Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chơng 1: T tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền
mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
6
1.1. Cơ sở hình thành 6
1.2. Sự hình thành t tởng Hồ Chí Minh về: Thực hiện chính quyền
mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân 20
1.3. Nội dung t tởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân 32
1.4. Thành công và những bài học từ việc tổ chức xây dựng chính quyền
mạnh mẽ sáng suốt của nhân dân trong kháng chiến, kiến quốc 54
Chơng 2: Công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng
chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt ở Tuyên
Quang hiện nay dới ánh sáng t tởng Hồ Chí
Minh
61
2.1. Những thành công và hạn chế của bộ máy chính quyền ở Tuyên
Quang hiện nay 61
2.2. Cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền mạnh mẽ và
sáng suốt của nhân dân ở Tuyên Quang 64
2.3. Một số kiến nghị, giải pháp trong cải cách hành chính ở Tuyên Quang 87
Kết luận
96
Danh mục các công trình của tác giả
100
Danh mục tài liệu tham khảo
101
Phụ lục
Vì vậy, nghiên cứu sự ra đời, nội dung của t tởng Hồ Chí Minh về
"thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và mối quan hệ
của nó với công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền nhà n-
ớc trong sạch vững mạnh hiện nay là một công việc có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn sâu sắc. Đó là nhiệm vụ đặt ra cấp bách cho những ngời nghiên cứu và
những ngời quản lý xã hội trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
2. Tình hình nghiên cứu
Hồ Chí Minh là ngời đầu tiên sáng lập ra Nhà nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà - Nhà nớc Dân chủ đầu tiên ở Đông Nam á. Vì vậy, t tởng và hoạt
động lãnh đạo của Hồ Chí Minh về nhà nớc đã có nhiều tác giả nghiên cứu.
Trớc hết phải kể đến các tác giả: Nguyễn Ngọc Minh với: Nghiên cứu t tởng
Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998. Đây là
công trình nghiên cứu khá toàn diện về những t tởng và những đóng góp thực
tiễn của Hồ Chí Minh đối với nhà nớc và pháp luật của Nhà nớc ta trong cả hai
2
giai đoạn cách mạng Dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó
là PGS.TS Hoàng Văn Hảo với: T tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc kiểu mới - Sự
hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. Tác giả cũng
đã nghiên cứu từ sự lựa chọn kiểu nhà nớc của Hồ Chí Minh đến những t tởng
của Hồ Chí Minh về Nhà nớc Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Dân tộc Dân
chủ và trong t hời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phần kết luận của tác giả
chiếm gần nửa số trang của tập sách có nhiều nghiên cứu mới về sự "kết hợp
đạo đức và pháp luật trong t tởng Hồ Chí Minh"; từ đó nêu ra sự vận dụng t t-
ởng Hồ Chí Minh về nhà nớc pháp quyền và từng bớc hoàn thiện nó trong quá
trình đổi mới ở nớc ta. Tiếp theo phải kể đến công trình chuyên khảo của PTS.
Nguyễn Đình Lộc, T tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc của dân, do dân, vì dân,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 (sản phẩm của đề tài cấp Nhà nớc
KX.02.13). Đây là công trình nghiên cứu khá cơ bản t tởng Hồ Chí Minh về
nhà nớc của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta trong việc xây
mạng xã hội chủ nghĩa; phân tích sáng tạo của Hồ Chí Minh và tính cách mạng
của nhà nớc do Hồ Chí Minh sáng lập. Tuy nhiên do mục đích và yêu cầu đặt ra
cho mỗi công trình mà cha có tác giả nào nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về
"thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" một cách độc lập
và trong mối liên hệ với công cuộc cải cách hành chính hiện nay. Vì vậy, trên cơ
sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc, tôi lựa chọn vấn
đề: "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với công
cuộc cải cách hành chính ở Tuyên Quang", làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Hồ Chí Minh học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Nghiên cứu làm rõ quá trình hình thành, nội dung cơ bản t tởng Hồ
Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của dân" để từ đó
thấy rõ hơn công cuộc cải cách hành chính hiện nay là sự tiếp nối t tởng của
Hồ Chí Minh nhằm phát huy sức mạnh và trí tuệ của nhân dân để xây dựng
nhà nớc trong sạch, vững mạnh, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu quá trình hình thành t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện
chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân".
