1
T TNG CA V.I.LấNIN BN V NGUN GC
V BN CHT CA CHIN TRANH. í NGHA CA Nể
I VI CCH MNG NC TA HIN NAY
Khi xã hội loài ngời phát triển đến giai đoạn có của d thừa cũng là lúc
con ngời xuất hiện t tởng muốn chiến đoạt của d thừa đó cho riêng mình. Chế
độ t hữu đợc hình thành và phát triển từ đó. Chính sự ham muốn vật chất của
con ngời đã làm nảy sinh những cuộc xung đột vũ trang với quy mô ngày càng
lớn nhằm chiếm đoạt của cải trong xã hội. Dần dần xã hội loài ngời phân chia
thành các giai cấp đối kháng nhau về mặt lợi ích kinh tế, luôn đấu tranh với
nhau. Đó chính là cơ sở, nguồn gốc ra đời của chiến tranh. Chiến tranh là quá
trình thực hiện mục đích chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. V.I.Lờnin nh lý
lun thiờn ti, v lónh t v i ca giai cp vụ sn v ton th nhõn dõn lao
ng trờn th gii. Ngi ó bo v v phỏt trin ch ngha Mỏc núi chung,
cng nh nhng t tng v chin tranh v quõn i ca ch ngha Mỏc v
Ph.ngghen núi riờng trong thi k quc ch ngha v cỏch mng vụ sn.
V.I.Lờnin ó vit hng lot cỏc tỏc phm v chin tranh v quõn i: Hi
cng l thut tht th (thỏng 1 nm 1905), Chin tranh v ng xó hi dõn
ch Nga, Cng lnh quõn s cỏch mng vụ sn, Ch ngha quc giai
on tt cựng ca ch ngha t bn v tỏc phm Ch ngha xó hi v chin
tranh (7-1915). Cỏc tỏc phm ú ca V.I. Lờnin ó th hin xut sc s bo
v v phỏt trin lý lun v chin tranh v quõn i ca ch ngha Mỏc. ễng ó
phõn tớch ton din t tng mỏcxớt v chin tranh v quõn i trong thi i
quc ch ngha, trong ú cú vn v ngun gc v bn cht ca chin
tranh. Nhng t tng ú l c s phng phỏp lun chỳng ta nhn thc
ỳng n chin tranh trong thi i ngy nay.
Trong cỏc tỏc phm V.I.Lờnin phỏt trin hc thuyt mỏcxớt v chin tranh
v Quõn i. Vn chin tranh c V.I.Lờnin phõn tớch trờn lp trng duy
3
tranh vũ trang. Đây là hai đặc trưng cơ bản mang tính phổ biến của mọi cuộc
chiến tranh, có thể coi các đặc tưng đó là dấu hiệu để phân biệt chiến tranh với
các hiện tượng xã hội khác, như hiện tượng hòa bình, hiện tượng xung đột vũ
trang.
1.1.Các quan điểm trước chủ nghĩa Mác -Lênin bàn về nguồn gốc,
bản chất chiến tranh
Trước thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin đã có nhiều quan điểm
bàn về nguồn gốc và bản chất chiến tranh, đáng chú ý là thời cổ đại có Tôn
Tử nhà tư tưởng lớn ở Trung Quốc và thời kỳ cận đại có nhà lý luận quân sự
Claudơvit người ở nước Phổ.
