Tình trạng sức khỏe và cách chữa trị của người dân vùng mới đô thị hóa ở thành phố hồ chí minh (nghiên cứu trường hợp phường cát lái, quận 2, thành phố hồ chí minh) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE VÀ CÁCH CHỮA TRỊ
CỦA NGƢỜI DÂN VÙNG MỚI ĐÔ THỊ HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG CÁT LÁI,
QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN VĂN DỐP

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành gởi lời cảm ơn sâu sắc đến các đơn vị và cá nhân đã giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này:
- Quý Thầy, Cô giảng dạy cho khóa Cao học Xã hội học 5 đợt 2 năm 2014 –
2016 của Khoa Xã hội học, Học viện Khoa học xã hội, đã cung cấp những kiến thức
hữu ích phục vụ trong nghiên cứu khoa học cũng như những kinh nghiệm trong vận
dụng vào trong công việc nghiên cứu;
- Quý anh/chị trong cơ sở đào tạo của Học viện khoa học xã hội tại thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo những điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất cho chúng tôi trong


ii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cần thiết của đề tài ....................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu trong nước .....................................................................3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ...............................................6
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................................7
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ...............................................9
5.1. Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................9
5.3. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu .........................................................10
5.4. Khung phân tích...........................................................................................11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ......................................................12
7. Cơ cấu của luận văn ........................................................................................12
Luận văn gồm 3 chương .....................................................................................12
Chương 1: Cơ sở lý luận về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe ............................12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC KHỎE VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE13
1.2. Những khái niệm và lý thuyết áp dụng .......................................................13
1.3. Khái niệm công cụ .......................................................................................15
1.4. Biến đổi xã hội trong tiến trình đô thị hóa tại quận 2 ..................................19
1.5. Phường Cát Lái - Quận 2 trong quá trình đô thị hóa ...................................21
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE, CÁCH CHỮA TRỊ BỆNH TẬT CỦA
CƢ DÂN PHƢỜNG CÁT LÁI, QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .......31
2.1. Tình trạng sức khỏe của người dân chia theo các phân nhóm về tuổi tác, đặc
trưng xã hội của cá nhân và gia đình ..................................................................32
2.2. Tình trạng sức khỏe của người dân so với 5 năm trước (2009) ..................36

iii


CSSKBĐ:

Chăm sóc sức khỏe ban đầu

DS:

Dân số

ĐTH:

Đô thị hóa

HIV/AIDS:

Human immunodeficiency virus infection / acquired
immunodeficiency syndrome - Hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người

KCB:

Khám chữa bệnh

KHHGĐ:

Kế hoạch hóa gia đình

NGTK:

Niên giám thống kê

giới tính .....................................................................................................................34
Bảng 2. 3: Tình trạng sức khỏe của thành viên hộ khảo sát chia theo 5 nhóm thu nhập35
Bảng 2. 4: Tình trạng sức khỏe so với 5 năm trước chia theo giới tính và độ tuổi ...37
Bảng 2. 5: Tình trạng sức khỏe so với 5 năm trước chia theo 5 nhóm thu nhập ......38
Bảng 2. 6: Bệnh gần nhất trong 12 tháng qua chia theo 5 nhóm thu nhập ...............42
Bảng 2. 7: Bệnh gần nhất trong 12 tháng qua chia theo độ tuổi và giới tính ............39
Bảng 2. 8: Bảng 2.8: Cách chữa bệnh của người dân chia theo 5 nhóm thu nhập ...43
Bảng 2. 9: Cách chữa bệnh của người dân chia theo độ tuổi và giới tính ................45
Bảng 3. 1: Loại hình bảo hiểm y tế chia theo 5 nhóm thu nhập ...............................51
Bảng 3. 2: Loại hình bảo hiểm y tế chia theo nhóm tuổi và giới tính .......................54
Bảng 3. 3: Có sử dụng BHYT khi ốm (bệnh) chia theo năm nhóm thu nhập...........56
Bảng 3. 4: Có sử dụng BHYT khi ốm (bệnh) chia theo độ tuổi và giới tính ............58
Bảng 3. 5: Mức độ sử dụng BHYT khi ốm đau theo mức độ thuận tiện của các dịch
vụ y tế ........................................................................................................................59
Bảng 3. 6: Có sử dụng BHYT cho lần bệnh gần nhất 12 tháng qua theo 5 nhóm thu
nhập ...........................................................................................................................63
Bảng 3. 7: Tiêm ngừa trong 5 năm qua chia theo 5 nhóm thu nhập và nhóm tuổi ...70

