VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THUẬN
QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN
TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ MẠNH KHOA
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Bắc Ninh, ngày....tháng...năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuận
MỤC LỤC
CDCCKT
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CCKT
Cơ cấu kinh tế
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đảng CSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
KT – XH
Kinh tế - xã hội
MTTQ
THCS
Trung học cơ sở
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
XHCN, TBCN
Xã hội chủ nghĩa, Tư bản chủ nghĩa
XDCB
Xây dựng cơ bản
UBND
Uỷ ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung cốt lõi trong đường lối phát
triển kinh tế - xã hội đã được Đảng đề ra trong thời kỳ đổi mới nhằm thực
hiện mục tiêu chiến lược là đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp chậm
phát triển trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, từ
năm 1986 đến nay Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách
cụ thể để lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối này. Nhờ đó, đất nước ta
không chỉ vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội mà còn tiến nhanh tiến
đến vùng sản xuất nông nghiệp giáp ranh còn lại, ảnh hưởng đến tình hình
hoạt động nông nghiệp, nông thôn. Công nghiệp đang trong thời kỳ phát triển
nên còn nhiều hạn chế,… Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức thiết phải tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH của huyện nhằm đẩy mạnh
phát triển KT - XH.
Tuy nhiên, do xuất phát từ điều kiện kinh tế kém phát triển, lao động còn
tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nên quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế của huyện diễn ra chậm, các vùng chuyên môn hóa sản xuất chưa phù
hợp với các điều kiện tự nhiên, công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, thương
mại phát triển không đồng đều, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của
huyện.
Vì vậy, việc đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tiên Du là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng
đối với quá trình phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới và góp
phần vào việc tổng kết thực tiễn lãnh đạo kinh tế trong những năm tiếp theo.
Việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tiên Du và rút
ra những bài học kinh nghiệm là điều cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt
không chỉ đối với địa phương mà còn có ý nghĩa với một số địa phương khác
có đặc điểm, vị trí, điều kiện tương tự trong cả nước.
2
Do đó tôi chọn đề tài “Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện
Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ năm 1999 đến năm 2015” làm đề tài luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được
nhiều cơ quan, nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên cao học nghiên
cứu. Tiêu biểu là các công trình sau đây:
cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với quá trình phát triển trong từng giai đoạn
lịch sử nhất định. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội khi các yếu tố của sản xuất còn rất hạn chế, cho nên, ta phải lựa
chọn những khâu, những mối quan hệ cần thiết, then chốt, tập trung lực lượng
để phát triển, tạo nên sự cân đối thích hợp, nhờ vậy mà có thể nắm lấy những
khâu, những mắt xích quan trọng tiếp theo để đưa sự nghiệp đổi mới của đất
nước đi tới thắng lợi.
2.2. Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:
Lê Văn Quang, (2011) “Chiến lược để phát triển đất nước bền vững và
vượt qua thách thức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng” Tạp chí
Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 127; Nguyễn Đình Phan (2005),
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát
triển Số 95/2005; Trương Tuấn Biểu (2011) “Về ba khâu đột phá trong quan
điểm, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và phương
hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015”, Tạp chí Giáo dục lý
luận chính trị quân sự, số 127; Tào Hữu Phùng (2002),“ Một số giải pháp
nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số
127, (9/2002) .
Các bài viết đề cập khá toàn diện các vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, song đều có chung nhận định, để xây dựng được cơ sở vật chất cho chủ
4
nghĩa xã hội, nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân là thúc đẩy nhanh
hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó chuyển dịch cơ cấu
hiện trạng của nền kinh tế sang cơ cấu kinh tế hợp lý; phù hợp với sự bùng nổ
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thích hợp với trình độ biến đổi của
lực lượng sản xuất và chiến lược kinh tế mở của Việt Nam, là yêu cầu cấp
thiết hiện nay. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong giai đoạn hiện nay chính
học quốc gia, Hà Nội; Luận văn thạc sỹ lịch sử của Hồ Văn Tiềm (2010),
“Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
năm 2000 đến năm 2010”,Học viện Chính trị, Hà Nội.
Các công trình khoa học trên đều đánh giá khái quát tình hình kinh tế xã
hội theo phạm vi nghiên cứu. Phân tích thực trạng, những tác động của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến sự phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế
và đời sống xã hội. Trình bày một cách có hệ thống chủ trương của đảng bộ
các địa phương vận dụng đường lối của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong điều kiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số nghiên cứu cá
nhân đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, ổn định chính trị - xã hội,
giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Ngoài ra, một số công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử đảng bộ các
xã, thị trấn ở huyện Tiên Du và một số tài liệu có liên quan đến lãnh đạo phát
triển kinh tế - xã hội ở Tiên Du: Danh nhân danh thắng xứ Bắc;Lịch sử Đảng
bộ huyện Tiên Du; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh... Đây là những tài liệu rất
quan trọng cung cấp những số liệu, nhận định, đánh giá về thực trạng và
phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của huyện từ năm 1999 đến năm 2015 dưới góc độ khoa học lịch sử.