Tôn tử, nhà tư tưởng lớn của (nước Tề) Trung Quốc thời cổ đại, sinh
trưởng ở thời điểm lịch sử đất nước Trung Quốc vẫn còn là những quốc gia
nhỏ, chiến tranh cát cứ giữa các nước chư hầu, diễn ra triền miên; xã hội lúc
bấy giờ còn nhiều hạn chế, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thấp chưa phát
triển. Mặc dầu vậy tư tưởng quân sự của ông được thể hiện thông qua các tác
phẩm “Binh thư Tôn Tử” rất nổi tiếng, cũng biểu hiển rất rõ tư duy biện
chứng chất phát ngây thơ. Trong tư tưởng của ông về chiến tranh ông có viết:
“Chiến tranh là hiện tượng xã hội”. Nhưng ông chưa lý giải được nguồn gốc
của nó, cũng bởi vì do hạn chế về lịch sử thời điểm đó. Do đó phần lớn những
vấn đề của ông đề cập là tìm cách giải quyết, tránh, ngăn ngừa không để xảy
ra chiến tranh, làm thế nào để giành thắng lợi trong chiến tranh, yếu tố nào để
quyết định đến thắng lợi trong chiến tranh. Ông không nhìn chiến tranh qua
hành động đơn lẻ mà quan sát chiến tranh một cách toàn diện. Tôn Tử phân
tích, chỉ rõ mối quan hệ giữa chiến tranh với chính trị, chiến tranh với kinh tế,
chiến tranh với quân sự, chiến tranh với nhà nước. Mỗi yếu tố đều có mối
quan hệ, giá trị riêng, mối quan hệ tổng thể và giá trị tổng thể tác động trực
tiếp đến thành bại của chiến tranh. Đây chính là những nội dung thể hiện tư
chiến tranh do các giai cấp bị bóc lột đứng lên chống lại giai cấp thống trị giải
phóng mình. Như vậy, quan điểm Claudơvit đầy mâu thuẫn, mặc dù ông xác
5
định các yếu tố liên quan đến chiến tranh đều xuất phát từ chính trị, nhưng lại
phủ định vấn đề giai cấp trong chiến tranh. Ông cho rằng giai cấp không liên
quan đến chính trị, đến chiến tranh. Bản chất giai cấp chính là bản chất chính
trị của nhà nước tham chiến mà ông đã khái quát lên bản chất của chiến tranh.
Đây là nội dung bộc lộ hạn chế nhất trong tư tưởng chiến tranh của Claudơvit.
Do đó quan niệm của ông là phản khoa học, cho nên không thể tiếp cận đúng
đắn nguồn gốc và bản chất của chiến tranh.
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã đánh dấu bước ngoặt nhảy vọt về chất
trong nhận thức về quan niệm chiến tranh và quân đội nói chung về nguồn
gốc, bản chất chiến tranh nói riêng, đã được V.I. Lênin kế thừa và phát triển
trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc gây xâm
lược, phân chia quyền lợi kinh tế trên thế giới bằng phát động cuộc chiến
tranh thế giới thứ nhất gồm 14 nước “lớn”tham gia.
Bằng phương pháp biện chứng duy vật, trên cơ sở thực tiễn lịch sử, mà
trực tiếp nhất là thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã phê phán tất cả các quan niệm duy tâm, siêu hình, phản khoa học của các
học giả trước đó; đồng thời hai ông đã kết thừa những tư tưởng tiến bộ để xem
xét, nghiên cứu các cuộc chiến tranh dưới góc độ triết học, xã hội học, chính trị
giai cấp để tìm ra nguồn gốc và bản chất của chiến tranh một cách đúng đắn.
Những tư tưởng khoa học về nguồn gốc và bản chất của chiến tranh của C.Mác
và Ph.Ăngghen, sau này được V.I. Lênin bảo vệ và phát triển một cách xuất
sắc.
1.2.Tư tưởng của V.I.Lênin bàn về nguồn gốc và bản chất chiến tranh
1.2.1. V.I.Lênin bàn về nguồn gốc chiến tranh
do đó các cuộc xung đột vũ trang đó hoàn toàn do ngẩn nhiên, hay tự phát mà
thôi.
Sau khi chế độ công xã nguyên thủy bị tan rã, phương thức sản xuất chế
độ chiếm hữu nô lệ ra đời, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân chia
giai cấp xuất hiện thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một tất yếu khách quan.
