VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Ệ
NGUYỄN THỊ NHUNG
Ề
NG Ấ
LU
Ệ
Ệ
Ỉ
Chuyên ngành
: Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
Ă
ẠC SỸ TRIẾT H C
ỄN LINH KHIẾU
HÀ N I - 2016
Nam Sách, các đồng chí đang công tác tại Văn phòng Huyện ủy Nam Sách, Hội Liên
hiệp phụ nữ huyện Nam sách đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi tiếp cận những tài
liệu gốc phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh những nguồn động viên, giúp đỡ trên, tôi còn nhận được sự quan tâm,
khích lệ của gia đình, bạn bè những người luôn bên cạnh tôi lúc khó khăn nhất. Tôi
luôn chân trọng, cảm ơn những tình cảm tốt đẹp ấy!
Cuối cùng, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và các
nhà khoa học để luận văn hoàn thiện hơn nữa!
Xin chân thành cảm ơn!
M CL C
ĐẦU ........................................................................................................................... 1
M
ơ
1
t ở
ơ
1.1. Tư tưởng của Hồ hí
1.2. Quan điểm của Hồ hí
1.3. Tư tưởng của Hồ hí
ề
KẾT LU N ...................................................................................................................... 72
DANH M C TÀI LIỆU THAM KH O ....................................................................... 75
ĐẦ
1. Tính cấp thiết c a ề t
Trên cơ sở tiếp thu các giá trị, tư tưởng, văn hóa của nhân loại, đặc biệt là quan
điểm của chủ nghĩa
ác - ênin về nữ quyền và giải phóng phụ nữ, Hồ hí
inh đã
sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giải phóng phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ
ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, trong toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Nhận thức đúng đắn, mang tính khoa
học, tính nhân văn sâu sắc ấy đã t ng bước được hiện thực hóa trong sự nghiệp cách
mạng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ
hí
inh. Di sản tư tưởng về
giải phóng phụ nữ mà Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc ta là một tài sản qu báu mà
chúng ta cần nhận thức và vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn sự nghiệp giải
phóng phụ nữ hiện nay.
Việt Nam, trong những năm qua,
ảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến
những điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội cụ thể.
Huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương với diện tích 109 km2, với dân số gần
120.000 người là một huyện mang những n t đặc trưng của v ng đồng b ng Bắc Bộ.
ể t khi bắt đầu
ổi mới đến nay, Nam Sách đã đạt được những thành tựu nhất
định về mọi mặt của đời sống xã hội. ể có thể tiếp tục phát triển mạnh m trong thời
gian tới, một vấn đề đặt ra đối với huyện là làm sao sử dụng được một cách triệt để các
nguồn lực, trong đó phải kể đến một yếu tố rất quan trọng là vai trò của người phụ nữ.
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ vấn đề có
cấp bách nói trên, tôi đã chọn đề tài:
t t ởng ấy
tỉ
ơ
nghĩa l luận và thực tiễn
t ở
ề
ệ
ở
ệ
” làm đề tài luận văn thạc s Triết học.
2
hí
inh với sự tiến bộ của
inh về vai trò của phụ nữ và tầm
quan trọng của sự nghiệp giải phóng phụ nữ đối với sự thành công của cách mạng Việt
Nam. Trong công trình này, tác giả còn sưu tầm những bài viết, hồi kí
thể hiện lòng
kính trọng và biết ơn của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ quốc tế đối với Hồ hí
inh.
ông trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người do Phạm Ngọc Anh
chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Tác giả dành khoảng 15 trang để trình
bày những quan điểm độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh về giải quyền phụ nữ, t
cách tiếp cận quyền phụ nữ cho đến các nội dung cơ bản về quyền phụ nữ trong tư
tưởng của Người.
Ngoài ra các tạp chí khoa học xã hội và nhân văn đều mở chuyên mục nghiên
cứu tư tưởng Hồ hí
inh đăng tải những kết quả nghiên cứu của đông đảo các nhà
nghiên cứu khoa học, các nhà lãnh đạo quản l , ví dụ như: ê Văn Dương với công
inh ; hạm Văn
theo tư tưởng Hồ
hí
hánh với: Ba nội dung lớn về giải phóng phụ nữ
inh ; Nguyễn
ân Dũng với: Bác Hồ với sự nghiệp giải
phóng phụ nữ ; Hoàng
nh Tuấn với: Những lát cắt đặc biệt về giải phóng phụ nữ
trong tư tưởng Hồ hí
inh ;
ặng Thị Nhiệt Thu với: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí
Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện nay
Tiếp theo là những công trình nghiên cứu về vai trò, ph m chất của người phụ
nữ Việt Nam trong truyền thống và hiện đại.