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là:
- Làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tiên Du trong
những năm 1999 đến năm 2015.
Theo Nghị định này thì huyện Tiên Sơn được tách ra tái lập hai huyện Tiên
Du và Từ Sơn.
+ Ngày 9/4/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành Nghị định
số 60/2007/NĐ - CP về việc mở rộng thành phố Bắc Ninh, theo đó hai xã
Khắc Niệm và Hạp Lĩnh thuộc huyện Tiên Du được sáp nhập vào Thành phố
Bắc Ninh. Từ đó đến nay huyện Tiên Du giữ nguyên địa giới hành chính và
trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.
+ Từ ngày 22 đến 24/7/ 2015, Đại hội Đảng bộ huyện Tiên Du lần thứ
XVII (nhiệm kỳ 2015- 2020). Đại hội tổng kết đánh giá những thành tựu và
bài học kinh nghiệm trong thời gian từ 2010 đến 2015 và đề ra phương
hướng, nhiệm vụ , mục tiêu phát triển của huyện Tiên Du từ năm 2015 đến
năm 2020.
- Về không gian: Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh hiện tại.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài luận văn thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các
kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng được thể hiện trong các Hội nghị Ban Chấp
hành trung ương Đảng, các kết luận được tổng kết trong các văn kiện Đảng.
- Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu để nghiên cứu,
trình bày như: phương pháp lịch sử; phương pháp lôgic. Ngoài ra, luận văn
còn sử dụng một số phương pháp khác như tổng hợp, thống kê, so sánh, phân
tích, hệ thống hóa, để đánh giá thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện
Tiên Du…
8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng bộ huyện
Tiên Du về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện từ năm 1999 đến năm 2015.
Hoàn Sơn, Thị trấn Lim. Khắc Niệm, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ.
Hệ thống núi, đồi, gò, sông ngòi, dòng nước và những cánh đồng
cao thấp không bằng phẳng đã tạo sự tương phản rõ nét về mặt địa hình
của huyện.
- Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, nguồn nước
+ Về khí hậu: Tiên Du thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trung bình hàng năm từ 23-240C; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.2001.600mm; độ ẩm tương đối từ 80-84%, mùa đông lạnh và không khác biệt nhiều
so với các huyện trong tỉnh cũng như các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Hồng.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng rau, hoa quả, chăn nuôi, tạo ra
giá trị lớn trên một đơn vị diện tích.
+ Đặc điểm thuỷ văn nguồn nước: Tiên Du có 2 con sông chính chảy qua
đó là sông Đuống và sông Ngũ Huyện Khê. Ngoài ra trên địa bàn huyện cũng
có các hệ thống sông ngòi nội địa khá dày. Với hệ thống sông này nếu biết
10
khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống
tưới, thoát nước của huyện. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục
vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn huyện.
- Tài nguyên
+ Khoáng sản: Tiên Du là huyện nghèo về tài nguyên khoáng sản, chỉ
có vật liệu xây dựng: Đất sét làm gạch, ngói, gốm với trữ liệu khoảng 2 triệu
khối tập trung ở các xã Tri Phương, Tân Chi. Ngoài ra diện tích rừng rất nhỏ
khoảng 200 ha phân bố chủ yếu ở các xã Việt Đoàn, Phật Tích.
+ Tài nguyên nhân văn, du lịch
Huyện Tiên Du có tiềm năng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân
tộc. Miền đất Kinh Bắc xưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi hội tụ của kho
tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu Quan họ trữ tình đằm thắm,
tha thiết. Con người Tiên Du mang trong mình truyền thống văn hóa Kinh Bắc,
- Phía Đông giáp huyện Quế Võ;
- Phía Tây giáp thị xã Từ Sơn.
Huyện Tiên Du có 14 đơn vị hành chính gồm: 01 thị trấn (thị trấn Lim)
và 13 xã (xã Liên Bão, xã Đại Đồng, xã Phật Tích, xã Hiên Vân, xã Lạc Vệ,
xã Nội Duệ, xã Tri Phương, xã Hoàn Sơn, xã Tân Chi, xã Minh Đạo, xã Cảnh
Hưng, xã Việt Đoàn, xã Phú Lâm).