7
Vì vậy, chính chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp đã biến các
cuộc xung đột vũ trang của các bộ lạc nguyên thủy thành chiến tranh như một
hiện tượng chính trị xã hội. Chỉ bắt đầu từ đó, chiến tranh mới trở thành nghề
nghiệp thường xuyên của những kẻ áp bức, bóc lột. Chế độ áp bức, bóc lột ra
đời, chiến tranh xuất hiện. Các giai cấp bóc lột đã hợp pháp hóa việc đấu tranh
vũ trang có tổ chức, nô dịch các dân tộc khác để tăng cường sự thống trị cả về
kinh tế và chính trị đối với nước mình. Vì muốn duy trì sự thống trị đó đối với
đất nước, muốn nô dịch thôn tính với các nước khác để vơ vét được nhiều của
cải, thỏa mãn với lòng tham vô đáy của bọn thống trị bóc lột, thì chúng phải tổ
chức tuyển mộ quân đội thường trực, được trang bị vũ khí và phương tiện quân
sự để tiến hành chiến tranh. Do đó chế độ áp bức, bóc lột càng hoàn thiện thì
chiến tranh càng phát triển cả về quy mô và tốc độ. Bởi vì sản xuất càng phát
triển thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng phát triển quân đội, tăng cường
sản xuất và trang bị hiện đại hơn, quy mô các cuộc chiến tranh ngày càng lớn
và tính chất tàn bạo ngày càng ác liệt hơn, dã man hơn, càng phản ánh sâu sắc
bản chất của giai cấp thống trị bóc lột, chiến tranh là sản phẩm, là bạn đồng
hành thường xuyên của xã hội có đối kháng giai cấp. Chính vì vậy, V.I. Lênin
đã chỉ ra rằng: “Chừng nào xã hội còn phân chia thành giai cấp, chừng nào còn
có người bóc lột người thì chiến tranh là không thể tránh khỏi”5 và “Không thể
xóa bỏ được chiến tranh, nếu không xóa bỏ được giai cấp và không thiết lập
được chủ nghĩa xã hội”6. V.I.Lênin cũng chỉ ra cho mọi người hiểu, muốn xóa
nhằm ngăn chặn những cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng V.I.Lênin đã tiên
đoán và chỉ ra rằng thắng lợi của cách mạng ở một loạt nước sẽ làm thay đổi
hoàn cảnh quốc tế và sẽ tạo điều kiện cho phép chấm dứt nhưng cuộc chiến
tranh thế giới. Chính kết luận đó rút ra từ luận điểm của V.I. Lênin cho rằng:
“sau cuộc chiến tranh này, chẳng bao lâu sẽ còn có nhiều cuộc chiến tranh
khác nữa, nếu như không có một loạt cuộc cách mạng thắng lợi”8.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: với bản chất hiếu chiến xâm lược,
(mặc dầu sau chiến tranh thế giới thứ II, đã có hệ thống xã hội chủ
9
nghĩa) nhưng chủ nghĩa đế quốc đã gây ra hơn 100 cuộc chiến tranh lớn
nhỏ. Đặc biệt sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu
sụp đỗ, chiến tranh Nam Tư, chiến tranh vùng vinh, chiến Irắc của Mỹ
và Na Tô; nhân loại càng nhận rõ một chân lý mà bấy lâu nay bị các cơ
quan tuyên truyền tư sản cố tình làm lu mờ, xuyên tạc là: Chủ nghĩa đế
quốc càng thắng thế thì nguy cơ chiến tranh ngày càng một tăng và
ngược lại, chủ nghĩa xã hội suy yếu thì nền hòa bình thế giới càng trở
nên mong manh yếu ớt. Do đó chỉ có thắng lợi chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới thì mới xóa bỏ được những nguyên nhân xã hội và
dân tộc của các loại chiến tranh.