Trong đó có công trình nghiên cứu Phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn văn hóa của
Trần Quốc Vượng, Nxb Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2013 trình bày
về vị trí, vai trò và những ph m chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam dưới góc độ nghiên
cứu những truyền thống văn hóa của dân tộc.
Nguyễn inh hiếu với công trình Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình, Nxb Khoa
HQG T .H
ại học Khoa học xã hội và Nhân văn –
, 2010. Trong đó, tác giả trình bày những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và đề xuất một số giải pháp để thực hiện sự
nghiệp giải phóng phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong hiện nay.
ột số luận văn, luận án khác có liên quan đến chủ đề này như: Hồ hí
với vấn đề giải phóng phụ nữ trong cách mạng Việt Nam của
tưởng Hồ hí
hí
inh về giải phóng phụ nữ của ê
inh
ặng Thị ương; Tư
inh Hà; Vận dụng tư tưởng Hồ
inh về giải phóng phụ nữ vào hoạt động thực tiễn của Hội liên hiệp hụ nữ Việt
Nam trong thời kì đổi mới của Trương Thị Thu Thủy;
4
Ngoài ra, còn có bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây
dựng đội ngũ cán bộ nữ của Nguyễn Thị Trà Giang, Học viện Chính trị - Hành chính
-
ề xuất một số giải pháp chủ yếu nh m đ y mạnh sự nghiệp giải phóng phụ
nữ ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương hiện nay.
5
Đố t
nghiên c u
ối tượng nghiên cứu: tư tưởng Hồ
hí
inh về vai trò của phụ nữ và sự
nghiệp giải phóng phụ nữ.
hạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: luận văn chỉ nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ hí
inh
trong việc giải phóng phụ nữ ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Về thời gian: luận văn s tập trung nghiên cứu về quá trình giải phóng, phát
triển phụ nữ ở Nam Sách t sau đổi mới đến nay (đặc biệt là trong giai đoạn 20052015).
ơ
5.
inh về phụ nữ và giải phóng phụ nữ.
ề xuất một số giải pháp chủ yếu nh m đ y mạnh sự nghiệp giải phóng phụ
nữ ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương hiện nay.
7. ơ ấu
l
ă
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 7 tiết.
6
ơ
B N CỦA H
1.1.
t ởng
1
CHÍ MINH VỀ GI I PHÓNG PH N
ề
Có thể nói, với Hồ Chí Minh thì phụ nữ Việt Nam là lực lượng vô cùng có ý
nghĩa đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam có vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp
cách mạng và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. ánh giá về vai trò và công lao to lớn của
phụ nữ Việt Nam, Người đã khái quát một cách ngắn gọn mà vô cùng sâu sắc b ng 8
chữ vàng:
nh h ng, bất khuất, trung hậu, đảm đang . ó thể cụ thể hóa tư tưởng Hồ
Chí Minh về vai trò của phụ nữ Việt Nam thành 4 nhóm sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lao động sản xuất.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong quản lý xã hội.
7
1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong gia đình
Hồ hí
inh là lãnh tụ thiên tài của
ảng và của nhân dân ta, là nhà tư tưởng
lớn của thời đại. Tư tưởng của Người là một hệ thống quan điểm về giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sự nghiệp của Người bắt đầu t con
người và cũng trở về với con người. Người khẳng định cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng và vì quần chúng, trong đó phụ nữ là một lực lượng quan trọng.
ó là những ph m chất đạo đức tốt đẹp như lòng hiếu thảo của con
cháu đối với bố mẹ, sự kính trọng người già, lòng yêu thương con trẻ, sự tương trợ đ m
bọc nhau.
đây có công lao to lớn của người mẹ trong việc vun đắp, dạy dỗ con cái.
hụ nữ Việt Nam luôn đầy lòng nhân ái. Họ không chỉ quan tâm giáo dục con
em của mình mà còn quan tâm giáo dục thế hệ trẻ nói chung. Trên thực tế đã có nhiều
phụ nữ quan tâm làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ. à người luôn sâu sát thực tế, Hồ
hí
inh đã sớm khẳng định: Sự săn sóc dạy dỗ cũng không chỉ nh m làm cho con
8
cháu mình khỏe và ngoan, mà phải cố gắng giúp đỡ cho tất cả các cháu đều ngoan và
khỏe [43, tr.258].
