1
SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi
mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực
tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư
duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của
Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý
nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách
lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi lên CNXH, thực hiện mục tiêu lý tưởng của
CNXH ở Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nhận định: “trong nhận thức của chúng ta về
chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu”(1). Vì vậy, Đảng ta chủ trương đổi mới
tư duy lý luận trước hết phải bắt đầu từ nhận thức từ chủ nghĩa Mác - Lênin, về
CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Chính vì nhận thức của chúng ta về
những vấn đề lý luận nền tảng đó còn nhiều bất cập, không chỉ lạc hậu với cuộc sống
mà còn hiểu sai, dẫn đến giải thích sai và vận dụng không đúng những nguyên lý cơ
bản ấy vào thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do đó đổi mới tư duy lý
luận về chủ nghĩa Mác - Lênin là xây dựng cở lý luận về con đường đi lên CNXH ở
nước ta, trang bị vũ khí lý luận và tư tưởng cho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.
1. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam về con
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới.
1.1. Tính tất yếu phát triển tư duy lý luận của Đảng về con đường quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. tr.125
3
- Bài học kinh nghiệm của nước ta rút ra được từ sự sụp đổ của các nước
Đông Âu và Liên Xô là những bài học kinh nghiệm xương máu, bổ ích cho việc
xây dựng đất nước và đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội.
Về những khó khăn: Việt Nam với 30 năm liên tục tiến hành chiến tranh
giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc đã để lại hậu qủa tàn dư chiến tranh rất
nặng nề. Xu thế toàn cầu hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế thế giới vừa tạo
thuận lợi cũng vừa là thách thức lớn cho hội nhập, cạnh tranh để tồn tại và phát
triển trong khi nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu chậm
phát triển so thế giới và khu vực. Là một nước vừa thoát khỏi chiến tranh thống
nhất hai miền Nam, Bắc lại tiếp tục đương đầu hai cuộc chiến tranh biên giới
phía Nam và phía Bắc đã hạn chế nguồn tài lực, vật lực cho qúa trình xây dựng
cả nước đi lên CNXH. Từ những đặc điểm lịch sử nêu trên đã đặt ra cho nước ta
những yêu cầu mới là:
- Tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.
- Giải quyết những hậu qủa nặng nề của chiến tranh, khôi phục kinh tế,
từng bước ổn định đời sống nhân dân.
- Đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân quyết tâm
xây dựng thành công CNXH. Đi lên CNXH trong điều kiện quốc tế có những
thận lợi và khó khăn mới; do vậy, con đường đi như thế nào là phù hợp với Việt
Nam là một nhiệm vụ phải tập trung giải quyết hàng đầu của Đảng ta.
Với trách nhiệm là đại biểu tiên phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của dân tộc; Đảng ta đảm đương sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân
dân Việt Nam giải quyết kịp thời những yêu cầu thực tiễn của cách mạng nước
ta trong thời kì mới.
4
thuật hiện đại). Những nước thuộc các kiểu quá độ bỏ qua, đương nhiên phải có
Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, có đường lối xây dựng và bảo
vệ đất nước theo mục tiêu XHCN, tận dụng những thành quả của cách mạng XHCN,
của chủ nghĩa tư bản và của cả nhân loại để quá độ lên CNXH. Theo Lênin ở các
nước này cần khắc phục những biểu hiện của tính tiểu tư sản, tiểu nông trong Đảng
Cộng sản, trong quần chúng; chống mọi kẻ thù phá hoại,… để từng bước quá độ lên
CNXH phải trải qua rất nhiều “những bước quá độ nhỏ” , những hình thức trung
gian quá độ “đan xen giữa các thành phần và các mảnh của chủ nghĩa tư bản lẫn
CNXH,… Do đó, “các nước quá độ bỏ qua” dù là quá độ rút ngắn thì cũng không
thể nóng vội đốt cháy giai đoạn mà phải vận dụng đúng những quy luật khách quan,
những tiên đề và những điều kiện cụ thể để giành thắng lợi từng bước, trên tất cả các
lĩnh vực của xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những luận giải cực kỳ phong phú về CNXH ở
Việt Nam. Người đã đặt tiền đề lý luận quan trọng cho sự nghiệp đổi mới hiện nay
của nhân dân ta. Người diễn đạt một cách giản dị, ngắn gọn và dễ hiểu rằng chủ
nghĩa xã hội là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng
tốt”(2). Chủ nghĩa xã hội là “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” (3).