vi


Bảng 3. 8: Khám sức khỏe tổng quát trong 5 năm qua chia theo 5 nhóm thu nhập và
nhóm tuổi...................................................................................................................74
Bảng 3. 9: Tình trạng chích ngừa cho trẻ dưới 5 tuổi theo phân tổ 5 nhóm thu nhập,
Nhóm tuổi, Giới tính trẻ ............................................................................................79

vii


MỞ ĐẦU



sự quan tâm của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội, đặc biệt đối với các xã hội văn
minh ngày nay.
Trong khoảng 25 năm trở lại đây, thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những
thành tựu mạnh mẽ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế,… đặc biệt về
kinh tế. Sự phát triển về kinh tế thấy rõ qua các chỉ số thu nhập bình quân đầu người
tăng, cơ sở hạ tầng phát triển, cơ cấu kinh tế đa dạng. Tuy nhiên, bên cạnh đó có
nhiều vấn đề xã hội đặt ra cho các nhà quản lý, đó là sự phân hóa thu nhập, phân
hóa đời sống của cư dân tại các khu vực trên địa bàn toàn thành phố, các hộ gia
đình,… Các cấp chính quyền của thành phố đã có nhiều chính sách, nhằm cố gắng
xây dựng và duy trì một hệ thống an sinh xã hội toàn diện để giúp người dân chống
đỡ phần nào những rủi ro gặp phải trong sinh hoạt cũng như lao động, bảo vệ toàn
diện đời sống cho nhân dân.
Trong quá trình đô thị hóa, một bộ phận cư dân sống trên địa bàn quận 2
chuyển dịch từ lối sống nông thôn lên lối sống đô thị, cùng với quá trình đó là sự
giao tiếp trong quá trình mưu sinh với các thành phần dân cư khác trên địa bàn
thành phố, các bộ phận dân cư từ các tỉnh, thành trên cả nước đến làm ăn sinh sống
và định cư trên địa bàn phường Cát Lái, quận 2. Người dân tại đây đã tiếp nhận
những yếu tố nào ảnh hưởng đến đời sống, nhận thức về sức khỏe và việc chăm sóc
sức khỏe của người dân nơi đây. Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu về tình
trạng sức khỏe và việc chăm sóc sức khỏe của cư dân tại vùng ven đô sau 10 năm
đô thị hóa gần đây, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn để:
- Đánh giá về thực trạng sức khoẻ và bệnh tật của cư dân trong bối cảnh đô
thị hóa trên địa bàn trong những năm qua.
- Sự khác biệt trong việc chăm sóc sức khỏe và tiếp cận các dịch vụ y tế
trong quá trình khám, chữa trị các loại bệnh của các nhóm dân cư.
- Sự tham gia bảo hiểm y tế và việc sử dụng bảo hiểm y tế trong quá trình
khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của người dân.
- Sự thay đổi trong quan niệm về chăm sóc sức khỏe và điều trị (tương quan

thiện nhưng xu hướng lên tuyến trên để được điều trị tốt hơn là tâm lý phổ biến.
Công trình này cho thấy, đối với những bệnh thông thường (cảm, ho, nhức đầu,…),
một bộ phận đáng kể người dân tự đến các nhà thuốc tây mua thuốc uống, một số ít