Người phụ nữ không chỉ thực hiện chức năng sinh đẻ, nuôi dạy con cái mà
trong gia đình gánh nặng công việc nhà luôn đè nặng lên họ.
hị em không chỉ làm
công việc nội trợ, cơm nóng, canh ngọt, mà phải lo chạy đủ gạo ăn cho gia đình, lo giỗ
tết, cưới xin, ma chay, v.v
Họ đã cần c , tiết kiệm, giật gấu bá vai, sao cho v a đủ
ăn, làm tròn nghĩa vụ với tổ tiên, với chồng con, với họ hàng làng xóm. Trong điều
hông chỉ xung phong sản
xuất mà còn khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận
tải [45, t.7, tr.38]. Những lúc chồng con ra đi bảo vệ đất nước, thì người mẹ, người vợ
ở nhà bám chặt lấy đồng ruộng, tiếp tục sản xuất, nuôi con cái, bố mẹ già và tiếp lương
cho quân đội. hị em phụ nữ đã làm mọi công việc thay chồng con, vì việc nước mà
vắng nhà. ông lao to lớn của các bà, các mẹ, các chị được Hồ hí
inh kịp thời thay
mặt cả nước ngợi khen và gửi lời cảm ơn: Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền
Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh h ng của nước ta [45, t.5, tr.172].
ảm đang, cần c trong lao động, anh h ng bất khuất trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm, nhân nghĩa thủy chung trong quan hệ gia đình, xóm làng, đó chính là
những n t điển hình tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam t ngàn xưa để lại. T đó đến nay,
người phụ nữ luôn có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng họ lại
9
không hề quên trách nhiệm làm vợ, làm mẹ của mình. Người phụ nữ bên cạnh những
đóng góp cho xã hội thông qua các công việc chuyên môn của mình còn là nhân tố tích
cực, thậm chí quyết định cho một gia đình tốt như Hồ hí
inh t ng khẳng định.
Song vai trò của người phụ nữ không phải khi nào cũng được nhận thức đầy đủ
và được quan tâm phát huy. Trong xã hội cũ, người phụ nữ bị coi khinh, bị ngược đãi,
bị trói buộc bởi đạo tam tòng , bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ , không có quyền
lực gì trong gia đình, họ bị đối xử bất công, bất bình đẳng, bị bóc lột và bị nô lệ c ng
quan tâm coi trọng. Người cho r ng: Rất quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia
đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội
mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình.
phải chú
hính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
đến hạt nhân cho tốt [37, tr.282].
10
ể bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và xây dựng gia đình kiểu mới bình đẳng, tiến
bộ, đấu tranh chống những tư tưởng lỗi thời, lạc hậu kìm hãm trói buộc người phụ nữ.
Hồ hí
inh đã tích cực chỉ đạo việc xây dựng Hiến pháp và pháp luật, trong đó có
những quy định rõ về quyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới. Hiến pháp năm
1946,
iều 24 quy định:
hụ nữ nước Việt Nam Dân chủ
ộng hòa có quyền bình
đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và gia đình
[42, tr.224]. uật hôn nhân gia đình đầu tiên, năm 1960,
hội tham gia và làm cách mạng t ng người, t ng gia đình, đến toàn dân. D to và khó
nhưng nhất định thành công [38, tr.433]. Người nói: hội phụ nữ và đoàn thanh niên
phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp và bền bỉ cho mọi gia
đình phải hiểu rõ pháp luật nhà nước và thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa về vấn
đề ấy. Bà con trong làng xóm và trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ng a,
không để những việc vi phạm như vậy xảy ra. Bản thân chị em phải có
tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình.
chí tự cường,
ối với những người đã được
giáo dục khuyên răn mà vẫn không sửa đổi thì chính quyền cần phải thi hành kỷ luật
một cách nghiêm chỉnh.
11
ục đích giải phóng phụ nữ x t đến c ng là thực hiện quyền bình đẳng của phụ
nữ so với nam giới.
ó phải là bình đẳng thực sự, bình đẳng t trong gia đình cho đến
ngoài xã hội.