“Chủ nghĩa xã hội là làm cho người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến
bộ”(4)“Chủ nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu
chúng ta ngày càng sung sướng”, “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân
dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm
no và sống một đời hạnh phúc”. Còn nhiều luận điểm quan trọng khác ở tầm phương
pháp luận đã đặt cơ sở lý luận cho Đảng ta tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sự
nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
* Thực trạng của đất nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2
3
4
Những khuyết điểm trong lĩnh vực tư tưởng chính là sự lạc hậu về tư duy, sự
bất cập về nhận thức, và đó là lý do phải đặt ra yêu cầu về đổi mới tư duy. Đổi mới
tư duy thực chất là xây dựng cơ sở lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và
5
Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.27
7
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, là trang bị vũ khí lý luận và tư tưởng
cho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta
Thực trạng nước ta từ cuối những năm 1970 đã bước vào một cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, đó là thách thức lớn nhất đối với cả dân
tộc ta và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất đòi hỏi Đảng ta phải nhận thức, đổi
mới tư duy lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Mặt khác, từ cuối những năm 1970 - đầu những năm 1980, xu thế đổi mới,
cải cách đã diễn ra khá mạnh mẽ trên thế giới. Đó cũng là nhân tố tác động đến quá
trình đổi mới tư duy lý luận ở nước ta và đòi hỏi chúng ta phải đổi mới kịp thời.
Những nhân tố tác động ấy là: Tình hình đổi mới, cải cách, cải tổ của các nước xã
hội chủ nghĩa trên thế giới; Vào thời gian đó, cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu kỳ diệu trong mọi lĩnh
vực. Yêu cầu nhận thức lại để trên cơ sở đó bảo vệ và phát triển CNXHKH, chủ
nghĩa Mác - Lênin trở thành một yêu cầu cấp bách của cuộc sống.
1.2. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta trước thời kỳ đổi mới ( trước 1986 ).
Trước đổi mới, quan điểm về CNXH và con đường xây dựng CNXH ở nước
ta, chịu ảnh hưởng sâu sắc về nhiều mặt các quan điểm của Liên Xô, Trung Quốc,
phổ biến và rõ nét nhất là chịu ảnh hưởng của mô hình Xôviết. Đây cũng là tình hình
chung trong tất cả các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa.
trong quan hệ với tính phổ biến của CNXH hiện thực thế giới. Quá độ lên CNXH với
điểm xuất phát thấp, từ xã hội nông nghiệp truyền thống, từ chế độ thực dân nửa
phong kiến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tới CNXH; bước quá độ tới CNXH lại
không đồng nhất ở mỗi miền do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền với chế
độ chính trị khác nhau.
Thứ hai, sau giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, vào lúc mà Việt
Nam có điều kiện triển khai các nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước
6
Lê Mậu Hãn (chủ biên) (1998), ĐCSVN - các đại hội và hội nghị Trung ương, Nxb CTQG, Hà Nội. tr.63
9
thì lại liên tiếp xảy ra hai cuộc chiến tranh cục bộ ở hai đầu biên giới ( Tây Nam 1978, phía Bắc - 1979 ) trong khi hậu quả chiến tranh chưa được khắc phục.
Trong khoảng 10 năm đầu trước đổi mới ( 1975 – 1985 ), Việt Nam đứng
trước những tác động phức tạp của tình hình quốc tế.
- Quan hệ Việt Nam – Campuchia và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc căng
thẳng kéo dài.
- Mỹ phát động chiến lược bao vây cấm vận nhằm cô lập Việt Nam, đẩy tình
hình kinh tế – xã hội nước ta vốn khó khăn tới những khó khăn lớn hơn, gay gắt hơn.