3


dùng cách chữa trị dân gian (xông, giác hơi, cạo gió, tìm thảo dược chế biến để
uống…).
Những nghiên cứu về HIV/AIDS ở Việt Nam (Nguyễn Trần Hiền; Lê Bách
Quang; Nguyễn Thị Thanh Thủy, 1998; Hà Thúc Dũng, 2007) thường được tiến
hành với phạm vi nghiên cứu rộng và dung lượng mẫu khá lớn. Đối tượng khảo sát
tập trung vào những nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao và những nhóm chuẩn bị bước
vào giai đoạn có khả năng lây nhiễm. Cho dù khảo sát ở nhóm đối tượng nào, việc
sử dụng cách tiếp cân KAP đã giúp nhận diện những đặc trưng cơ bản của các đối
tượng này cũng như những nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm sức khỏe
liên quan đến HIV/AIDS của họ.
Các nghiên cứu về hành vi tìm kiếm sức khỏe của người dân liên quan đến
bệnh lao (Johansson và các cộng sự, 2000; Nguyễn Phương Hoa và các cộng sự,
2003) được tiến hành trên phạm vi rất rộng và nội dung nghiên cứu cũng tập trung
phân tích thực trạng, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm sức khỏe đối
với bệnh lao và đưa ra một số khuyến nghị về các biện pháp có thể có hiệu quả để
cải thiện tình hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy nổi lên ba yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến hành vi tìm kiếm sức khỏe tích cực đối với người bị bệnh lao là học vấn,
địa bàn cư trú và giới tính. Ở khu vực đo thị, người mắc bệnh lao có điều kiện để
phát hiện sớm và họ tuân thủ tốt phác đồ điều trị so với khu vực nông thôn. Có sự
khác biệt tương tự giữa những người có học vấn cao so với người có học vấn thấp.
Những người nông dân trình độ học vấn thấp có kiến thức hạn chế về bệnh lao;
trong khi đó người phụ nữ với địa vị thấp hơn trong xã hội và gia đình cộng với sự
xấu hổ, nỗi sợ bị xã hội xa lánh, cô lập, được xem như là những rào cản chính ảnh

phí mà họ bỏ ra). Điều làm cho người bệnh và gia đình họ hài lòng chính là tránh
được tình trạng quá tải thường gặp ở các bệnh viện công (phải chờ đợi, mất nhiều
thì giờ), thái độ phục vụ ân cần của đội ngũ bác sĩ, y tá, nhân viên của bệnh viện tư,
và cơ sở vật chất tương đối tốt cho người bệnh nhất là số giường bệnh đáp ứng đủ
cho người phải điều trị nội trú phải có sự chăm sống của người nhà.
Một nghiên cứu về hành vi sử dụng thẻ BHYT của người dân (Trần Thái
Ngọc Thành, 2007) với 504 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên, 8 đối tượng được
phỏng vấn sâu bán cấu trúc và 4 cuộc thảo luận nhóm tại xã Khánh Mậu, huyện Yên
Khánh và phường Vân Giang – thị xã Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc

5


sử dụng thẻ BHYT không phải là thói quen của người dân bởi vì gần một nửa số
người có thẻ BHYT không dùng nó khi đi khám chữa bệnh, nhất là đối với những
trường hợp bệnh nhẹ. Người dân chỉ sử dụng thẻ BHYT trong trường hợp bệnh
nặng, phải nằm viện hoặc khi khám sức khỏe định kỳ. Người dân đánh giá những
ưu điểm chính của BHYT là giảm bớt chi phí nằm viện, được cấp miễn phí một số
loại thuốc hoặc một lượng thuốc chữa bệnh, và có thể dùng để khám sức khỏe định
kỳ. Theo họ những nhược điểm chính của các dịch vụ cho người có thẻ BHYT là:
nhân viên y tế dễ có hành vi tiêu cực, người dân phải trả thêm một khoản đáng kể
khi sử dụng BHYT, thủ tục chưa hoàn toàn đơn giản khiến một số người, nhất là
nông dân, ngại sử dụng.
Một nghiên cứu khác về hành vi sử dụng BHYT của cư dân thành phố Hồ
Chí Minh (Phạm Thanh Duy và Phan Thanh Lời, 2005) cũng cho thấy cách ứng xử
tương tự của người dân đối với loại hình bảo hiểm này. Dựa vào nguồn số liệu khảo
sát từ Chương trình nghiên cứu: “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở
thành phố Hồ Chí Minh” vào năm 1998 và năm 2001, các nhà nghiên cứu này kết
luận rằng người dân Thành phố Hồ Chí Minh ở cả 5 nhóm thu nhập đều chưa có
thói quen dùng BHYT. Sự thờ ơ này thể hiện ở tỷ lệ người dân có thẻ BHYT bắt