Huyện Tiên Du có các trục đường giao thông lớn, quan trọng chạy qua,
nối liền với các trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại phía Bắc như: Quốc
lộ 1A, 1B nối liền Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; quốc lộ 18 nối sân bay Quốc
tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Hải Dương- Bắc Ninh; tuyến
đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc Tiên Du. Tiên Du là một huyện đồng
bằng, đất đai màu mỡ, hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh thuận lợi cho
việc phát triển thâm canh lúa chất lượng cao. Đây là yếu tố rất thuận lợi để
Tiên Du phát triển toàn diện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giao lưu với
các huyện trong tỉnh, cũng như các tỉnh lân cận.
12
* Dân cư
Dân số huyện Tiên Du năm 2009 là 124.396 người, trong đó thành thị
11.087 người chiếm 8.91%, nông thôn 113.309 người chiếm 91.09%, mật độ
dân số đạt 1251 người/km2 cao gấp 4.5 lần bình quân của cả nước là 274
người/km2, dân tộc chủ yêu là người Kinh. Nguồn nhân lực này, chủ yếu tập
trung ở khu vực nông thôn và nguồn nhân lực trẻ chiếm tỉ trọng cao. Chất lượng
của nguồn nhân lực và trình độ học vấn của nguồn nhân lực huyện Tiên Du cao
hơn so với mức trung bình cả nước và đã vượt mức trung bình của đồng bằng
Sông Hồng và vùng KTTĐ Bắc Bộ. Đây là một lợi thế lớn cho phát triển KTXH của huyện, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Tiên Du đang cần nhiều lao
động cho quá trình CDCCKT. Nhưng mặt khác, cũng tạo sức ép lên hệ thống
giáo dục- đào tạo, giải quyết việc làm và xã hội.
Nhờ có vị trí liền kề với thủ đô Hà Nội qua nhiều thế kỷ, người dân Bắc
Húc.
- Tổng Đông Sơn gồm 07 xã là Đông sơn, Đại Sơn, Đồng Lượng, Lonh
Khám, Dưỡng Mông, Văn Trinh, Đại Tảo.
- Tổng Thụ Triền gồm 06 xã là Thụ Triền, Phật Tích, Cổ Miếu, Cao
Đình, Vĩnh Phú, Trùng Minh.
- Tổng Nội Duệ gồm 10 xã là Nội Duệ, Nội Duệ Đông, Nội Duệ Khánh,
Nội Duệ Nam, Hoài Bão, Lũng Giang, Lũng Sơn, Bái Uyên, Thôn Thượng
Thôn Trung.
- Tổng Khắc Niệm gồm 08 xã là Khắc Niệm Thượng, Khắc Niệm Hạ,
Hiên Ngang, Bồ Sơn, Xuân Ổ, Dương Ổ ,Vân Khám, Lai Đình.
- Tổng Nội Viên gồm 07 xã là Nội Viên, An Động, Hoa Hội, Hộ Vệ,
Hương Vân, Nghi Vệ, Nguyễn Xá .
- Tổng Khắc Niệm, gồm 8 xã là: Khắc Niệm, Thượng, Khắc Niệm Hạ,
Hiên Đường, Vân Khám, Xuân Ồ, Dương Ổ, Hòa Đình, Bồ Sơn. [36, tr. 494]
14
Thời thuộc Pháp: Tháng 10-1895, thực dân Pháp chia Bắc Ninh thành 2
tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, lấy sông Cầu làm địa giới. Trong những năm
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiếp tục thay đổi địa giới để
cuối cùng tỉnh Bắc Ninh còn 10 phủ, huyện là: phủ Từ Sơn, phủ Thuận
Thành, phủ Gia Lâm và các huyện Văn Giang, Gia Bình, Lang Tài, Quế
Dương, Võ Giàng, Tiên Du, Yên Phong.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công thì các bộ máy cai trị
của Chính quyền cũ ở các Tổng bị bãi bỏ và thay vào đó là Chính quyền các
cấp của Nhà nước nhân dân.
Năm 1961, Chính phủ quyết định cắt hai xã là Trung Mầu và Phù Đổng
về huyện Gia Lâm- Hà Nội.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội khoá II ra quyêt định sát nhập hai
huyện Tiên Du đều có người tham gia các phong trào đánh giặc cứu nước
mà nổi bật nhất là trận tiêu diệt đồn binh giặc ở Gia Lâm ngày 4 tháng 12 năm
1873, giải phóng Siêu Loại ngày 21 tháng 2 năm 1873, bắt sống hàng trăm
tên giặc.
Những năm 20 của thế kỷ XX, khắp Bắc - Trung - Nam đã dấy lên cao
trào đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh như phong trào Yên Thế, Đông
Kinh Nghĩa Thục các phong trào này đã bước đầu tạo tiền để cho mở màn các
phong trào đấu tranh theo những xu hướng mới.
Cuối năm 1926, Đồng chí Ngô Gia Tự (quê ở làng Tam Sơn, xã Tam
Sơn) trở về Bắc Ninh hoạt động tuyên truyền cách mạng, thành lập Chi hội
Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên, ở xã Tam Sơn, Từ Sơn. Đây là Chi hội
đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh.