- Xác định nội dung chủ yếu của t tởng trên.
- Nghiên cứu mối liên hệ t tởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính
quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" với công cuộc cải cách hành
chính nhằm xây dựng nhà nớc của dân, do dân và vì dân trong sạch,
vững mạnh.
- Liên hệ với thực tiễn chơng trình cải cách hành chính nhằm xây dựng
chính quyền vững mạnh vì dân ở Tuyên Quang hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
Đề tài đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, cơ sở và quá trình hình thành nội
1.1.1. Cơ sở lý luận
Học thuyết Mác - Lênin về nhà nớc là di sản khoa học và cách mạng
cho những ngời cộng sản và các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng khỏi
ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc; thực hiện chính quyền chuyên chính vô
5
sản có sức mạnh tập trung chống lại sự phản kháng của các thế lực thù địch,
đồng thời phát huy dân chủ thực sự để tổ chức tốt nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền giáo dục và văn hóa mới
cho nhân dân.
Trong tác phẩm "Nhà nớc và cách mạng - Học thuyết của chủ nghĩa
Mác về nhà nớc và những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cách mạng"
V.I.Lênin viết:
Học thuyết đấu tranh giai cấp mà Mác vận dụng vào vấn đề nhà
nớc và vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa, tất nhiên phải đa tới chỗ
thừa nhận sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản, chuyên chính
của giai cấp đó, tức là một chính quyền không bị chia sẻ với ai hết, và
trực tiếp dựa vào lực lợng vũ trang của quần chúng. Giai cấp t sản chỉ
có thể bị lật đổ, khi nào giai cấp vô sản trở thành giai cấp thống trị đủ
sức trấn áp sự phản kháng không thể tránh khỏi, tuyệt vọng của giai
cấp t sản, và đủ sức tổ chức hết thảy quần chúng lao động và bị bóc
lột để xây dựng một chế độ kinh tế mới.
Giai cấp vô sản cần có chính quyền nhà nớc, cần có sức mạnh
tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấn áp sự phản kháng của bọn
bóc lột và lãnh đạo quảng đại quần chúng nhân dân - nông dân, tiểu
t sản, nửa vô sản - trong công cuộc "tổ chức" nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa [22, tr.32].
Sự tổng kết và phát triển t tởng của Mác - ăngghen về nhà nớc và cách
mạng, hết sức kỳ tài của Lênin, đã cho chúng ta thấy đợc "vấn đề nhà nớc" đã
đợc trình bày ngày càng sáng tỏ theo tiến trình lịch sử, từ "Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản" 1848 tới Công xã Pari 1871 và đến "đêm trớc của cách mạng
Muốn cách mạng vô sản thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân,
theo Lênin, còn phải xây dựng đợc đảng mác xít chân chính; đoàn kết và tập
hợp mọi lực lợng cách mạng mà nòng cốt là liên minh công - nông
Chủ nghĩa Mác giáo dục công nhân, là giáo dục đội tiên phong
của giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và
dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ
chức một xã hội mới, đủ sức làm thầy, làm ngời dẫn đờng, lãnh tụ
của tất cả những ngời lao động và những ngời bị bóc lột để giúp họ
tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp t sản và
chống lại giai cấp t sản [22, tr.33].
Nhà nớc xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả đấu tranh cách mạng của
giai cấp vô sản và nhân dân lao động dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Cách mạng ở mỗi nớc, mỗi thời kỳ có những điều kiện và hoàn cảnh khác
nhau cho nên sự ra đời của các nhà nớc xã hội chủ nghĩa cũng nh việc tổ chức
7
nhà nớc kiểu mới có những đặc điểm khác nhau. Vì thế, mỗi nớc cần phải
chọn cho mình những phơng pháp và hình thức thích hợp.