tổng quát, tiềm ngừa các loại vaccine phòng bệnh, việc tiêm ngừa các loại vaccine
của trẻ dưới 6 tuổi và bà mẹ mang thai.
- Vấn đề tham gia bảo hiểm y tế và sử dụng bảo hiểm y tế trong việc khám
chữa bệnh hiện nay của người dân. Trong đó, ghi nhận những những đánh giá của
người dân địa phương về việc phục vụ của ngành y tế đối với đối tượng có tham gia
bảo hiểm y tế.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là cư dân của phường Cát lái, quận 2,
thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm những người đã cư trú tại địa phương trước 1986
và những người mới chuyển đến sau 1986. Trong chủ đề này, đối tượng nghiên cứu
được xác định, như sau:
- Quan niệm và hành vi chăm sóc sức khỏe của cư dân vùng đô thị hóa từ
Đổi mới – 1986 , đặc biệt là từ 1990 đến nay, trong đó có lưu ý đối các phân nhóm
sau: 1/ nhóm cư dân cư trú từ trước 1986 và nhóm cư dân mới nhập cư (đến địa
phượng sau 1986; 2/ mức sống.

7


- Tác nhân làm thay đổi về quan niệm và hành vi chăm sóc sức khỏe của cư
dân trong quá trình đô thị hóa, chuyển đổi nghề nghiệp và sự phát triển của các dịch
vụ ý tế trong bối cảnh đô thị hóa..
Phạm vi nghiên cứu của luận văn về mặt không gian thời gian và các vấn đề
nghiên cứu được xác định như sau:
 Về không gian: Vùng đang diễn ra quá trình đô thị hóa tại Thành phố Hồ
Chí Minh; luận văn chọn nghiên cứu trường hợp là phường Cát Lái, quận 2, Thành
phố Hồ Chí Minh. Vị trí phường Cát Lái trong địa bàn hành chánh của quận 2 được
xác định qua bản đồ hành chánh quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
 Về thời gian: Từ khi quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẻ tại khu vực này
(20 năm trở lại đây). Trong thời gian này có nhiều chủ trương trong kinh tế, xã hội...

tâm (lao, cúm gia cầm, gan, sởi, rubella . . . .)
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa làm biến đổi không chỉ trong hoạt động kinh tế mà có tác
động làm biến đổi một cách toàn diện đời sống cư dân trong đó có sự thay đổi về
quan niệm và hành vi chăm sóc sức khỏe của cư dân diễn ra đồng thời với sự phát
triển của mạng lưới y tế và dịch vụ y tế trên địa bàn đô thị hóa, sự thay đổi đó

9


không hoàn toàn như nhau mà có những khác biệt trong quan niệm và hành vi chăm
sóc sức khỏe của từng nhóm cư dân dưới tác động của mức sống, học vấn, độ tuổi,
giới tính, . . . cũng như chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người nghèo.
5.3. Phƣơng pháp và kỹ thuật nghiên cứu
Luận văn sử dụng chiến lược đa phương pháp với trục chính là phương pháp
khảo sát định lượng xã hội học và phân tích dữ liệu định lượng (phân tích thống kê),
có kết hợp khảo sát định tính (phỏng vần sâu các trường hợp điển hình về những
chuyển biến trong quan niệm phòng chữa bệnh, chọn lựa dịch vụ,…).
Một số phương pháp khác sẽ được vận dụng như sau:
- Phân tích điển hình (khai thác sâu những vấn đề về quan niệm, giá trị, chiến
lược cá nhân).đối với một số trường hợp điển hình nhằm minh họa cho sự
chuyển biến trong quan niệm phòng chữa bệnh cũng như chọn lựa dịch vụ
chữa bệnh
- Đánh giá tác động xã hội (dự đoán trước hoặc phân tích sau khi thực hiện
các chính sách, chương trình).
Kỹ thuật thu thập thông tin:
- Công cụ:
+ Bản hỏi định lượng với các nội dung tương ứng
- Chọn mẫu:
+ Số lượng mẫu khảo sát định lượng là 300 hộ (1.264 nhân khẩu) – chiếm