V.I. Lênin chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh thế giới lần
thứ nhất là do những điều kiện của thời đại chủ nghĩa đế quốc gây ra và nó
nảy sinh do kết quả của sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, kết quả
của thay đổi so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc chủ nghĩa. Ông đã phân
tích một cách khoa học về chủ nghĩa đế quốc, chỉ rõ rằng chủ nghĩa đế quốc là
chủ nghĩa tư bản độc quyền, là giai đoạn cao nhất và tột cùng của chủ nghĩa
tư bản, đồng thời nêu lên những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
Chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thế giới thứ nhất là “Cuộc chiến tranh này phát
Chính trị bao giờ cũng biểu thị những quyền lợi của một giai cấp nhất định,
không có và không thể có chính trị trên một giai cấp, do đó không có và
không thể có các cuộc chiến tranh không mang mục đích chính trị giai
cấp”11.
Ph.Ăngghen phê phán quan niệm của Claudơvit, mặc dù Claudơvit đã
phát hiện ra ý nghĩa sâu sắc về quan hệ giữa chiến tranh với chính trị. Nhưng
cả C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa tư tưởng đó để nghiên cứu chiến tranh.
nhưng quan điểm của Mác và Claudơvit khác nhau về chất. Claudơvit hiểu
chính trị như là “trí tuệ của quốc gia được nhân cách hóa” và chính trị mà kế
tục chỉ là đường lối đối ngoại, đây là quan điểm duy tâm, siêu hình, phản
khoa học. Lý luận của Claudơvit không vạch ra được bản chất giai cấp của
chiến tranh, và nguyên nhân đích thực sự xuất hiện của chiến tranh, coi chính
12
trị là đại diện chung chung cho toàn bộ xã hội, không thể hiện sự định hướng
rõ ràng, chính trị không liên quan đến giai cấp, giai cấp không liên quan đến
chiến tranh. Từ sự phê phán đó Ph.Ăngghen đi đến kết luận: chính trị đối nội
và chính trị đối ngoại của nhà nước có mối quan hệ hữu cơ không tách rời,
chính trị đối nội thể hiện bản chất giai cấp của nhà nước và các quyền lợi của
giai cấp thống trị. Điều đó cũng khẳng định chiến tranh là kế tục chính trị của
một giai cấp, của một nhà nước nhất định bằng thủ đoạn bảo lực.
Quan điểm về bản chất chiến tranh của chủ nghĩa Mác sau này được V.I.
Lênin tiếp tục khẳng định và phát triển một cách sâu sắc. Ông đã khái quát
những điều kiện lịch sử mới làm phát sinh cuộc chiến tranh trong thời kỳ đế
quốc chủ nghĩa, tìm ra những quy luật khách quan quyết định đến tiến trình và
kết cục của chiến tranh. Ông đã chỉ ra các nguyên tắc, phương pháp luận để
phân tích bản chất xã hội của chiến tranh là phải có quan điểm chính trị -giai
cấp nhất quán khi xem xét chiến tranh với tính cách là một hiện tượng lịch sử
về bản chất của chiến tranh. V.I. Lênin viết: “Chiến tranh chỉ là một sự tiếp tục
của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ thể là bằng bạo lực)”16.
Tư tưởng đó chỉ ra chiến tranh là một thủ đoạn, một bộ phận của chính trị,
nó không làm gián đoạn chính trị, ngược lại mọi chức năng, nhiệm vụ, mục
đích đều được thực hiện trong chiến tranh. Đúng như sự thực hiện mục đích đó
phải bằng bạo lực vũ trang, chính trị mà chiến tranh kế tục luôn luôn là một
chỉnh thể bao gồm: quan hệ chính trị, tổ chức chính trị, ý thức chính trị, đường
lối chính trị, lực lượng chính trị, chủ thể chính trị cùng với các hoạt động của
chủ thể tham gia. Như vậy, cái chỉnh thể đó bao gồm cả lực lượng vật chất và
lực lượng tinh thần. Chính trị mà chiến tranh theo đuổi hay kế tục, được hiểu
theo chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất định. Đường lối chính trị là nơi
biểu hiện một cách đầy đủ nhất, tự giác nhất các quyền lợi cơ bản lâu dài của
các nhà nước, giai cấp đó. Do vậy, chính trị mà chiến tranh kế tục được hiểu
theo nghĩa hẹp là đường lối chính trị của một giai cấp, nhà nước nhất.