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trên con đờng đi tìm con đờng cứu nớc
cứu đồng bào, Ngời đã gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin. Dới ánh sáng
Luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và tấm gơng
cách mạng tháng Mời Nga, Ngời đã tìm ra con đờng giải phóng cho dân tộc
mình và cho các dân tộc thuộc địa. Năm 1920, bằng nhiệt tình cách mạng
hiếm thấy và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, tại Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã
hội Pháp Nguyễn ái Quốc tán thành và ủng hộ Đảng mình đi theo con đờng
Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản. Sự kiện đó đánh dấu bớc chuyển biến về
chất trong t tởng Nguyễn ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nớc đến chủ nghĩa Lênin,
từ ngời yêu nớc thành ngời cộng sản. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để
Nguyễn ái Quốc trở thành ngời sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tiếp đó
là sáng lập ra nhà nớc cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam á.
Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền.
dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: đoàn kết toàn dân, chống
Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất" [32, tr.158].
Hội nghị đã có chủ trơng mới "không nên nói công nông liên hiệp và lập
chính quyền xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ
dân chủ cộng hòa" [11, tr.127]. Chơng trình Việt Minh cũng nêu rõ: "sau khi
đánh đuổi đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nớc Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc cờ. Chính phủ
nhân dân của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân đại hội cử lên "
[29, tr.583].
Cuối năm 1944, khi thời cơ giải phóng dân tộc đến gần, Hồ Chí Minh
nói rõ hơn về mô hình một nhà nớc mới của cách mạng Việt Nam trong Th
gửi đồng bào toàn quốc, đó là một chính phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn
kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. "Một cơ cấu nh thế mới đủ
lực lợng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì
giao thiệp với các hữu bang" [29, tr.505].
Nh vậy, từ mô hình Nhà nớc công nông binh chuyển sang mô hình Nhà
nớc Dân chủ Cộng hòa là một bớc chuyển kịp thời và sáng tạo của Hồ Chí
Minh, phản ánh đợc đặc thù thực tiễn cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt
Nam. Đó là một sáng tạo cách mạng về chính thể nhà nớc trong lý luận về nhà
nớc của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Sự ra đời của Nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức năng chuyên
chính của chính quyền nhân dân, là một đóng góp của Hồ Chí Minh đối với việc
thực hiện chức năng "chuyên chính" của nhà nớc trong lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin về Nhà nớc của giai cấp vô sản.
9
Cơ sở để hình thành t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyền
mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân đợc bắt nguồn chính từ việc nhà nớc cách
mạng phải thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nớc dân chủ
vừa mới đợc thiết lập sau cách mạng tháng Tám. Trung thành với nguyên tắc
"dĩ bất biến, ứng vạn biến", Hồ Chí Minh trong thời kỳ đầu của cách mạng
là lý luận Mác-Lênin đợc vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở
Việt Nam.
Hồ Chí Minh khẳng định: Chính quyền nhà nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là nhà nớc dân chủ, nhà nớc của dân, do dân và vì dân; cơ sở xã hội
của nhà nớc là toàn thể dân tộc, nền tảng là liên minh công - nông, lao động
trí óc dới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Trong t tởng Hồ Chí Minh một nhà nớc mạnh mẽ và sáng suốt của nhân
dân trớc hết là một nhà nớc thực sự đại biểu cho quyền lợi của nhân dân, thực
sự do nhân dân lập ra, đợc nhân dân ủng hộ. Đồng thời, đó phải là một chính
quyền nhà nớc tập trung, có bộ máy hành chính mạnh mẽ, quản lý điều hành
bằng pháp luật có hiệu lực, hiệu quả thực tếl; đội ngũ cán bộ công chức am
hiểu pháp luật, chuyên môn và có đạo đức phục vụ nhân dân.
