Bộ Xây Dựng
Trường Đại học kiến trúc Tp.HCM
Bộ môn lí luận chính trị
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội học tập.
Giá trị và bài học của nó đối với việc học
tập và rèn luyện của sinh viên Trường
đại học Kiến trúc hiện nay
GVHD:
Sinh viên: Phạm Thị Như Yến
Lớp: KT11_CT
MSSV: 11510108490
Cần Thơ, ngày 19 tháng 10 năm 2012
Page 1
MỤC LỤC
PHẦN I:
MỞ ĐẦU
PHẦN II:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÃ HỘI HỌC TẬP
1. Sơ lược về tư tưởng Hồ Chí Minh
2. Tìm hiểu về xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
a. Khái niệm:
b. Bản chất của xã hội học tập:
c. Nhiệm vụ của xã hội học tập:
d. Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT
e. Để xây dựng một xã hội học tập:
3. Xã hội học tập là xu thế mới của nhân loại:
4. Thực tiễn xây dựng xã hội học tập ở nước ta:
5. Những thành tựu mà xã hội học tập mang lại:
Đảng Cộng sản Việt
Nam đúc kết lại, sử
dụng như là hệ thống
tư tưởng chính tại
Việt Nam hiện nay,
bên cạnh chủ nghĩa
Marx-Lenin. Hệ thống
tư tưởng này bao gồm
những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và
phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đảng Cộng
Sản Việt Nam luôn tăng cường tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo
Tư tưởng Hồ Chí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội.
b) Đối tượng, nhiệm vụ:
Đối tượng nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan
điểm, lý luận về cách mạng Việt Nam trong dòng chảy của thời đại mới mà cốt
lõi là tư tưởng độc lập, tự do; về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn của hệ
thống quan điểm lý luận cách mạng Hồ Chí Minh; về mối liên hệ biện chứng
trong sự tác động qua lại của tư tưởng độc lập, tự do với tư tưởng giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội, về các quan điểm cơ bản trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.
Page 5
Trên cơ sở đối tượng, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ đi sâu
nghiên cứu làm rõ:
- Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Nội dung, bản chất cách mạng và khoa học, đặc điểm của các quan điểm trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Vai trò nền tảng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với
cách mạng Việt Nam và giá trị tư tưởng của Người trong kho tàng tư tưởng, lý
luận cách mạng thế giới của thời đại
Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vẫn mang lại những
thành tựu vĩ đại, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ điều
khiển, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano và hơn cả là sự xuất hiện máy
tính hiện đại cùng hệ thống Internet v.v…Những thành tựu ấy đã tạo điều kiện để
từng bước hình thành một nền kinh tế mới: kinh tế tri thức (Knowledge
Economy). Đến đây thì sự phân hóa giữa phát triển và chậm phát triển càng gia
tăng. Tại diễn đàn kinh tế OECD năm 2001, Ban thư ký OECD đã có một báo
cáo, trong đó nói rằng, những quốc gia có chính sách phát triển kinh tế tri thức đã
tăng trưởng rất nhanh, còn những quốc gia khác đã tụt hậu ngày càng rõ rệt hơn.
Đầu thế kỷ XX, khoảng cách thu nhập bình quân giữa nước giàu nhất so với
nước nghèo nhất là 10 lần, thì đầu thế kỷ XXI, khoảng cách đó là 400 lần. Sự
không cập nhật tri thức mới trong quá trình lão hóa tri thức tăng tốc, nhất là sự
bất cập với công nghệ mới, công nghệ cao là yếu tố hàng đầu của sự phân hóa
phát triển - kém phát triển. Khoảng 30 năm lại đây, lượng kiến thức nhân loại thu
được về khoa học và công nghệ bằng tổng số kiến thức đó trong hai ngàn năm
trước đó. Theo dự báo, đến năm 2020, những tri thức khoa học sẽ tăng khoảng 4
lần so với năm 2000.