Đầu năm 1927, ở huyện Tiên Du, Chi hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên được thành lập lấy tên là chi hội Phật Tích - Trùng Quang gồm 4 đồng
chí là Nguyễn Thị Minh Lãng - Bí thư và Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Thuỷ,
Nguyễn Văn Tu. Tiếp đến là Chi hội Hoài Bão gồm 7 đồng chí là Nguyễn
Duy Bình - Bí thư và Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Dị, Lê Hữu Đông,
16
Nguyễn Duy Đạt, Nguyễn Quang Đản, Nguyễn Đăng Kỳ. Đây là những cơ sở
cách mạng đầu tiên trên đất Tiên Du, có nhiệm vụ dải truyền đơn, dán áp
phích tuyên truyền, kêu gọi nhân dân đứng lên đoàn kết làm cách mạng vô
sản chống thực dân phong kiến. [24, tr. 37]
Trong các hoạt động kỷ niệm Cách mạng tháng 10 năm 1929 những
người cộng sản và yêu nước ở Tiên Du đã cùng các tâng lớp nhân dân Bắc
Ninh khiến cho ke thù vô cùng hoảng sợ “sáng ngày 7 tháng 11 cảnh sát địa
phương đã thu được khoảng một chục lá cớ búa liềm và khoảng 30 kẻ phản
loạn mang theo các biểu tượng cộng sản....Ngoài ra cờ đỏ búa liềm, truyền
đơn, áp phích, biểu ngữ còn xuất hiện ở các nơi trong huyện Tiên Du, Gia
nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước.
Trong điều kiện hoà bình, Chính quyền huyện Tiên Du đã kịp thời đưa
ra những giải pháp, khắc phục khó khăn, giữ vững chính trị, ổn định bộ máy
chính quyền, đồng thời tiến hành nhiều biện pháp phát triển sản xuất, xoá bỏ
các hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh trong các làng xã, chăm lo phát triển
y tế, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học trong toàn huyện.
Trong thời kỳ từ năm 1965 đến năm 1975, nhân dân Tiên Du một mặt tiến
hành sản xuất, một mặt hết lòng, hết sức chi viện cho chiến trường miền Nam.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Nhân
dân Huyện Tiên Du vô cùng tự hào, phấn khởi đã góp công sức, của cải,
xương máu vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất đất nước.
19
1.2. Tình hình kinh tế huyện Tiên Du từ năm 1986 đến năm 1998
Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X và
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng
sản Việt Nam, nhân dân trong huyện Tiên Du tích cực thi đua, khắc phục mọi
khó khăn, đẩy mạnh phát triển kinh tế trong đó chú trọng lĩnh vực nông
nghiệp.
Tháng 4 năm 1988, thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới
quản lý khoán đến nhóm và người lao động trong Hợp tác xã nông nghiệp.
Với khoán 10, người nông dân huyện Tiên Du đã gắn với đồng ruộng, nhiều
hộ xã viên đã đầu tư mua sắm phương tiện sản xuất, đẩy mạnh sản xuất trên
chân ruộng khoán, năng xuất, sản lượng nông nghiệp tăng.
Cùng với nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tổng
năm tăng 7,05%. Năm 1998 đạt 65.000 tấn (quy thóc); bình quân lương thực
đầu người là 510 kg; đây là năm có sản lượng và bình quân lương thực đầu
người cao nhất từ trước đến nay. Sản lượng lương thực tăng không những
đảm bảo cho sự an toàn về lương thực trên địa bàn huyện, mà còn là nguồn
cung cấp thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển. Đàn trâu bò bình
quân hàng năm tăng 1,8%, đàn lợn 8,6% (năm 1995 đàn lợn 65.750 con, trong
đó có 9600 lợn nái tăng 31,5% so mục tiêu đại hội đề ra ). Sản lượng thịt hơi
xuất chuồng bình quân đạt 2600 tấn riêng năm 1995 đạt 3572 tấn.Đàn lợn
bình quân hàng năm tăng 10,45%, riêng năm 1998 đạt 64.100 con. Sản lượng
thịt hơi xuất chuồng đạt 4.934 tấn. Đàn bò có 5.490 con, bò lai sind tăng gấp 3
lần năm 1995, bò sữa hiện có 200 con. Một số hộ gia đình chăn nuôi đã và
đang trở thành ngành sản xuất chính.
Phát triển kinh tế theo mô hình VAC, trông cây ăn quả như: nhãn , vải
thiều, na giai đang được mở rộng ở các xã vùng đồi và ven sông Đuống,
500ha diện tích ao hồ được giao khoán, nuôi thả cá có hiệu quả đạt 1500 tấn
21