Bằng sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý, quan điểm của Học thuyết
Mác - Lênin về nhà nớc vào chỉ đạo và xây dựng thành công nhà nớc Dân chủ
cộng hòa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ là một ngời Mác xít chân
chính, đã bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng sự thắng lợi trên thực
tiễn của cách mạng dân tộc dân chủ mở đờng lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
"những t liệu mà Mác ở thời mình không thể có đợc" [27, tr.465]. Hồ Chí Minh
đã tiếp nối ánh sáng của cách mạng tháng Mời Nga bằng nắng vàng mùa thu
cách mạng tháng Tám trên đất nớc Việt Nam, xua tan bóng đêm của chủ
nghĩa thực dân ngự trị trên đất nớc gần một thế kỷ.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Những công việc của chính quyền non trẻ sau Cách mạng Tháng Tám là
sự tiếp nối những công việc và thành quả của chính quyền "nớc Việt Nam mới
phôi thai" ở khu giải phóng trớc Cách mạng Tháng Tám. Không thể hiểu thấu
đáo cơ sở thực tiễn của t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt
của nhân dân" nếu không tìm hiểu tiến trình xây dựng chính quyền ở giai đoạn
này.
Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng đợc
mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng
thời sau cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng
Cộng sản Đông Dơng và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sức
mạnh dân tộc và tính hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền độc
lập tự do bằng tổ chức Đại hội đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển
xoay vận nớc bằng phơng thức khởi nghĩa vũ trang, xoá bỏ chế độ nô dịch
thực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ quan mang tính quyền lực
cao nhất là Đại hội đại biểu quốc dân và Uỷ ban dân tộc giải phóng do Đại hội
đại biểu quốc dân lập ra.
12
Ngày 25/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Theo đề nghị
của Ngời, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm
thời nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy ban
dân tộc giải phóng đã tự nguyện rút ra để mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh
tham gia. Sau này, Hồ Chí Minh ca ngợi: "Đó là một cử chỉ vô t, tốt đẹp,
không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên
trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải
học tập" [32, T.6, tr.160].
Việc Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đáp
ứng yêu cầu: Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu đợc Mặt trận dân tộc
thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ, mời thêm một số nhân sỹ tham gia
chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân đã giao phó
cho. Và để Chính phủ sớm ra mắt quốc dân đồng bào trong ngày tổ chức lễ
tuyên bố độc lập của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong "Tuyên cáo về
việc thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Việt Nam
dân quốc công báo, Số 1, ngày 29-9-1945), ngày 28-8-71945 có đoạn:
Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt
trận Việt Nam độc lập Đồng Minh (Việt Minh) nh có ngời đã lầm t-
ởng. Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các
dân Việt Nam dới sự lãnh đạo của Đảng ta và Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ bộ
máy thống trị của đế quốc và bọn phong kiến tay sai, lập nên chính quyền
nhân dân trong cả nớc. Đây là sự thắng lợi của đờng lối của Đảng ta và t tởng
Hồ Chí Minh về quá trình hình thành một nhà nớc do nhân dân, vì nhân dân,
thay thế cho nhà nớc thực dân phong kiến đã tồn tại ở Việt Nam gần một thế
kỷ. Cuộc cách mạng tháng Tám đã lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc
thực dân, và "nền quân chủ mấy mơi thế kỷ", thành lập nớc Cộng hòa Dân
chủ, đa dân tộc Việt Nam bớc vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên Dân chủ
Cộng hòa, kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Nói về ý nghĩa to lớn của cuộc Cách mạng
Tháng Tám, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng
thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc" [32, tr.159].
Tuy nhiên, nhà nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải "tiếp quản" một
di sản kinh tế - xã hội hết sức nghèo nàn, lạc hậu. "Giặc đói" đe dọa sinh
mạng của hàng triệu đồng bào. Nền tài chính quốc gia gần nh trống rỗng.
Về mặt xã hội, hậu quả của xã hội cũ rất nặng nề. Sự thất học của đại đa
số nhân dân cũng là một loại giặc "giặc dốt". Chỉ có 10% dân số biết chữ, hầu
hết ở bậc tiểu học. Số công chức có trình độ đại học và cao đẳng trong cả nớc
chỉ khoảng vài trăm ngời. Thực tế đó đã làm cho việc tổ chức hoạt động và
14
xây dựng chế độ mới của nhà nớc ta gặp nhiều, khó khăn. Các tệ nạn xã hội,
hủ tục và lối sống lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến, phát xít để lại là
gánh nặng cho nhà nớc cách mạng non trẻ.