16
V.I. Lªnin, Toµn tËp, TËp 26, b¶n tiÕng ViÖt, Nxb TB, M. 1980. tr. 163
14
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, bản chất của chiến tranh
được cấu thành bởi hai mặt cơ bản: đường lối chính trị của một giai cấp, nhà
nước nhất định và sự tiếp tục chính trị ấy bằng bạo lực vũ trang. Trong đó
đường lối chính trị là yếu tố cơ bản nhất, là mục đích của bạo lực vũ trang,
quyết định chiến lược và thông qua chiến lược tác động đến chiến dịch và các
hình thức chiến thuật. Đồng thời bạo lực vũ trang là phương tiện chủ yếu, một
yếu tố không thể thiếu được trong bản chất chiến tranh.
Hai mặt trên đây của bản chất chiến tranh luôn tác động, ràng buộc lẫn
nhau trong một thể thống nhất. Song đường lối chính trị thường mang tính ổn
chiến tranh chính nghĩa không chỉ là của nước đó, mà còn được nhân dân yêu
chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ.
Như vậy, đường lối chính trị là yếu tố cơ bản trong cấu trúc bản chất
chiến tranh, là đặc trưng cơ bản của chiến tranh với tính cách là một hiện
tượng chính trị xã hội. Bạo lực vũ trang là phương tiện chủ yếu, là dấu hiệu
đặc trưng của chiến tranh, là yếu tố đặc biệt quan trọng của bản chất chiến
tranh. Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thỉ không thể gọi là chiến tranh được
theo đúng nghĩa của nó một cách đầy đủ.
Chính vì vậy, công thức kinh điển của V.I. Lênin về bản chất chiến tranh
nền tảng định hướng một cách khách quan khoa học, cho nên “Những người
mác - xít vẫn luôn luôn coi một cách rất đúng đắn nguyên lý ấy là cơ sở lý
luận cho việc nhận xét từng cuộc chiến tranh nhất định”17. V.I.Lênin chỉ ra
cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất là chiến tranh đế quốc, là sự tiếp tục
cuộc chiến tranh ăn cướp đế quốc chủ nghĩa của các nước tư bản trước chiến
tranh “trong gần một nữa thế kỷ, các chính phủ và các giai cấp thống trị ở
Anh, Pháp, Đức, ý, áo và Nga, đã thi hành một chính sách cướp bóc các thuộc
địa, áp bức các dân tộc nước ngoài, đàm áp phong trào công nhân”18. Chính
cái chính sách đó đang thực hiện mục đích của chiến tranh, tức là chính sách
ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc đang tiếp tục thực hiện một cách tàn bạo, dã
16
man để: chiếm đất đai và nô dịch các dân tộc khác, tiêu diệt nước cạnh tranh
với mình, làm cho quần chúng lao động không chú ý đến cuộc khủng hoảng
chính trị trong nước của Nga, Đức, Anh và của các nước khác, mà chia rẽ
công nhân bằng những lời dối trá dân tộc chủ nghĩa, tàn sát đội tiền phong của
giai cấp vô sản để làm suy yếu phong trào cách mạng vô sản; đó chính là mục
đích chính trị duy nhất của chiến tranh thế giới thứ nhất; do chính chủ nghĩa
đế quốc thực hiện đường lối chính trị phản động đó.
lược, nô dịch các dân tộc thuộc địa khác. Chỉ có đứng vững trên lập trường
giai cấp vô sản với phương pháp luận biện chứng duy vật mới thấy rõ được
“Chiến tranh chẳng qua là chính trị từ đầu tới cuối, chỉ là sự tiếp tục thực
hiện cùng những mục đích đó, cũng do các giai cấp đó theo đuổi với những
phương pháp khác nhau mà thôi”20.