- Các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả Liên Xô đang trong thời kỳ trì trệ và
khủng khoảng, sự giúp đỡ và chi viện cho Việt Nam không còn như trước.
- Các nước tư bản chủ nghĩa tranh thủ thành tựu của khoa học - công nghệ,
đẩy nhanh tốc độ phát triển, có ưu thế về tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học - công
nghệ, tạo nên những thách thức đối với chủ nghĩa xã hội.
Vào lúc này, thực tiễn đã hối thúc mạnh mẽ những cải cách, đổi mới CNXH.
Trong khi ở Việt Nam vẫn bị những cản trở của mô hình, cơ chế đã tồn tại từ lâu kìm
hãm. Những biểu hiện chủ quan, duy ý chí, coi thường quy luật khách quan đã tác
động tiêu cực và ảnh hưởng nặng nề vào các quyết định đường lối, chính sách. Sự
sắc.
Đại hội VI (12/1986 ) đặt cơ sở cho sự hình thành lý luận đổi mới mà còn xây
dựng nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta thông qua đổi mới
như một cuộc cách mạng lâu dài, toàn diện và triệt để, có kế thừa và có phát triển. Đổi
mới không chỉ là quan điểm mà còn là vấn đề phương pháp, không chỉ là động
cơ mà còn là trình độ, không chỉ là ý thức mà còn là bản lĩnh. Bước vào đổi mới,
Đảng ta nhấn mạnh trước hết phải đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Đây là tiền
đề nhận thức để đổi mới trong thực tiễn, từ đổi mới tổ chức đến cơ chế, chính sách,
đến con người.
Đại hội VII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 5 năm đầu đổi mới từ Đại hội VI thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991). Lần đầu tiên
đã đề cập một cách có hệ thống dưới hình thức luận đề, xác định 6 đặc trưng của chủ
11
nghĩa xã hội. “Đó là xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản
xuất chủ yếu; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải
phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc
trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”(7).
Sáu đặc trưng đó chính là những dấu hiệu (đặc điểm, tiêu chí) nhận biết bản
chất - mục tiêu - động lực của CNXH ở Việt Nam do Đảng nêu ra, xuất phát từ thực
tiễn đổi mới. Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH cũng như toàn bộ
tiến trình xây dựng CNXH ở nước ta là từng bước đạt đến cái bản chất và mục tiêu ấy
của CNXH.
Đại hội VIII, IX, X, XI tiếp tục bổ sung quan niệm về CNXH và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Như vậy, quan hệ giữa bản chất, mục tiêu và động lực của
toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và
giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp
tác với nhân dân các nước trên thế giới”(9).
Đại hội XI của Đảng đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011) đã điều chỉnh, chuẩn hóa
một số nội dung và cô đọng hóa một số đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta
xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân
dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;
các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau
cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên
thế giới”(10).
Những nội dung tổng quát về xã hội XHCN được bổ sung, phát triển qua
các kỳ đại hội của Đảng, đặc biệt là Đại hội X và Đại hội XI cho thấy, lý luận về
9
Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr. 68
10
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 70
14
Thứ ba, bản chất kinh tế của chủ nghĩa xã hội là “Có nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”.
Đại hội IX đã chỉ rõ đó là kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nó chứng
minh cho đột phá lý luận kinh tế của Đảng ta về mô hình kinh tế. Đây là mô hình
kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta. Đảng ta đã tập trung phát triển
nền kinh tế thị trường định XHCN, mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó, nhằm
xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại để có một nền kinh tế phát triển cao - điều
kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững xã hội XHCN.
Chú trọng tới tiêu chí “nền kinh tế phát triển cao” đã trở thành định hướng để
dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đi vào kinh tế hàng hóa, phát
triển sản xuất hàng hóa, áp dụng cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh, phân hóa,
vượt trội để tạo động lực phát triển, thể hiện thái độ tôn trọng quy luật khách quan
trong phát triển mà quy luật lớn nhất, phổ biến nhất là quy luật là sự phù hợp về quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Thứ tư, bản chất - mục tiêu - động lực của CNXH thể hiện qua đặc trưng xã
hội chủ nghĩa mà Đảng đã nêu lên trong cương lĩnh là chỉnh thể văn hóa – xã hội
nhằm vào mục đích phục vụ cuộc sống nhân dân “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc”.