Về chính trị, trong khi các lực lợng Đồng minh kéo vào nớc ta, các thế
lực phong kiến phản động, tay sai của thực dân Pháp đã tăng cờng hoạt động
trở lại. Hàng chục tổ chức chính trị, đảng phái đợc thành lập nh Đại Việt Cách
mạng Đảng, Việt Nam phục quốc, Việt Nam quốc xã Đảng do Trần Trọng
Kim, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Diệm cầm đầu. Đặc biệt có hai đảng phái
chính trị từ nớc ngoài trở về theo đội quân Tởng là Việt Nam cách mạng đồng
chí hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) ra mặt chống
cần thiết để "củng cố dần lực lợng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt
trận dân tộc thống nhất", nguồn sức mạnh của hệ thống chính trị dân chủ vừa
mới đợc thành lập; thời gian là sức mạnh, là lực lợng cho Mặt trận và Chính
quyền triển khai công việc tổ chức đoàn kết toàn dân và xây dựng "chính
quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" trở thành một hệ thống chính
quyền thống nhất từ "Chính phủ toàn quốc" đến chính quyền địa phơng trong
cả nớc Việt Nam.
Sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dơng tuyên bố "tự giải tán" là "để phá
tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nớc và trong nớc có thể trở ngại cho
tiền đồ giải phóng nớc ta". Những ngời muốn nghiên cứu về chủ nghĩa Mác -
Lênin "sẽ gia nhập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dơng".
Nh vậy, bằng việc công khai thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác
và tờ báo Sự thật cùng các chỉ thị, nghị quyết, trên thực tế Đảng ta vẫn tiếp tục
tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin và đờng lối chính sách của Đảng, giữ
vững đợc mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn
diện của Đảng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Tình hình những tháng năm đầu của cách mạng là thời kỳ chồng chất
những khó khăn thử thách với Đảng và chính quyền nhân dân trên mọi phơng
diện từ nội trị, kinh tế, quân sự, đến ngoại giao.
Với t cách là thợng khách của nớc Pháp, trong chuyến thăm Pháp năm
1946, Hồ Chí Minh là hiện thân của ý chí độc lập dân tộc, hoà bình và hữu
nghị của nớc Việt Nam mới, Ngời đã làm hết sức mình để cố tránh một cuộc
chiến tranh đổ máu cho hai dân tộc Việt - Pháp và kéo dài khoảng thời gian
hoà hoãn để củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lợng cho cách mạng ở trong n-
ớc.
Trớc những câu hỏi có tính "cân não" về xu hớng cộng sản, ở một thời
điểm nhạy cảm, của các nhà báo Pháp phỏng vấn Hồ Chủ tịch, Ngời điềm tĩnh
trả lời:
Tất cả mọi ngời đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.
Riêng tôi, tôi nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm,
của chính quyền nhân dân.
1.2. sự hình thành t tởng Hồ Chí Minh về Thực hiện chính
quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhiệm vụ của nhà nớc hết sức
nặng nề, một mặt phải khắc phục những khó khăn nghiêm trọng nh giải quyết
17
nạn đói, nạn dốt, thói xấu cùng những bất công, chia rẽ tôn giáo, mất dân chủ
trong xã hội do chế độ cũ để lại, mặt khác, chính quyền nhân dân, đặc biệt là
chính quyền cấp xã đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ của nhà nớc ở địa phơng. Tệ tham ô, lãng phí, công thần, "làm
quan cách mạng", lên mặt, nhũng nhiễu nhân dân đã sớm đợc Hồ Chí Minh
nhận dạng và cảnh báo qua những bài báo, bức th của Ngời đã cho công bố.
Chính những khuyết tật, những căn bệnh cả cũ lẫn mới đó đã làm cho khả
năng tập hợp sức mạnh và trí tuệ sáng suốt của nhân dân, của cấp chính
quyền cơ sở bị ảnh hởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và uy tín cả hệ thống
chính quyền dân chủ mới.
