Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN:
Nhóm thực hiện: nhóm 15
Lớp :B211200510
Khóa: 2007-2011
Giảng viên hướng dẫn:Trần Đình Tâm
TPHCM, ngày 06 tháng 10 năm 2008
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN:
DANH SÁCH NHÓM:
Nhóm
thực hiện:
nhóm 15
Lớp
:B211200510
Khóa: 2007-2011
Giảng viên hướng dẫn:
Nhóm thực hiện: nhóm 15
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
STT HỌ VÀ TÊN MSSV ĐIỂM
1 LÊ DUY 0770247
2 NGUYỄN VIẾT TRỌNG
nước gắn liền với ý thức cộng đồng , đoàn kết dân tộc thực sự đã trở thành
truyền thống của nước ta từ bao đời nay. Thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết
dân tộc của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản do chính Người sáng lập trong
hơn 75 năm đã qua cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng: Trong một quốc
gia dân tộc, bao giờ cũng có các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tộc người, các
tôn giáo khác nhau, song bao giờ cũng có lợi ích chung và cao cả của cả dân
tộc. Dân tộc Việt Nam dù có nhiều giai cấp xã hội, tộc người và tôn giáo khác
nhau, song người Việt Nam đều là con Rồng, cháu Lạc có lịch sử hình thành
dân tộc lâu đời, có một cội nguồn văn hóa chung, có chủ nghĩa dân tộc truyền
thống vững bền, có lợi ích cao cả là độc lập, tự do. Tất cả cùng nêu ca khẩu
hiệu “đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công”
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
3
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
LỜI CẢM ƠN
Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trần Đình Tâm , các thầy
cô khoa Mác –Lênin , cùng các nguồn tài liệu trên báo đài báo , internet, thư
viện trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM… Đã giúp chúng tôi thực hiện
thành công đề tài này và một điều không thể tránh khỏi là trong quá trình trình
bày chúng tôi sẽ mắc những sai lầm về nội dung cũng như cách trình bày kính
mong thầy cũng như độc giả góp ý kiến để chúng tôi hoàn thiện dề tài hơn. Xin
cảm ơn
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
4
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
Phần mở đầu
1.Đặt vấn đề:
a. Tên đề tài: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN
TỘC
b. Lý do chọn đề tài: đoàn kết dân tộc là một truyền thống đã có từ lâu đời
1. Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân
tộc Việt Nam.
- Việt Nam là một quốc gia dân
tộc đã hình thành sớm trong quá trình
dựng nước và giữ nước. Nhân dân Việt
Nam có ý thức sâu bền về quyền tự chủ
quốc gia dân tộc. Quá trình dựng nước
và giữ nước đã tạo dựng và phát triển
cho dân tộc Việt Nam một nền văn hóa
tư tưởng rực rỡ, trong đó chủ nghĩa dân
tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do là
truyền thống của lịch sử. Đó là nền tảng
văn hóa tư tưởng của sự hội tụ và đoàn
kết dân tộc, là động lực vĩ đại và duy nhất của nhân dân Việt Nam trong lịch sử
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Độc lập, tự do và tư tưởng cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh là chìa
khóa để mở đường hội tụ thắng lợi của chiến lược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Để thực hiện chiến lược
đại đoàn kết dân tộc, trước hết phải có cương lĩnh đúng đắn phù hợp với thực
tiễn của đất nước qua các thời kỳ cách mạng khác nhau. Ngay từ ngày đầu mới
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã soạn thảo Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng, được hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930
thông qua, trong đó đã nêu cao khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, Việt Nam tự do
và chính sách đoàn kết dân tộc rộng rãi, uyển chuyển.
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
6
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
- Năm 1951, Hồ Chí Minh thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân
tộc nhân buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam: "Mục đích của Đảng Lao động
Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc".
nhân dân ta. Đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi. Người
cho rằng: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, nhân dân là gốc .
Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Và
“Đại đoàn kết là một lực luợng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã
thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu
tranh chính trị của chúng ta nhất đánh thắng lợi, nước nhà nhất định thống
nhất”. Chính vì thế, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
(VNDCCH) ra đời, dù bận “trăm công, nghìn việc”, vừa phải lo chống giặc đói,
giặc dốt, lại phải lo thắng giặc ngoại xâm, Người rất quan tâm tới các tổ chức
đoàn thể xã hội, các tổ chức tôn giáo. Ngày 3/9/1945, tức chỉ một ngày sau khi
tuyên bố độc lập, Người đã có chương trình kế hoạch tiếp các tổ chức đoàn thể
(như các báo Việt, Trưng, văn hóa giơi, công giới, thương giới, Công giáo,
Phật giáo, nông hội, nhi đồng, thanh niên ). Cũng trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ lân thời (bàn về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước
VNDCCH), Hồ Chí Minh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách phải làm, trong đó
Người nhấn mạnh vấn đề thứ 6 là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính
sách chia rẽ đồng bào Giáo (Thiên chúa giáo) và đồng bào Lương (Phật giáo),
để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương
Giáo đoàn kết”.
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin coi cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng:
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
8
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
-Tư tưởng “Không có gì quý
hơn độc lập tự do” là điểm xuất phát
của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ánh
sáng Luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa của Lênin và tấm
gương cách mạng Tháng Mười Nga,
hợp quần chúng nhân dân bài học quí giá nhất bác rút ra là bác coi nhân dân là
một lực lượng đông đảo làm gốc, bác hiểu được tâm quan trọng của việc đoàn
kết nhân dân lại với nhau là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc chiến đấu
với kẻ thù.
-Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc khi nghiên cứu phong trào giải
phóng dân tộc Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến hai nước là Trung Quốc, Ấn Độ
vì sự lớn mạnh ở hai nước này có thể đem lại cho nước ta những bài học hết
sức bổ ích về việc tập hợp các lực lượng quần chúng công nhân , nông dân
thành một thể thống nhất để tiến hành cách mạng và những bài học từ cách
mạng tháng 10 Nga cũng là những kinh nghiệm quí giá mà Hồ Chí Minh đã rút
ra được về tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
I . Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc:
1. Đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược đảm bảo thành công của
cách mạng:
- Cốt lõi của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trước hết là đoàn kết vì
đại nghĩa, đoàn kết trong Đảng để đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Trên
cơ sở đó Người kêu gọi mọi người càng đoàn kết nhau lại thành một khối để
chống lại kẻ thù chung. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: '' đoàn kết lại, biết
rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hiệp lực đánh đuổi thực
dân ''.
-Đấu tranh nhằm xóa bỏ nỗi nhục mất nước cũng như nỗi nhục nghèo nàn
và lạc hậu ở một nước như Việt Nam, Hồ Chí Minh hiểu cần phải thức tỉnh
lương tri của tất cả mọi người, tất cả các tôn giáo trên cơ sở đại đoàn kết, tập
hợp họ thành một khối thống nhất để dựng nước và giữ nước. Người mong
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
10
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
muốn nhân dân của Người dù có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, dù
thuộc các tôn giáo khác nhau, đều trước hết thấy mình là con Rồng, cháu Lạc,
phải có trách nhiệm với cộng đồng, với những người đã khuất, với tổ tiên.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
phái, mọi tôn giáo, dân tộc để bao vây, cô lập kẻ thù, phá tan chính sách của
chúng, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Người luôn nhắc nhở:
“ đối với các đoàn thể khác cùng dân chúng, chỉ có một chính sách là đại
đoàn kết”. Thậm chí, trước lúc đi xa, trong di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn
căn dặn: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ
nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn
kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân
dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết
nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
Rõ ràng là, tư tưởng về đoàn kết của Hồ Chí Minh một khi trở thành chiến lược
của cách mạng Việt Nam đã tạo nên một sức mạnh vô địch để dân tộc ta
“nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vuợt qua, kẻ thù nào cũng
đánh thắng”. Đó là sức mạnh của đoàn kết toàn dân kết hợp với sức mạnh thời
đại để đưa dân tộc tiến tới “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vì thế, có thể khẳng
định rằng tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận dân tộc thống
nhất rộng rãi là một thành công lớn của Hồ Chí Minh. Người đã tập hợp được
những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ được sức mạnh của
toàn dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng
được tình đoàn kết quốc tế. Đó là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh,
biến khẩu hiệu nổi tiếng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành
công, đại thành công” thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần, trí tuệ, thành
sức mạnh vật chất cực kỳ to lớn đánh thắng những thế lực thù địch hung bạo,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết mãi là một lực lượng to lớn của dân tộc
Việt Nam.