Song Hồ hí
inh đã sớm phát hiện và phê phán tình trạng hiểu việc giải phóng
phụ nữ và thực hiện bình đẳng nam nữ theo kiểu hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, qu t
nhà, hôm sau em qu t nhà, nấu cơm, rửa bát [38, tr.433]. Theo Hồ hí
của xã hội, có trách nhiệm giáo dục, đào tạo cho xã hội những người con có đầy đủ
sức khỏe, ph m chất và năng lực.
ồng thời họ cũng góp phần hoàn thiện nhân cách,
trình độ của nguồn nhân lực xã hội.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong lao động
sản xuất
hụ nữ không chỉ có vai trò trong gia đình mà còn có vai trò rất lớn trong lao
động sản xuất và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Họ đã tham gia vào các hoạt
động lao động sản xuất và đạt được nhiều thành tích cao trong lao động sản xuất. Vì
vậy, Hồ hí
inh khẳng định phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng trong xã hội, là
một trong những đội quân chủ lực tạo ra của cải vật chất làm giàu cho xã hội.
12
Trên mặt trận lao động sản xuất, Hồ hí
inh luôn khẳng định phụ nữ luôn có
vai trò rất quan trọng, họ là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, chị em phụ nữ đã
góp phần công sức to lớn của mình trong việc nuôi quân và dân ăn no đánh giặc .
Người chỉ rõ: chưa bao giờ có nhiều đoàn phụ nữ
inh,
xuất mà ngay cả nam giới cũng cần học tập.
B ng lao động và thông qua lao động, chị em phụ nữ đã phát huy vai trò làm
chủ của mình trong lao động và đã tạo ra giá trị sản ph m gấp nhiều lần so với định
mức quy định. Trong bài Công tác cầu đường, năm 1953, Hồ
hí
inh đã nêu ra
những tấm gương cụ thể về những phụ nữ đạt thành tích cao trong lao động sản xuất.
Người đã đưa ra những ví dụ cụ thể như:
mức đã định, đồng chí
ồng chí
ao tăng năng suất hơn gấp năm
tăng năng suất hơn 3 lần [39, tr.87].
ó được kết quả trong lao động sản xuất là nhờ sự cố gắng vươn lên, không
quản ngại khó khăn vất vả của bản thân phụ nữ.
hi nói về những tấm gương phụ nữ
vượt khó vươn lên trong lao động sản xuất, Hồ hí
như:
ó nhiều cô như cô
inh đã nêu ra những ví dụ cụ thể
lao động cần c , lao động rất tốt. Như thế là v a làm lợi nhà, v a làm ích nước [40,
tr.401].
Trong Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt, năm 1964, Hồ hí
định:
inh khẳng
hụ nữ ta đã có thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, có
nhiều anh h ng chiến sĩ thi đua, đội trưởng đội sản xuất trong các nhà máy, chủ nhiệm
hợp tác xã, đội trưởng đội dân quân, bác sĩ, giáo viên
Trong cuộc kháng chiến chống
rất giỏi [43, tr.225].
, cứu nước, chị em phụ nữ hai miền đã thực
hiện tốt các phong trào thi đua năm tốt , ba đảm đang .
ác phong trào này đã có
tác dụng to lớn trong việc đ y mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu chống
, cứu nước.
hụ nữ miền Bắc không chỉ thi đua mỗi người làm việc b ng hai người vì miền Nam
ruột thịt , mà còn thi đua góp phần vào các phong trào Ba đảm nhiệm , Ba sẵn
sàng ,
nông thôn 60% xã viên
hợp tác xã là phụ nữ. ó những cô chủ nhiệm hợp tác xã. ô Hoàn là người đầu tiên
đã làm được 3000 cân phân, rồi phong trào thi đua lên, nhiều người làm vượt hơn cô
Hoàn, có người làm tới 7000 cân. hụ nữ tri thức cũng tham gia dân quân tự vệ, nhiều
đội rất khá. hụ nữ tri thức cũng đóng góp nhiều công trong việc xây dựng các vườn
trẻ, lớp mẫu giáo và trong các ngành nghề khác. Trong phong trào cải tạo xã hội chủ
nghĩa chị em buôn bán nhỏ đã tổ chức lại, đi vào hợp tác và sửa đổi cách làm ăn buôn
bán như thực thà, không lấy lãi, khiêm tốn, phục vụ khách hàng, rất đáng khen. hị em
tư sản tự mình tiếp thu và khuyên chồng tiếp thu cải tạo và đi vào con đường công tư
hợp doanh [42, tr.88].