Để giải quyết bài toán phát triển, nhân loại phải tính đến yếu tố con người,
năng lực sáng tạo tri thức mới của nó và từ đó, phải tư duy lại về vấn đề giáo
dục. Trong bài viết “Giáo dục - một sự không tưởng cần thiết”, Jacques Delors,
nguyên Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ
XXI đã viết: “Đối mặt với nhiều thách thức mà tương lai sắp sẵn, nhân loại xem
giáo dục như một biện pháp cần thiết để nhằm thực hiện được những lý lưởng
hòa bình, tự do và công bằng xã hội v.v…Giáo dục có vai trò căn bản trong sự
phát triển cá nhân và xã hội. Giáo dục không phải là phương thuốc thần kỳ và
cũng không phải là một công thức kỳ diệu để mở cánh cửa đi vào một thế giới
trong đó mọi lý tưởng đều có thể thực hiện được, mà chỉ là một trong số các
phương tiện chính sẵn có thúc đẩy hình thái phát triển nhân loại sâu sắc hơn, hài
hòa hơn và do đó, làm giảm bớt tình trạng nghèo khổ, sự bài trừ, sự ngu dốt, sự
áp bức và chiến tranh”.
giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn v.v…, ai cũng có thể làm trò và ai cũng
có thể làm thầy để mỗi người được đi vào nhiều dạng khác nhau của tri thức, để
tiếp thu những tri thức mà nhân loại sáng tạo ra, và cũng là để tự mình góp phần
tạo ra những tri thức mới. Xã hội ấy - xã hội có nền giáo dục như vậy - được gọi
là xã hội học tập (Learning Society).
b. Bản chất của xã hội học tập:
Bản chất XHHT là một môi trường giáo dục, trong đó mọi người đều
được cung cấp cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linh hoạt,
Page 8
thích ứng điều kiện học của từng người, từng cơ quan, đơn vị một môi trường
trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác học hành và tích
cực tạo ra các cơ hội, điều kiện học hành cho xã hội sao cho cả xã hội trở thành
một trường học lớn, mỗi người dân là một học trò, nhu cầu học luôn được đáp
ứng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng với nhiều trình độ, nhiều
năng lực khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế
trong một thị trường lao động luôn biến động dưới sự tác động tiến bộ của khoa
học và công nghệ.
c. Nhiệm vụ của xã hội học tập:
Nhiệm vụ trọng tâm của XHHT là làm cho mọi người từ trẻ đến già đều
thấy cần phải học, và học suốt đời, xem học tập là một nhu cầu của cuộc sống,
như cơm ăn, áo mặc, tạo môi trường học tập đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập
ban đầu và học suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi và cả người cao
tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ, trong đó đặc biệt chú ý nhu cầu học tập của
người cao tuổi, người bị khuyết tật, người bị thiệt thòi về giáo dục và có thể học
ở mọi nơi (tại trường, tại nơi làm việc, tại nhà ), mọi lúc, học bằng nhiều cách:
trên lớp, học từ xa qua phát thanh, truyền hình, học trên máy tính, trên mạng in-
tơ-nét, hội nghị, hội thảo, trò chơi theo nguyên tắc tự học là chính.
d. Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT
Hệ thống giáo dục quốc dân trong xã hội học tập gồm hai tiểu hệ thống:
Hệ thống giáo dục ban đầu được tổ chức theo các cấp học, bậc học, từ thấp lên
Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đi đôi với đề cao năng lực
tự học của mỗi người. Ngày nay trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cách
mạng khoa học và công nghệ, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu
tức giáo dục từ nhà trẻ đến đại học và trên đại học lại có thể đủ cho cả đời người.
Vì vậy, phải tiếp tục học tập, học không bao giờ ngừng, phải thay đổi tư duy giáo
dục phù hợp với xu thế chung xem giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định tương
lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia.