ĐÔ THỊ HÓA

Biến đổi
Cơ cấu kinh tế

Sự đa dạng, tiện
lợi dịch vụ y tế

Nguồn vốn nhân
lực của cá nhân
SỨC KHỎE,
CHĂM SÓC
SỨC KHỎE

Biến đổi
Cơ cấu việc làm
11

- Trình độ học vấn
- Việc làm
- Giới tính
- Độ tuổi
- Thu nhập


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn


Ý nghĩa lý luận


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC KHỎE VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
1.2. Những khái niệm và lý thuyết áp dụng
1.2.1. Lý thuyết về hành vi niềm tin sức khỏe
Mô hình niềm tin sức khoẻ (Healthy Behavior Model): Được giới thiệu
những năm 1950 bởi các nhà tâm lý học làm việc tại cơ quan y tế cộng đồng Mỹ,
mô hình niềm tin sức khoẻ (HBM) là một trong những mô hình được biết đến rộng
rãi nhất trong lĩnh vực thay đổi hành vi. Những nhà tâm lý này quan tâm đến việc
phát triển sử dụng dịch vụ để chẩn đoán sớm và dự phòng lao phổi như tiêm phòng
và chụp X quang ngực. Họ cho rằng điều trị người sợ mắc những bệnh nặng và
những hành vi liên quan đến sức khoẻ phản ánh mức độ sợ hãi của một người và
thống kê bao gồm những điều thấy được của việc nếu nhưng lợi ích của việc thay
đổi hành vi có giá trị hơn những điều ứng dụng của nó và những trở ngại tâm lý của
họ. Ngắn gọn lại, những cá nhân tự đánh giá bên trong họ những lợi ích của việc
thay đổi hành vi và tự quyết định có hành động hay không. Mô hình niềm tin sức
khoẻ (HBM) xác định 4 mặt của sự đánh giá này:
- Sự nhạy cảm hiểu được về sức khoẻ kém
- Hiểu được mức độ nghiêm trọng của sức khoẻ kém
- Hiểu được lợi ích của thay đổi hành vi
- Hiểu được những trở ngại của việc hành động.
Sau đó thêm nguyên tắc “Tự hiệu lực – Selfefficacy”. Một tổ hợp chính xác
của sự nhận thức phát triển thêm sự sẵn sàng hành động. Những thông điệp cải tiến
sức khoẻ, thông qua phương tiện truyền thông, giáo dục đồng đẳng và các can thiệp
khác hoạt động giống như tín hiệu (ám hiệu, kêu gọi) hành động (cues to action)
biểu lộ sự sẵn sàng hoạt động và hành vi công khai. Những kêu gọi này thường cần
thiết để vượt qua những thói quen không tốt như: không đeo dây an toàn, ăn thức ăn
giàu chất béo hoặc hút thuốc. Mô hình niềm tin sức khoẻ (HBM) cũng giúp cho xác
định điểm đòn bẩy của sự thay đổi. Một người hút thuốc nghĩ rằng họ không thể tự