Thực chất sâu xa của xây dựng văn hóa là xây dựng con người, đạo đức, lối
sống. Văn hóa đổi mới và đổi mới là một sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.
Văn hóa là tinh hoa con người và dân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại; bởi vậy, nó là
sức mạnh con người và dân tộc, sức mạnh xã hội và thời đại. Mỗi nền văn hóa phải
kết tinh tinh hoa và sức mạnh thời đại để tiến tới đỉnh cao thời đại, đồng thời phải
chuyển hóa chúng thành các giá trị của dân tộc, làm đậm đà thêm bản sắc riêng của
mình. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
16
“Bình đẳng” là một phẩm chất và giá trị nhân quyền thể hiện trình độ phát
triển và chất nhân văn cao của xã hội. Một đòi hỏi quan trọng của XHCN là bảo đảm
bình đẳng không chỉ cho cá nhân người công dân, mà còn ở cấp độ cho tất cả các
cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia.
Tôn trọng và giúp nhau không chỉ là tình thương, lòng nhân đạo, mà thực sự
là đòi hỏi, yêu cầu, trách nhiệm và điều kiện thiết yếu cho sự phát triển của từng cá
nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩn quan trọng của xã hội phát triển. Đoàn
kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc đã làm nên thành công của
cách mạng Việt Nam. Và giờ đây, tinh thần đó, phương châm đó đang là những nét
đặc sắc của giá trị xã hội XHCN Việt Nam.
Thứ bẩy, Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân không thể nào khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đảng
mang bản chất, lý tưởng, nội dung XHCN, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng
XHCN, Đảng ta khẳng định: “Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.
Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và
xã hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân. Đây là nhà nước mà
tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng
hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là đòi hỏi khách quan để thực
hiện mục tiêu XHCN hiện nay.
Thứ tám, một trong những nét nổi bật trong tư duy lý luận của Đảng, khẳng
định đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, Đảng ta chỉ rõ: “Có quan hệ
hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”.
19
- Đến năm 1995, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền
đề chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Kinh tế:tăng trưởng khá nhanh, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa bước đầu được xây dựng. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn
2006 - 2011 đạt xấp xỉ 7,5%; thu nhập quốc dân theo đầu người năm 1990 khoảng
200 USD, năm 2005 đạt khoảng 600 USD, năm 2011 đạt khoảng 800 USD.
- Văn hoá – xã hội có những tiến bộ.
Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng
cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được
củng cố. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế
được tiến hành chủ động và đạt được nhiều kết quả tốt.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh, cơ sở vật chất kỹ
thuật được tăng cường; đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải
thiện cả về vật chất và tinh thần.
- Vị thế uy tín của nước ta nâng cao trên trường quốc tế.
Hơn 25 năm đổi mới của Việt Nam được đánh giá khái quát như sau: "Công
cuộc đổi mới trong 25 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử, làm thay đổi bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân ta".
Với thành công ngày càng to lớn của công cuộc đổi mới, đất nước ta một lần
nữa trở thành nơi gửi gắm niềm tin và sự kỳ vọng của bạn bè quốc tế. Việt Nam hôm
nay đang được nhìn nhận một cách đầy ngưỡng mộ: “Đường lối đổi mới trong đó
kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công
nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là con đường của những người mở
đường mới mẻ trong lịch sử, hy vọng rằng Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân
Việt Nam, đã từng chiến thắng trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ trước đây, sẽ thành
mới Việt Nam đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và ngày càng thu được
những thành tựu to lớn. Điều đó trước hết bắt nguồn từ bản chất khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trung thành với bản chất khoa học và cách mạng
của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành
21
công chủ nghĩa xã hội của thời kỳ đổi mới gắn với dân giàu nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.