Báo cáo của Uỷ ban quốc tế về phát triển giáo dục thế kỷ XX thuộc tổ
chức UNESCO nêu lên bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết; Học để làm; Học
để chung sống và Học để tồn tại.
e. Để xây dựng một xã hội học tập:
Trong XHHT, mỗi người đều có nhiều cơ hội học tập: Học tập ở nhà
trường, học tập trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Do đó, hệ thống giáo
dục không chỉ bó hẹp trong các loại hình nhà trường, mà còn trong các hình thức
học ngoài nhà trường. Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của
các ngành học, hình thức học, về những kênh liên thông giữa các loại hình khác
nhau.
Có thể nói, XHHT là một hiện tượng có tính qui luật của sự phát triển, là
vấn đề chung của thời đại. Song mỗi nước lại có chiến lược xây dựng XHHT của
riêng mình. Ở nước ta, theo quan điểm của tôi, khi xây dựng XHHT phải chú ý
đến mấy điểm sau:
Giai đoạn phát triển đầu tiên của XHHT phải gắn liền với mục tiêu
tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng
xã hội. Phát triển học tập là để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Để làm được điều đó thì phải dựa vào khoa học và công nghệ, dựa vào một nền
sản xuất bền vững.
Page 11
Bảo đảm sự tăng trưởng nhất thời đã là một việc khó, còn phải đảm bảo
tăng trưởng bền vững lại càng khó hơn. Đối với bài toán tăng trưởng, dữ kiện
quan trọng nhất là trí tuệ của dân tọc. Không ít quốc gia chủ trương khai thác
Tóm lại, để xây dựng và hình thành được một XHHT, phải tập trung thực
hiện 4 thay đổi lớn:
Thứ nhất: Phải chuyển từ nhà trường dạy kiến thức sang dạy tri thức. Tạo
điều kiện để học sinh chuyển từ học để hiểu được sang học để làm được, biến
Page 12
kiến thức thành tri thức của mình. Thay đổi tình trạng học sinh, sinh viên nước ta
hiện nay vẫn thiên về lý thuyết mà kém khả năng thực hành.
Thứ hai: Chuyển từ nền giáo dục chính quy, chỉ chú ý đến việc học của trẻ em
mà coi nhẹ việc học tập của người lớn sang nền giáo dục chăm lo việc học tập
cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi. Nền giáo dục đó bao gồm: hệ thống giáo dục
chính quy, không chính quy và phi chính quy. Nhà nước phải tạo điều kiện cho
người dân được đăng ký học phi chính quy, học tập ngoài nhà trường, học bất cứ
cái gì mà người dân cần.
Thứ ba: Chuyển từ nền giáo dục thuần túy chạy theo văn bằng như hiện nay
sang nền giáo dục coi trọng việc hình thành và phát triển nhân cách, không chạy
theo bằng cấp. Nếu không người học chỉ cần đạt đến mục tiêu có bằng cấp là
thôi, không còn động lực học tập để có tri thức, để làm việc.
Thứ tư: Chuyển từ khẩu hiệu "Giáo dục cho mọi người" sang khẩu hiệu "Cả
nước là một xã hội học tập". Nghĩa là chuyển từ cơ chế chỉ có nhà nước phải có
trách nhiệm tạo điều kiện học tập cho người dân sang cơ chế mọi người dân đều
phải có trách nhiệm học tập, học tập để khỏi bị thất nghiệp, bị xã hội đào thải, để
không bị lạc hậu và theo kịp các bước tiến của khoa học và công nghệ
2. Xã hội học tập là xu thế mới của nhân loại
Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội
dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học. Đây cũng là nội dung cốt lõi
của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng
trong bối cảnh thế giới đang có những đổi thay to lớn và nhanh chóng trước sự
phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cách
mạng thông tin.