13




1.3. Khái niệm công cụ
1.3.1. Khái niệm sức khỏe
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi con người chúng ta và được coi là
giá trị chung của nhân loại. Khái niệm sức khỏe trong đời sống hàng ngày được
hiểu như là: Sức khỏe là không ốm đau bệnh tật, không phải đến bệnh viện. Người
có sức khỏe là người có cơ thể cường tráng, cơ thể hoạt động bình thường có khả
năng lao động, làm việc và hoạt động với năng suất chất lượng cao. Tổ chức Y tế
thế giới WHO (World Healthy Organization) đã đưa ra khái niệm sức khỏe như sau:
“Sức khỏe là trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ không
chỉ là không có bệnh hay tật, không yếu đuối mà là ở trạng thái có thể chất tốt, trí
tuệ phát triển và xã hội lành mạnh”. Năm 1978, Hội nghị quốc tế của 134 nước và
67 tổ chức quốc tế ở Alma – Ata đưa ra một tuyên ngôn quan trọng kêu gọi đẩy
mạnh sức khỏe cho nhân dân và cũng cho rằng sức khỏe liên quan đến đến cả về thể
chất lẫn tinh thần và xã hội. Như vậy, sức khỏe là trạng thái hoàn chỉnh về thể chất,
tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh và thương tật. Sức khỏe là tài
sản riêng của mỗi cá thể đồng thời cũng là tài sản quý giá chung của cả cộng đồng.
Tất cả mọi người trên hành tinh này đều có mơ ước sống khỏe mạnh để cống hiến
tối đa cho bản thân, gia đình và xã hội. Bảo vệ sức khỏe là quyền lợi đồng thời cũng
là nghĩa vụ cao cả của mọi người, mọi ngành trong toàn xã hội.
1.3.2. Chăm sóc sức khỏe ban đầu
- Khái niệm chăm sóc sức khỏe Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn:
“Quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu”, Nxb. Y học Hà Nội năm 1995. Chăm sóc
sức khỏe: Là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh
dưỡng, được vui chơi giải trí …), để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh
thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội.
- Khái niệm chăm sóc sức khỏe ban đầu Khái niệm chăm sóc sức khỏe ban
đầu được Đại hội sức khỏe thế giới Alma – Ata định nghĩa như sau: “Chăm sóc sức
khỏe ban đầu là những chăm sóc thiết yếu, xây dựng trên những phương pháp và kỹ

nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống
nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng
đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động khác của họ, sự gần
gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương

16


đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và
các phương tiện hoạt động (Tô Duy Hợp & Lương Hồng Quang, 2000: tr 11).
1.3 4 V ng ven
Khái niệm vùng ven hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Vùng ven được hiểu về mặt địa lý là vùng lân cận khu vực nội thành thành
phố. Vùng ven mang tính đặc trưng của cả vùng nông thôn và đô thị. Vùng ven
không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn – ven đô – đô
thị [Nguyễn Hữu Minh - Tạp chí Xã hội học, số 1, 2005].
Vùng ven bản thân nó được xem là vùng ở ngoại thành tiếp giáp với khu vực
nội thành; ở đó những hoạt động chủ yếu của người dân là sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình đô thị hóa, vùng ven diễn ra nhiều biến chuyển: thay đổi về cơ cấu
sản xuất, cơ sở hạ tầng, lối sống v.v… Tác động của chính sách về qui hoạch đã
phần nào biến vùng ven trở thành đô thị. Cơ cấu nông nghiệp chuyển dần sang cơ cấu
phi nông nghiệp. Cơ cấu lao động vùng ven cũng dần biến chuyển theo sự thay đổi đổi
này. Việc làm của cư dân ở vùng ven cũng theo đó bắt đầu có những thay đổi.
1.3.5. Cộng đồng vùng ven
Trong luận văn này khái niệm cộng đồng vùng ven được hiểu là một tập thể
người cùng sống trên một khu vực địa lý hoặc trong cùng một đơn vị hành chính
nhất định (khu phố, ấp, phường, quận) tiếp giáp với nội thành. Ở đó mọi người có
mối liên hệ qua lại với nhau, được quyết định bởi sự chia sẻ các tính chất của một
cộng đồng được định nghĩa ở trên.
1.3 6 Đô thị hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status