ánh giá vai trò của người phụ nữ trong lao động sản xuất, Hồ hí
inh khẳng
định có nhiều tấm gương như có chỗ ông chủ nhiệm đi bộ đội, công việc do cháu gái
làm, làm lại tốt hơn trước kia [44, tr.22]. Trong Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ
cao cấp, năm 1966, Người khẳng định: Nói chung, các cháu gái rất hăng. Ví dụ: đi
chặt gỗ, việc ấy nặng nhọc, lúc hăng các cháu làm được hết; hay đi đắp đường, chỗ núi
non khó khăn, các cháu cũng làm được [44, tr.22].
ặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước, Hồ
hí
inh căn dặn:
hụ nữ công nhân cần tích cực tham gia quản l thật tốt nhà máy, công trường. hụ
nữ nông dân cần hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác, gặt tốt vụ m a, chu n
bị tốt vụ chiêm năm tới. ác tầng lớp phụ nữ ở thành phố cần chấp hành tốt chính sách
trong lao động sản xuất, Hồ hí
inh còn căn dặn chị em phụ nữ:
ể xứng đáng là
người làm chủ nước nhà, chị em phải gia sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm,
làm tốt nhiệm vụ với nhà nước, xung phong trong việc xây dựng đời sống mới, phải
đ y mạnh tăng gia sản xuất [40, tr.410].
hông chỉ căn dặn động viên phụ nữ, Hồ hí
inh còn nhắc nhở
ảng, hính
phủ các cấp muốn có nhiều sức lao động để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động
của phụ nữ [41, tr.523].
ể cho mọi phụ nữ phát huy hết khả năng lao động sáng tạo
của mình, Người khẳng định: phải đặc biệt chú
đến sức lao động của phụ nữ. hụ
nữ là đội quân lao động rất đông. hải giữ gìn sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia
sản xuất được tốt [44, tr.194].
Ngay sau cách mạng Tháng Tám, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của cách mạng được Hồ hí
inh xác định là phải diệt giặc dốt , nâng cao trình
inh là người sớm thấy và luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong tổng số những bài nói, bài
viết, Hồ hí
inh có đến gần 100 bài nói đến vai trò và những đóng góp của phụ nữ
vào trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Hồ hí
inh khẳng
định: xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái
tham gia, không thể có một lực lượng cách mạng mạnh m , nếu không có phụ nữ tham
gia [33, tr.288].
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Hồ hí
inh đã nhận thấy một trong
những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam là sự tham gia của phụ nữ.
Người khẳng định:
n Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công .
Theo Người, phụ nữ ta chẳng tầm thường, đánh ông, dẹp Bắc làm gương để đời .
Trong thời kì hoạt động bí mật, nhiều chị em đã giác ngộ tham gia hoạt động
cách mạng rất dũng cảm, mặc dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ, rất nhiều chị em
đã bảo vệ cách mang rất gan góc. Thời kì đó, ở Việt Bắc, đã có rất nhiều chị em phụ
nữ các dân tộc thiểu số không những vượt ngàn gian khổ, mà còn gạt bỏ cả mê tín, để
bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách mạng [42, tr.87]. Hồ
lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Nhiều bà cụ ngoài bảy, tám mươi tuổi chẳng
những xung phong đi dân công mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu.
ể
phát huy vai trò của phụ nữ và của toàn dân tộc trong kháng chiến, Người đã đưa ra
những ví dụ rất cụ thể như: Bà cụ Năm ( ao B ng) 83 tuổi xung phong đi sửa đường,
17
cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì cụ đã nói
àng già càng phải giúp kháng chiến, sửa
đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận [38, tr.473].
Hồ
hí
inh rất xúc động trước tình yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ
trong Hội mẹ chiến sĩ ở các địa phương. Theo Người, các bà mẹ chiến sĩ và các chị
em giúp thương binh đã hòa lẫn lòng yêu nước, yêu cách mạng, yêu chiến sĩ thành một
mối yêu thương không bờ bến, mà giúp đỡ chiến sĩ và chăm sóc thương binh như con
em ruột thịt của mình [38, tr.431].
các v ng tạm chiến, các mẹ chẳng khác gì các
nữ thần hộ mệnh đã bảo vệ cho các chiến sĩ hoạt động bí mật. Việc làm của các bà,
iên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế giúp phụ nữ Việt Nam bồi dưỡng
truyền thống ấy, hăng hái đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược. hụ nữ Việt
Nam đã xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng và là lực lượng trong quốc tế phụ
nữ.