Tư tưởng đó, nội dung đó được thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX của
đường trong suốt ba mươi năm xa Tổ quốc. Trong điều kiện không có sự đùm
bọc chăm sóc của gia đình, không có học bổng, không có cơ quan, tổ chức tài
trợ, luôn bị đế quốc săn lùng, ám hại, song Bác vẫn học được và tìm ra được con
đường cứu nước, con đường làm cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
* Hai sắc lệnh về sự học được ký cùng ngày
Bác Hồ đã học tập suốt đời nên càng thấm thía cảnh lầm than, thất học của
nhân dân các dân tộc thuộc địa. Khi còn hoạt động ở hải ngoại, năm 1919 Bác đã
gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu
là: "Tự học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở
khắp các tỉnh".
Khi trở thành vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Bác chỉ có ham muốn và ham
muốn tột bậc là nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Điều mong
muốn của Bác đã được thể hiện ở những chủ trương, quyết sách của Đảng và
Nhà nước ta, trong các lời dạy của Người.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã coi việc diệt
giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm. Bác đã nhận
Page 15
ra trên 90% số dân ta mù chữ, thất học, đó là một quốc nạn. Bác còn cảnh báo:
"Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Bác động viên khích lệ đồng bào: "Đi học
là yêu nước". Ngày 8/9/1945 Hồ Chủ tịch đã ký hai sắc lệnh về thanh toán nạn
mù chữ và thành lập Nha Bình dân học vụ. Đây là sắc lệnh đầu tiên về giáo dục
của Nhà nước non trẻ vừa giành được độc lập.
*Mối quan hệ kinh tế - giáo dục
Tiếp đó ngày 15/11/1945, Hội đồng Chính phủ đã quyết định mở lại
Trường Đại học Đông Dương và đổi tên thành Trường Đại học Quốc gia Việt
Nam, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt. Bác Hồ đã đến dự lễ khai giảng đại
học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai
trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945 của Bác có
Xây dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người
được học tập thường xuyên, liên tục và huy động mọi nguồn lực xã hội để phát
triển giáo dục. Phó Chủ tịch Thường trực UBND.TPHCM Nguyễn Thành Tài đã
chỉ đạo như trên tại cuộc họp Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập TP.
UBND.TP chủ trương thành lập các Trung tâm học tập ở các xã huyện
ngoại thành, phường ở vùng ven; các phường trong nội thành cần tham khảo mô
hình tổ chức Trung tâm học tập cộng đồng ở quận Tân Bình và 12 để xây dựng
mô hình phù hợp.
Việc thành lập Trung tâm học tập cộng đồng phải có kế hoạch, nội dung,
chương trình hoạt động cụ thể; phường cần phối hợp tổ chức và tạo mọi điều
kiện cho mọi người, mọi giới tham gia tích cực việc học; phổ biến kịp thời các
thông tin liên quan đến phát triển nghề nghiệp và kinh nghiệm sản xuất. Trung
tâm giáo dục cộng đồng phường - xã không nhất thiết phải có trụ sở riêng, nên sử
dụng có hiệu quả các cơ sở giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao tại địa phương
cho hoạt động của Trung tâm.
Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2006 - 2010 của TP cần đánh giá
thực trạng học tập của người dân TP; so sánh kết quả thực hiện với các mục tiêu,
nhiệm vụ mà Đề án xây dựng xã hội học tập của Chính phủ để xây dựng các chỉ
tiêu phù hợp. Đề án cần xác định rõ lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2007 -
2010; trong đó chú trọng xây dựng giải pháp về tổ chức bộ máy, cơ chế vận
hành, nội dung hoạt động và nhân rộng các mô hình thích hợp đã triển khai.
Giám đốc các sở - ngành, Thủ trưởng các cơ quan đơn vị, Chủ tịch UBND
quận - huyện, phường - xã, thị trấn phải đề ra kế hoạch học tập nâng cao trình độ
chuyên môn cho cán bộ công chức, có kế hoạch triển khai chương trình xây dựng
xã hội học tập tại địa phương từ nay đến cuối năm 2010
Page 17
* Một phong trào quần chúng sâu rộng
Cùng với việc khẳng định giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc
sách hàng đầu, trên cơ sở thắng lợi ban đầu của công cuộc đổi mới, Đảng ta chủ
trương thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm chuyển nền kinh
khuyến học", một mô hình độc đáo Việt Nam.