Trên cơng vị ngời đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận
thấy sự cần thiết phải lãnh đạo, tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền dân
chủ phải thật sự mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Chế độ dân chủ phải đợc
vận hành bằng nền hành chính dân chủ mới.
Sự ra đời t tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân
dân" là một quá trình nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của cách mạng Việt Nam
trong điều kiện Việt Nam từ một nớc nô lệ tiến lên một quốc gia độc lập. Đó
là sự thay đổi lớn, một cuộc cách mạng trong t tởng và thực tiễn chỉ đạo xây
dựng chính quyền dân chủ ở Việt Nam. Lịch sử Nhà nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và lịch sử Hiến pháp Việt Nam gắn liền với t tởng lập hiến Hồ Chí
Minh.
Hiến pháp là nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ hiện đại, Hiến pháp
là cơ sở pháp lý về sự tồn tại và phát triển của nhà nớc. Thực hiện một xã hội
tự do, dân chủ cho nhân dân và một chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của dân
tuyển cử bầu Quốc hội. Sắc lệnh cũng quy định Quốc hội có toàn quyền ấn
định Hiến pháp cho nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 20/9/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của nớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm các vị: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng
Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lơng Bằng, Đặng Xuân
Khu. Ngày 26/9/1945, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 39/SL, thành lập Uỷ ban
dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín ngời và Sắc lệnh số 51/SL, ngày
17/10/1945, quy định Tổng tuyển cử bằng cách phổ thông đầu phiếu v.v Đây
là những Sắc lệnh quan trọng nhằm xây dựng quyền làm chủ của công dân Việt
Nam đối với vận mệnh đất nớc qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội.
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn
những ngời có tài, có đức, để gánh vác công việc nớc nhà.
Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ ai là ngời muốn lo việc nớc thì
đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử.
Không phân biệt gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp,
đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó.
19
Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là
dân chủ, đoàn kết.
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ
cử ra chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân" [30, tr.133].
Các ban bầu cử đã đợc thành lập tại các làng xã do ủy ban nhân dân các
cấp trực tiếp đảm nhận.
Quá trình diễn ra Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trơng trong điều kiện
vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoại
giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go,
phức tạp. Dựa vào các thế lực quân đội nớc ngoài có mặt trên đất nớc ta lúc
bấy giờ, Việt Quốc và Việt Cách ra sức chống đối việc tổ chức Tổng tuyển cử.
Việt Quốc đa ra yêu sách đòi chiếm giữ 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội và
phải giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong
tự do dân chủ cho nhân dân khi nớc nhà đã tuyên bố độc lập là một đòi hỏi khách
quan và trọng yếu nhất để đảm bảo thành quả cách mạng tháng Tám.
Từ Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời
(28/8/1945) , Chính phủ liên hiệp lâm thời (ngày 9/1/1946), Chính phủ kháng
chiến (ngày 2/3/1946) đến Chính phủ mới (ngày 3/11/1946) đã trải qua 4 lần
tự cải tổ và thành lập mới, Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn tỏ rõ:
Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết. Theo lời
Quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một chính phủ
biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến
thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nớc nhà.
Anh em trong chính phủ mới sẽ dựa vào sức mạnh của Quốc
hội và quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc
dân và Quốc hội trao cho [30, tr.427-428].
Theo t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân, thì hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nớc ở
Trung ơng (Quốc hội và Chính phủ) phải là một khối thống nhất với các cơ
quan quyền lực nhà nớc ở địa phơng (Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
các cấp).
Ngay sau ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
cho đăng trên Báo Cứu quốc, số 40 ngày 11/9/1945 bài: Cách tổ chức ủy ban
nhân dân. Trong đó xác định ủy ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố)
là hình thức chính phủ trong các địa phơng sau khi khởi nghĩa thắng lợi ủy
ban nhân dân tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, khác hẳn các cơ quan
do bọn thống trị cũ đặt ra. Cũng chỉ sau đó 2 tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính.