2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của cuộc cách
mạng:
- Giữa lúc cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối,
Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) là người Việt Nam yêu nước đầu tiên
trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân. Người đòi hỏi Đảng
ta một mặt phải ra sức nâng cao trí tuệ cho ngang tầm nhiệm vụ lịch sử, mặt
khác phải trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ
máu thịt với nhân dân. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
13
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước. “Đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” . Luận điểm nổi
tiếng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược
xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ
Chí Minh cùng với đạo đức và nhân cách vô cùng cao thượng và trong sáng
của Người đã quy tụ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh vì thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, lâu
dài, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cũng như trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh mãi mãi là một sức
mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Điều kiện tiên quyết là toàn dân phải đoàn kết vì "kết đoàn là sức mạnh", là
truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước
và giữ nước.
- Kế thừa và phát huy truyền thống đó, ngay từ khi mới ra đời, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã luôn luôn coi trọng củng cố và mở rộng khối đại đoàn
kết toàn dân, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế, sức
mạnh truyền thống với sức mạnh thời đại, lãnh đạo nhân dân Việt Nam liên
tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh vì độc lập của Tổ
quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết thành
chân lý:
"Đoàn kết - đoàn kết - đại đoàn kết
Thành công - thành công - đại thành công".
- Bác Hồ tin tưởng vững chắc vào khả năng và phẩm giá tốt đẹp của con
người. Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng kiệt xuất của các anh hùng, hào kiệt của
dân tộc như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi… về sức mạnh của nhân dân:
"Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ"; "đẩy thuyền cũng là dân, mà lật
thuyền cũng là dân". Người còn kế thừa tư tưởng nhân văn "lấy dân làm gốc"
và chủ nghĩa nhân đạo hiện thực của học thuyết Mác để hình thành tư tưởng
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
15
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
nhân văn mới, tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của
quần chúng nhân dân và lòng tôn trọng, kính trọng nhân dân lao động. Trong
quá trình đấu tranh, Người đã làm cho nhân dân thế giới nhận thức rõ vấn đề
thuộc địa, đoàn kết giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc là giúp đỡ cho chính
mình. Người nhận thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp
cách mạng, "người là gốc của làng nước", "nước lấy dân làm gốc", "gốc có
vững cây mới bền", "xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"
Người còn nói rằng: "Dân như nước, mình như cá", "lực lượng nhiều là ở dân
hết". "Công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân". Do đó, Người yêu cầu "Đem
tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân". Ngày nay, nội dung trên càng có ý
nghĩa lớn lao, bởi nếu chúng ta biết tiến cử nhân tài, dùng nhân tài đúng lúc,
đúng chỗ, mạnh dạn cất nhắc nhân tài trong mọi lĩnh vực thì sẽ càng làm lợi
cho dân. chăm lo bồi dưỡng, sử dụng, phát động sức mạnh của con người, của
nhân dân. Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thương dân bị nô lệ, Hồ Chí
Minh đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Suốt cuộc đời của người là vì dân, vì
nước.
4. Đại đoàn kêt dân tộc phải biến sức mạnh vật chất,có tổ chức là Mặt trận
dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
"Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước được độc lập, tự do,
nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban
những người yêu nước trong tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc và các nhân sĩ yêu
nước ngày càng tham gia đông đảo vào phong trào giải phóng dân tộc theo
đường lối của Đảng.
Đánh giá về giai cấp công nhân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, chỉ có
giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương
đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
Bác Hồ thăm trường
mẫu giáo Mầm non
tỉnh Thanh Hóa, ngày
10/12/1961.
17
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người
lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam.