Từ phân tích nguồn gốc và bản chất của chiến tranh theo quan điểm của
chủ nghĩa Mác -Lênin, chỉ ra cho những người cộng sản trong xem xét bản
chất của các cuộc chiến tranh, đâu là chiến tranh chính nghĩa, đâu là chiến
tranh phi nghĩa, dã dối. Không nhất thiết cuộc chiến tranh nào cũng đều là
phản động, mà xem cuộc chiến tranh đó do giai cấp nào lãnh đạo, có mang lại
lợi ích cho quần chúng lao động và lợi ích dân tộc hay không. V.I. Lênin đã
viết “Những người xã hội chủ nghĩa luôn luôn lên án các cuộc chiến tranh
giữa các dân tộc, coi đó là một hành động dã man và hung bạo. Nhưng thái độ
của chúng ta đối với chiến tranh, thì căn bản khác với thái độ của bọn hoà
bình chủ nghĩa tư sản (bọn tán thành và tuyên truyền cho hoà bình) và của
bọn vô chính phủ chủ nghĩa”21. V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng chúng ta không
thể đồng nhất chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa, mà những
người vô sản phải có quan điểm xem xét trên quan điểm lịch sử. Quan điểm
biện chứng mà đánh giá bản chất của cuộc chiến tranh đó, như vậy thì chúng
ta xem xét các cuộc chiến tranh trong lịch sử cũng đã có những cuộc chiến
tranh tiến bộ: “Chúng ta còn khác họ ở chỗ chúng ta hoàn toàn thừa nhận tính
chất hợp lý, tính chất tiến bộ và sự cần thiết của những cuộc nội chiến, nghĩa
là những cuộc chiến tranh do giai cấp bị áp bức tiến hành chống giai cấp áp
18
bức mình, do những người nô lệ tiến hành chống bọn chủ nô, do những nông
nô tiến hành chống bọn địa chủ, do những công nhân làm thuê tiến hành
chống giai cấp tư sản. Chúng ta, những người mác -xít, chúng ta khác bọn hoà
chỉnh thích nghi, tạm thời tạo thế ổn định và phát triển nhưng không thể điều
hòa được mâu tuẫn vốn có trong lòng của chủ nghĩa tư bản, mà các mâu thuẫn
của thời đại ngày càng sâu sắc hơn. Bốn mâu thuẫn của thời đại tuy có những
biểu hiện mới nhưng tính chất không thay đổi. Một số mâu thuẫn xung quanh
vấn đề giai cấp, kinh tế, sắc tộc, dân tộc, tôn giáo nổi lên. Cuộc đấu tranh giữa
lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa đế quốc ngày càng gay gắt nhằm
thực hiện mục tiêu cơ bản của thời đại là: Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
chủ nghĩa xã hội đang tạo ra những thời cơ và thách thức mới đối với các dân
tộc, các quốc gia trên thế giới. Nhưng nguồn gốc, nguyên nhân, bản chất của
chiến tranh trong thời đại hiện nay vẫn không thay đổi, chừng nào còn chủ
nghĩa tư bản, còn chủ nghĩa quốc thì còn nguy cơ xảy ra chiến tranh.
Nói đến chiến tranh trong thời đại hiện nay là chủ yếu đề cập đến chiến
tranh hiện đại, chiến tranh công nghệ cao núp dưới các hình thức khác nhau
đã diễn ra, đang diễn ra và dự kiến diễn ra trong tương lai.