hi nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống
, một đế quốc có tiềm lực kinh
tế, quân sự kĩ thuật rất mạnh, một cuộc chiến đấu hết sức gay go và quyết liệt, đáp lại
lời kêu gọi của Hồ
hí
inh, phụ nữ ta ra sức phát huy hơn nữa truyền thống dũng
cảm, đảm đang, c ng toàn quân, toàn dân bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc, đưa sự
18
nghiệp chống
cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, chị em phụ nữ đã tỏ rõ sức mạnh
và khả năng của mình trên mọi lĩnh vực.
iền Nam, chị em phụ nữ đã trở thành lực lượng đông đảo trong các cuộc
đấu tranh cách mạng: kiên trì, bền bỉ, ngoan cường, những đội quân tóc dài đã gan dạ
xông pha, bất chấp gian khổ, đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, biến những
,
c ng nhiều thành tích chiến đấu khác. Người khẳng định: Trong phong trào thanh
niên xung phong chống
, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái Vĩnh inh v a sản
xuất giỏi, v a chiến đấu giỏi, tổ cầu đường Trần Thị
ở Quảng Bình và tiểu đội 9,
đại đội 814 đã đảm bảo tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội quân gái ở Nam Ngạn đã
góp phần bắn đươc nhiều máy bay giặc
Hồ hí
[44, tr.149].
inh luôn đánh giá cao vai trò của các bà mẹ đã anh dũng che chở cho
bộ đội, khuyến khích chồng, con đi chiến đấu, cắn răng chịu đựng những mất mát đau
thương. Người nói:
ác bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội
đánh giặc cứu nước. Ngoài ra, ân cần, nuôi nấng, giúp đỡ và bảo vệ cán bộ và chiến sĩ
khác như con cháu của mình. Như bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn,
không sợ sóng to, gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội qua sông để chiến
đấu. Bà mẹ
ần người Thái ở Sơn a có 6 người con thì 2 con đi bộ đội, 4 vào du
ó cũng là lời khẳng
định vị trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Như vậy, Hồ hí
inh đã chỉ rõ: vai trò của phụ nữ không chỉ thể hiện ở lòng
căm th giặc ngoại xâm, động viên và hy sinh để chồng con yên tâm cầm súng ra mặt
trận, mà còn trực tiếp tham gia cầm súng đánh giặc, họ đã có nhiều hy sinh, đóng góp
cho sự nghiệp đấu tranh giành và giữ độc lập chủ quyền dân tộc. Người đã tặng phụ
nữ Việt Nam 8 chữ vàng:
nh h ng, bất khuất, trung hậu, đảm đang .
1.1.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản lý
Hồ hí
inh là người luôn quan tâm phát huy vai trò của người phụ nữ trong
các công việc quản l nhà nước. Ngay trong phiên họp đầu tiên của
(3/9/1945), Hồ hí
hính phủ
inh nói: Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và
bầu cử [36, tr.8]. Ngày 1/6/1946, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, phụ nữ được cầm
lá phiếu trực tiếp bầu những người có đức, có tài đại diện cho mình vào trong chính
quyền cách mạng.
tham gia công tác tại các cơ quan trung ương là 5000 người, ở huyện, xã là hơn 16000
người và ở các tỉnhcó hơn 330 người, đặc biệt trong quốc hội khóa II, có 53 đại biểu là
nữ [42, tr.184].
Sớm nhận thấy tiềm năng của phụ nữ, Hồ
hí
inh khẳng định: Dưới chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi
nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, d nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài
năng và nghị lực [43, tr.97].
Theo Hồ hí
inh, chị em phụ nữ không thua k m nam giới trong mọi lĩnh vực
nếu như họ được tạo điều kiện thuận lợi. Người nói: Trong hàng ngũ vẻ vang những
anh h ng quân đội, anh h ng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có
phụ nữ [43, tr.256].
Trong các họat động văn hóa - xã hội, chị em phụ nữ cũng đã không ng ng học
tập, nâng cao trình độ. Theo Hồ
hí
inh, chính t những cố gắng trong học tập
nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ mà hàng vạn phụ nữ đã trở thành
chuyên gia các ngành và là cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí
nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nhà nước, chủ tịch ủy ban hành chính, bí thư chi bộ
ảng [44, tr.149], có người gánh vác những trách nhiệm nặng như làm th m phán,