Chiếm hơn 95% số dân, nông dân nước ta là một lực lượng cách mạng to lớn,
sớm có ý thức dân tộc và dân chủ. Nông dân Việt Nam chưa từng đi theo giai
cấp tư sản không phải vì giai cấp tư sản Việt Nam ra đời sau giai cấp công
nhân, mà vì giai cấp tư sản Việt Nam yếu về kinh tế, bạc nhược về chính trị,
không thể đáp ứng được yêu cầu của nông dân và của dân tộc.
Nông dân Việt Nam có tinh thần cách mạng, nhưng họ không thể là lực lượng
lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ vì họ không gắn liền với một phương thức
sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập. Họ cũng không có khả nǎng xây
dựng một chế độ xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người Cộng sản
Việt Nam thấu hiểu điều mong muốn thiết tha nhất của nông dân. Từ khi thành
lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương "lãnh đạo dân cày nghèo làm thổ
địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến". Đường lối cách mạng
dân tộc dân chủ đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho
phong trào nông dân từng bước xích lại gần với phong trào công nhân.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng còn chỉ rõ mục tiêu, nội dung và đối
chí hội, tổ chức tiền thân của Đảng, thì những trí thức yêu nước đã từng bước
chịu ảnh hưởng tư tưởng cứu nước của Người và chuyển dần từ lập trường
cách mạng dân tộc dân chủ kiểu cũ sang lập trường cách mạng dân tộc dân chủ
kiểu mới của giai cấp công nhân.
Đảng luôn luôn coi trọng việc giác ngộ, tập hợp những trí thức cách mạng vào
hàng ngũ của mình và các đoàn thể cách mạng khác, làm cho họ trở thành một
"động lực" cách mạng quan trọng.
- Đảng luôn luôn uốn nắn những quan điểm tư tưởng lệch lạc mang tính
chất tiểu tư sản, biểu hiện ở một số chủ trương như: thanh đảng, thanh hội của
xứ uỷ Trung Kỳ (20-5-1931) hay "trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ",
vận dụng rập khuôn kinh nghiệm cách mạng ruộng đất của Trung Quốc vào
điều kiện nước ta , đồng thời Đảng đấu tranh chống những xu hướng đánh giá
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
19
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Mác -Lênin
thấp lực lượng nông dân (bạn đồng minh chủ yếu và đáng tin cậy nhất của giai
cấp công nhân). Đảng còn phê phán quan điểm của một số trí thức trong Đảng
dân chủ đòi chia quyền lãnh đạo cách mạng và quan điểm tư tưởng sai trái của
nhóm "Nhân vǎn giai phẩm" trong những nǎm 1957-1959, v.v Dưới sự lãnh
đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tầng lớp trí thức đã
cùng với giai cấp công nhân, nông dân và cả dân tộc lập nhiều chiến công trong
sự nghiệp giành và giữ chính quyền cũng như trong kháng chiến và kiến quốc.
Trong thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm đánh giá và phát
huy đúng mức khả nǎng cách mạng của tầng lớp trí thức; đặt vị trí quan trọng
của trí thức trong sự nghiệp cách mạng. Nhưng về mặt lý luận, Đảng ta chưa
vượt khỏi khuôn khổ các vǎn kiện của Quốc tế cộng sản, nhất là Nghị quyết
Đại hội VI Quốc tế cộng sản (9-1928). Đại hội Đảng lần thứ II (2-1951) đã
khẳng định trí thức "là một trong những động lực đáng kể của cách mạng. Họ
là bạn đồng minh tin cậy được của giai cấp công nhân".
Do đó:cần phải liên minh được công-nông-lao động trí óc như vậy mới kết
1 . Truyền thống yêu nước nhân ái , tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc
Việt Nam 4
2 . Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng 6
3 . Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh và thất bại của các phong trào cách mạng
Việt Nam và thế giới 7
II .Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1 . Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược , bảo đảm thành công của cách mạng
8
2 . Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu , nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
10
3 . Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
13
4 . Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất , có tổ chức là mặt trận dân
tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của đảng 14
Đại Học Công Nghiêp Thành Phố Hồ Chí Minh
22