện quản lý là cơ hội tốt cho nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mãn
đồng bộ giữa bên cung ứng và doanh nghiệp sản xuất. Trong môi trường kinh doanh
hiện nay, tạo ra mối quan hệ tin tưởng, ổn định với một số nhà cung ứng là biện
pháp quan trọng đảm bảo chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
1.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm.
- Trình độ chất lượng-Tc: là tỷ số giữa lượng nhu cầu có khả năng được thoả mãn
và chi phí để thoả mãn nhu cầu (chỉ tiêu này dùng để đánh giá trong khâu thiết kế).
TC =
Trong đó:
Lnc
Gnc
Lnc: Nhu cầu có khả năng được thoả mãn.
Gnc: Chi phí để thoả mãn nhu cầu: Gnc = Gsx + Gsd
16
Gsx: Chi phí để sản xuất sản phẩm (hay giá mua của sản phẩm).
Gsd : Chi phí sử dụng sản phẩm.
- Chất lượng toàn phần-QT: là tỷ số giữa hiệu ích khi sử dụng sản phẩm và
chi phí để sử dụng sản phẩm đó (dùng để đánh giá trong khâu sử dụng).
QT =
Trong đó:
Hs
Gnc
x 100%
1.1.2. Khái quát chung về quản lý chất lượng.
1.1.2.1. Khái niệm về quản lý (quản trị) chất lượng (QCS-Quality Cost
Schedule).
Chất lượng không phải tự nhiên sinh ra, chất lượng không phải là một kết
quả ngẫu nhiên mà nó là kết quả của sự tác động hàng loạt các yếu tố có liên quan
chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một
cách đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được
17
gọi là quản lý (quản trị) chất lượng, do vậy phải có hiểu biết và kinh nghiệm đúng
đắn về quản lý chất lượng mới giải quyết tốt bài toán chất lượng.
Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục,
thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp phức tạp của vấn đề chất lượng và
phản ánh sự thích ứng với điều kiện môi truờng kinh doanh mới. Tuy nhiên, tuỳ
thuộc vào quan điểm nhìn nhận khác nhau của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu,
tuỳ thuộc vào đặc trưng của nền kinh tế mà người ta đưa ra nhiều khái niệm về quản
lý chất lượng. Sau đây là một số khái niệm cơ bản đặc trưng cho các giai đoạn phát
triển khác nhau cũng như nền kinh tế khác nhau:
- Theo tiêu chuẩn quốc gia Liên Xô (cũ) (Quản trị chất lượng đồng bộ, JonhS
Oakland): “Quản lý chất lượng là việc xây dựng, đảm bảo và duy trì mức tất yếu
của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng”.
- Theo tiêu chuẩn công nghiệp của Nhật Bản (JIS-Japan Industrial
Standards): “Quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp tạo điều kiện sản xuất
những hàng hoá có chất lượng hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoả mãn
nhu cầu người tiêu dùng”.
Sản xuất thử
Doanh
nghiệp
Thử nghiệm, kiểm tra
Bán và lắp đặt
Đóng gói, bảo quản
Hình 1.2. Vòng tròn quản lý chất lượng theo ISO 9000.
1.1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của quản lý chất lượng
- Mục tiêu cơ bản của quản lý chất lượng là 3P: (Performance, Price,
Punctuality) hoặc 3R (Right quality, Right Price, Right time).
- Ý tưởng chiến lược của quản lý chất lượng là không sai lỗi (ZD-Zezo
Defect).
- Chiến thuật để thực hiện là PPM (Planning, Preventing, Monitoring) với
phương châm “Làm đúng ngay từ đầu”(Do right the first time), “Không có tồn
kho”(Non stock product) hoặc “Kịp thời đúng nhu câu”(JIT-Just in time).
- Quản lý chất lượng luôn quan tâm đến con người.
- Chất lượng là trên hết, không phải lợi nhuận là trên hết.
- Quản trị ngược dòng theo Ohno-Toyota: do quản lý chất lượng chú trọng
đến sự kiện và quá trình nhiều hơn là đến kết quả, nên đã đi ngược trở lại công đoạn
đã qua để tìm ra nguyên nhân của vấn đề (bằng cách đặt câu hỏi).
- Tiến trình tiếp theo đó là khách hàng: khách hàng không chỉ là người mua
sản phẩm mà còn là kỹ sư, công nhân làm việc trong các giai đoạn kế tiếp theo công
việc của phân xưởng.
- Quản lý chất lượng hướng tới khách hàng chứ không phải hướng về người
sản xuất: chuyển từ việc nhấn mạnh việc giữ chất lượng trong suốt quá trình sang
+ So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện sai lệch.
+ Điều chỉnh để đảm bảo đúng yêu cầu.
20
- Hệ thống quản lý chất lượng (QMS-Quality Management System): gồm cơ
cấu tổ chức, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện công tác quản lý
chất lượng. Xây dựng quản lý chất lượng là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn tiêu
chuẩn ISO nào áp dụng. Các thủ tục trong quản lý chất lượng phải được văn bản
hoá và lưu trữ thành hệ thống tư liệu.
- Tư liệu của quản lý chất lượng (QMSD-Quality Management System
Documentation): là những bằng chứng khách quan của các hoạt động đã được thực
hiện hay của các kết quả đã đạt được. Gồm:
+ Sổ tay chất lượng : là tài liệu công bố chính sách chất lượng và mô tả hệ
thống chất lượng của tổ chức.