21
Điều 1 của Sắc lệnh đã nêu:
Để thực hiện chính quyền nhân dân trong nớc Việt Nam, sẽ đặt
Dới nhiều bút danh, Hồ Chí Minh đã cho đăng các bài báo, bức th: Th gửi
các đồng chí tỉnh nhà; Chính phủ là công bộc của dân; Thiếu óc tổ chức - một
22
khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân; Sao cho đợc lòng dân; Bỏ cách làm
tiền ấy đi!; Th gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh huyện và làng)
Chính những vấn đề chính yếu Hồ Chí Minh đề cập trong các bức th,
bài báo trên đã góp phần rất quan trọng vào việc củng cố chính quyền trên cả
phơng diện xây dựng bộ máy, thống nhất đội ngũ cán bộ công chức các cấp và
cách thức thực hành quyền lực nhà nớc của dân, phụng sự nhân dân, phụng sự
Tổ quốc. Cho dù không phải là những văn bản quy phạm pháp luật song t tởng
của những bài báo, bức th do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ra còn nguyên giá trị
cho việc xây dựng củng cố hệ thống chính quyền trong sạch, vững mạnh, cải
cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng đến tận ngày nay.
T tởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân đợc
Hồ Chí Minh với t cách trởng Ban soạn thảo Hiến pháp Việt Nam 1946 sử
dụng lần đầu tiên trong lời nói đầu của Hiến pháp nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa năm 1946.
Đợc quốc dân giao cho trách nhiệm thảo luận Hiến pháp đầu
tiên của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng
Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách
mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dới đây:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai
cấp, tôn giáo.
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân [14, tr.7].
Là nguyên tắc hiến định tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho quá trình tổ
chức, xây dựng và hoạt động của nhà nớc dân chủ, t tởng về xây dựng chính
quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân mà nội dung cốt lõi là bằng hoạt
động thực tiễn để tổ chức hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nớc của nhân
dân thực sự đủ năng lực quản lý điều hành đất nớc có hiệu lực, hiệu quả, giải
nớc phải tỏ rõ là những tổ chức mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân, đủ lực lợng,
quyền hành cùng tài năng trí tuệ và bản lĩnh cách mạng để tranh quyền độc
lập cho dân tộc, phát triển đất nớc sánh ngang với các nớc dân chủ trên thế
giới.
Theo t tởng Hồ Chí Minh về tổ chức xây dựng một chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân, bên cạnh việc xây dựng thể chế bộ máy chính
quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ cần phải có đội ngũ cán bộ công chức đủ
đức, đủ tài và tinh thông nghiệp vụ. Suy cho cùng nhân tố con ngời, nhân tố
cán bộ công chức là nhân tố tạo nên sức mạnh và hiệu lực thực tế của bộ máy
các cơ quan chính quyền nhân dân có khả năng nhận thức rõ ràng và giải
quyết vấn đề đúng đắn, không sai lầm. Nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò
tích cực chủ động của đội ngũ cán bộ công chức với hoạt động của bộ máy
chính quyền các cấp, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh
ban hành (Quy chế công chức Việt Nam).
24
Trong lời nói đầu của Quy chế này, chúng ta lại thấy Chủ tịch Hồ Chí
Minh cùng Chính phủ Việt Nam rất coi trọng việc thực hiện Hiến pháp năm
1946 trong việc xác định Quy chế pháp lý cho công chức Việt Nam. "Điều thứ
nhất, chơng thứ nhất trong Hiến pháp đã nêu rõ: "nớc Việt Nam là một nớc
dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nớc là của toàn thể nhân dân".
Lời nói đầu của Hiến pháp về các nguyên tắc xây dựng chính quyền
cũng nhấn mạnh:
Phải thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ
trong bộ máy nhà nớc của chính quyền nhân dân, dới sự lãnh đạo tối
cao của Chính phủ.
Vậy ngời công chức phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng
đờng lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc.
Đi đôi với nhiệm vụ trên, công chức Việt Nam cần có một địa
vị xứng đáng với tài năng của mình. Địa vị ấy đợc đề cao trong quy