Để được công nhận là "Gia đình hiếu học" phải đạt 3 tiêu chí:
o Có con em đến tuổi đi học phải được đi học, động viên con em học khá
trở lên, giáo dục con em không phạm tiêu cực xã hội.
o Các thành viên gia đình phải tham gia một hình thức học tập.
o Gia đình phải tích cực tham gia phong trào khuyến học.
Để đạt danh hiệu "Dòng họ khuyến học" phải có ít nhất 50% tổng số gia
đình trong họ là "Gia đình hiếu học".
Mô hình này vừa góp phần tạo môi trường giáo dục lành mạnh trong nhà
trường, khắc phục tình trạng lưu ban, bỏ học, ngăn ngừa tiêu cực xã hội xâm
nhập vào nhà trường, vừa động viên người lớn thi đua học tập. Đến nay trong cả
nước đã có trên 5 triệu gia đình đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu "Gia đình hiếu
học" và đã có hơn 3 triệu gia đình được công nhận và cấp bằng và đã có hơn 5
vạn dòng họ được công nhận là "Dòng họ khuyến học".
Để tạo cơ sở học tập thường xuyên cho người lớn nhất là nông dân ở nông
thôn và người lao động ở thành thị, Hội đã phối hợp với ngành Giáo dục & Đào
tạo xây dựng được hơn 9.000 trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn.
Thời gian qua, các trung tâm học tập cộng đồng phối hợp với các tổ chức
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công… tổ chức được hàng chục
vạn lớp học với hàng triệu người tham gia tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ vào sản suất.
Hội cũng đã thành lập 60 đơn vị trực thuộc. Trong thời gian qua các đơn
vị này đã góp phần đào tạo nghề cho hơn 2 vạn người, đào tạo hơn 13 nghìn
người đạt trình độ trung cấp và sơ cấp chuyên nghiệp, 600 thạc sĩ và cử nhân
quản trị kinh doanh qua đường du học tại chỗ, hướng dẫn cho hơn 6000 người đi
du học nước ngoài… Một số đơn vị trực thuộc đã mở các lớp học dành cho trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em khuyết tật, trẻ mồ côi, cơ nhỡ…
Page 19
Bên cạnh đó nhiều cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang đã tổ
chức các cơ sở học tập thường xuyên để nâng cao trình độ cho cán bộ, nhân viên.
tài, sớm xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, theo đúng tinh thần Chỉ
thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác
Page 20
định: "Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu
cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta" và Chỉ thị
02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt
nhà nước Chỉ thị 11 của Bộ Chính trị nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước vào cuộc sống, quyết tâm thực hiện mong muốn của Bác Hồ: "dân tộc ta
phải là một dân tộc thông thái".
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập:
Sau 5 năm thực hiện (2005 – 2010), Đề án xây dựng xã hội học tập, nhiều
khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện đã dần bộc lộ và cần được
nhìn nhận một cách nghiêm túc, từ cách tiếp cận để xác định mục tiêu, đề xuất
nhiệm vụ, giải pháp đến tổ chức thực hiện.
Cụ thể, nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể và người
dân ở một số địa phương về mục đích, ý nghĩa, tác dụng và ích lợi của việc xây
dựng xã hội học tập còn hạn chế, công tác tuyên truyền chưa được quan tâm. Vai
trò, trách nhiệm của các bộ, ngành, các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện
Đề án còn thiếu chặt chẽ. Năng lực và hiệu quả hoạt động của các trung tâm giáo
dục thường xuyên, học tập cộng đồng thấp do đầu tư các điều kiện cần thiết để
triển khai Đề án chưa thỏa đáng, chưa đáp ứng được yêu cầu để thực hiện các
mục tiêu xây dựng xã hội học tập.