+ Các thủ tục: là cách thức đã định để thực hiện một hoạt động.
+ Hướng dẫn công việc: là hướng dẫn thực hiện một công việc cụ thể.
- Cải tiến chất lượng (QI-Quality Improvement): là các hoạt động được thực
hiện trong toàn tổ chức để làm tăng hiệu năng và hiệu quả của các hoạt động và quá
trình dẫn đến tăng lợi nhuận cho tổ chức và khách hàng. Hoạt động cải tiến chất
lượng này bao gồm:
+ Phát triển sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm.
+ Thực hiện công nghệ mới.
+ Thay đổi quá trình nhằm giảm khuyết tật.
Tóm lại có thể mô tả hệ thống quản lý chất lượng như sau:
QC
QMS (QO,
QP, QD)
được các yêu cầu chất
lượng đã thiết kế.
Tạo lòng tin với khách
hàng nội bộ và bên ngoài
rằng yêu cầu chất lượng
được thoả mãn.
Đầu tư ít nhưng nhằm nỗ
lực vào con người, tập thể
sáng tạo để duy trì và phát
triển .
1.1.2.4. Các phương pháp quản lý chất lượng.
Một số phương pháp sau đây được áp dụng trong quản lý chất lượng:
* Phương pháp kiểm tra chất lượng.
Phương pháp này được hình thành từ lâu và chủ yếu là tập trung vào khâu
cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất). Căn cứ vào các yêu cầu kỹ thuật, các tiêu
chuẩn đã được thiết kế hay các quy ước của hợp đồng mà bộ phận kiểm tra chất
lượng tiến hành kiểm tra nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng và phân loại sản
phẩm theo các mức chất lượng. Do vậy, khi muốn nâng cao chất lượng sản phẩm
người ta cho rằng chỉ cần nâng cao các tiêu chuẩn kỹ thuật bằng cách tăng cường
công tác kiểm tra. Tuy nhiên với cách kiểm tra này không khai thác được tiềm năng
sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị để cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hơn nữa việc kiểm tra gây nhiều tốn kém trong khi đó loại bỏ được phế phẩm ít.
Mặc dù vậy phương pháp này cũng có một số tác dụng nhất định nhằm xác định sự
phù hợp của mỗi đặc tính thực tế (đối tượng) so với quy định.
* Phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện.
Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện do Feigenbaum đưa ra trong lần xuất
bản cuốn sách Total Quality Control (TQC) của Ông năm 1951. Trong lần tái bản lần thứ
sự). Điều này có nghĩa là cần có sự hợp tác của tất cả mọi người trong doanh nghiệp
từ cấp lãnh đạo đến công nhân xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu-triển khai-thiết
kế-chuẩn bị-sản xuất-quản lý-dịch vụ sau khi bán,..
- Kỹ thuật thực hiện: áp dụng vòng tròn cải tiến chất lượng Deming: PDCA.
23
+ P-Plan (Lập kế hoạch): xác định các phương pháp đạt mục tiêu. Trong
công tác quản lý chất lượng thường sử dụng các công cụ như sơ đồ nhân quả, biểu
đồ Pareto để tìm ra các nguyên nhân, phân tích và đề ra các biện pháp thích hợp.
+ D-Do (Thực hiện công việc): chú ý nguyên tắc tự nguyện và tính sáng tạo
của mỗi thành viên. Thực hiện những tác động quản trị thích hợp.
+ C-Check (Kiểm tra kết quả thực hiện công việc): mục tiêu là để phát hiện
sai lệch và điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện. Trong công tác quản lý
chất lượng việc kiểm tra được tiến hành nhờ phương pháp thống kê. Huấn luyện và
đào tạo cán bộ (tin vào lòng người và không cần phải kiểm tra thái quá).
+ A-Act (Điều chỉnh): khắc phục những sai lệch trên cơ sở phòng ngừa (phân
tích, phát hiện, loại bỏ nguyên nhân và có biện pháp chống tái diễn).
Vòng tròn Deming là công cụ quản lý chất lượng giúp cho các doanh nghiệp
không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả. Mỗi chức năng của vòng
tròn Deming PDCA có mục tiêu riêng song chúng có tác động qua lại với nhau và
vận động theo hướng nhận thức là phải quan tâm đến chất lượng là trước hết. Quá
trình thực hiện vòng tròn PDCA người ta đưa ra vòng tròn PDCA cải tiến.
A
A
P
đến quá trình kinh doanh.
Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, sử
dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập
hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao bền lâu nhất có thể. Doanh nghiệp là
đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế. Doanh
nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ.
Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các
nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích mà
doanh nghiệp cần và có thể tranh giành. Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là
đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất, bền lâu nhất có thể. Hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được từ hoạt động
của doanh nghiệp quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có được các lợi
ích đó cũng quy tính thành tiền3. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn
được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tương
đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh. Để tính toán được hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi
phí tương thích. Do lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng
năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình (tiền tăng thêm, kiến thức,
kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn-việc làm, cân bằng
hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trương sinh thái, môi trường
chính trị-xã hội,…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương
đối chính xác ra tiền. Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh
nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu
hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc
tách-quy tính ra tiền cho tương đối chính xác.
3
GS. TS Đỗ Văn Phức, Quản lý doanh nghiệp, Nhà xuất bản Bách Khoa-Hà Nội