Đội ngũ cán bộ đầu mối về xây dựng xã hội học tập của các bộ, ngành còn
thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu phối hợp hoạt động trong quá trình triển
khai thực hiện Đề án. Công tác đào tạo từ xa còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa
tạo được niềm tin và động lực thúc đẩy học tập với người học. Hệ thống thông
tin hỗ trợ và cung ứng tư liệu, học tập, tài liệu tham khảo cho học tập, nghiên cứu
chưa được quan tâm thích đáng.
Tại Nhật Bản, với dân số 120 triệu người, mỗi năm có 240 triệu lượt người tham
Mô hình xã hội học tập đã mang đến cho chúng ta những chuyển biến tích
cực từ nhiều mặt:
Page 22
+ Kinh tế: với sự góp mặt của đông đảo ngày một nhiều của những thành phần trí
thức, làm tăng đáng kể mặt bằng năng lực và trình độ chuyên môn tạo điều kiện
cho hội nhập, phát triển.
+ Xã hội: giáo dục phát triển tạo sự hiểu biết cho người dân, an ninh đô thị, trật
tự xã hội được giữ vững.
+ Chính trị: đào tạo nguồn cán bộ, viên chức có năng lực vụ đất nước.
+ Giáo dục: phát triển vượt bậc.
+ Khoa học – kỹ thuật: ngày càng được nâng cao và không ngừng phát triển.
Cụ thể là ở nước ta, trong 5 năm triển khai đề án xây dựng xã hội học tập
(XHHT), cả nước đã huy động được 383.651 người theo học xóa mù chữ và giáo
dục tiếp tục sau khi biết chữ. Theo số liệu về điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ
người biết chữ: ở độ tuổi 15-25 đạt 97,2%; ở độ tuổi 26-35 đạt 96,2%; ở độ tuổi
từ 15 trở lên đạt 94,0%; ở độ tuổi từ 36 tuổi trở lên là 91,7%. Số trẻ có hoàn cảnh
khó khăn ở ngoài nhà trường độ tuổi từ 6-10, đã đi học trở lại đạt tỉ lệ 33,15%; số
trẻ có hoàn cảnh khó khăn ở ngoài nhà trường độ tuổi từ 11-14 đã đi học trở lại
đạt tỷ lệ 34,19%. Tỉ trọng biết chữ giữa nam và nữ ở độ tuổi từ 15-35 là 1,01; ở
độ tuổi từ 15 trở lên là 1,04;
Theo báo cáo của Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển,
qua 5 năm triển khai đề án xây dựng xã hội học tập, cả nước đã huy động được
hơn 383.000 người theo học xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ.
Tính đến năm 2010 đã huy động được khoảng gần 12.000 trẻ em ở độ tuổi 6-10
có hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở trường phổ thông được theo học
chương trình phổ cập. Tổ chức bồi dưỡng cập nhật kiến thức quản lý, pháp luật,
kinh tế và xã hội nhằm nâng cao khả năng công tác cho gần 400.000 cán bộ cấp
xã, huyện
2. Bài học của nó đối với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trường Kiến
trúc hiện nay:
để chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng
nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để
Page 24
thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay đặt
những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.
Chu trình tự học của sinh viên:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới
(chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính
chất cá nhân.
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng
lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự
thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính
chất xã hội của cộng đồng lớp học.
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự
hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra,
tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm
khoa học.
Chu trình tự nghiên cứu
→
tự thể hiện
→
tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực
chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết
vấn đề của nghiên cứu khoa học.
2. Thường xuyên cập nhật
Kiến thức là vô hạn và không ngừng biến đổi theo sự phát triển của xã hội, chính
vì thế mỗi chúng ta phải không ngừng học hỏi cái mới, cái tiến bộ.
Những gì chúng ta biết ngày hôm nay sẽ lỗi thời vào ngày hôm sau. Nếu chúng
ta ngừng học thì chúng ta sẽ ngừng phát triển