Ngày nay, tuy không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa, song mâu thuẫn
giữa chủ nghĩa tư bản với các nước xã hội chủ nghĩa vẫn là mâu thuẫn cơ bản
nhất của thời đại. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn tìm
mọi cách, mọi biện pháp để gây chiến tranh xâm lược, kể cả chiến tranh phi
vũ trang để xóa nốt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Sự tham vọng bá
quyền của chủ nghĩa đến quốc luôn là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp
gây ra những xung đột khu vực và có nguy cơ gây ra những cuộc chiến tranh
khu vực mới với những cường độ khác nhau. Trong khi đó nội bộ của các
nước tư bản, đế quốc vẫn còn, không điều hòa mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản
thống trị đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động, việc chạy đua vũ trang,
20
quân sự hóa đã làm ảnh hưởng toàn bộ đời sống của các nước tư bản. Đồng
thời chủ nghĩa đế quốc liên minh, liên kết với nhau thành những khối chính
đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ. Hiện nay chủ nghĩa đế quốc vẫn sử dụng
rộng rãi một loại hình mới: “chiến tranh phi vũ trang” để nhằm thủ tiêu chủ
nghĩa xã hội, lật đỗ chính quyền ở một số quốc gia. Diễn biến hòa bình trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống và đạo đức là
thứ vũ khí mới của “chiến tranh phi vũ trang”. Do vậy, các cuộc chiến tranh
hiện đại và trong tương lai (nếu xảy ra) vẫn là sự kế tục chính trị. Đó là thuộc
tính cơ bản nhất trong bản chất của chiến tranh vẫn không thay đổi. Mặc dù
mục đích chính trị của các cuộc chiến tranh hiện nay đã mang tính chất tổng
hợp, nhưng bản chất cũng không có gì mới. Ví như cuộc chiến tranh do Mỹ
và quân đồng minh đánh Nam Tư nhằm nhiều mục đích như: lật đổ chính
quyền nam Tư, xem thái độ của Nga, đánh vào sự trỗi dậy của “Châu âu” để
cũng cố vai trò siêu cường của Mỹ, đồng thời chúng biến Nam Tư để thử các
loại vũ khí công nghệ cao nhằm uy hiếp tinh thần của nhân dân yêu chuộng
hòa bình trên thế giới.
Còn thủ đoạn vũ trang trong chiến tranh hiện đại đã có bước phát triển
toàn diện cả quy mô và tốc độ với chất lượng mới. Qua các cuộc chiến tranh
hiện đại đã xảy ra cho thấy nó mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản phổ biến
chiến tranh trình độ công nghệ cao. Trong chiến tranh các bên tham chiến sử
dụng rộng rãi các phương tiện hiện đại tạo nên sự biến đổi về chất trong công
cụ để tiến hành chiến tranh như: tia la de chùm, vũ khí tàng hình, vũ khí thông
minh, vũ khí điều kiển từ xa, tàu ngầm siêu hiện đại, chiến tranh điện tử,
chiến tranh sinh học…Do đó các thủ đoạn vũ trang đã thay đổi cùng với sự
phát triển của phương tiện vật chất kỹ thuật của chiến tranh, từ tổ chức tác
chiến đơn phương, nay tổ chức hợp đồng quân binh chủng, từ tác chiến có
biên giới phân định giới tuyến, nay tác chiến không biên giới, không xác định
thời gian và không gian. Trong cuộc chiến tranh Mỹ và Na Tô đánh vào Nam
Tư chúng đã thử nghiệm “cuộc chiến tranh không tiếp xúc với đối phương,
bằng vũ khí tàng hình và vũ khí công nghệ cao”. Đến cuộc chiến tranh
23
Cách mạng nước ta đã thành công, sự nghiệp giải phóng dân tộc thống
nhất đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một thành quả vĩ đại của cách
mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tinh thần đấu tranh bất
khuất của nhân dân Việt Nam anh hùng, sự chỉ đạo tài tình đầy mưu lược của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng kẻ thù, đứng đầu là đế quốc Mỹ chưa từ bỏ âm
mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta trên nhiều phương diện chiến tranh
khác nhau. Điều đó đúng như Nghị quyết của Bộ chính trị nhận định “Cuộc
chiến tranh phá hoại kinh tế, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý phá hoại
tư tưởng của địch thực chất là một loại chiến tranh phá hoại rất thâm độc và
toàn diện đối với nước ta cả về quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội, ngoại giao làm
cho ta suy yếu, gây ra bạo loạn, khi có cơ hội thì chúng tiến hành xâm lược”23
Từ nhận định trên thức tỉnh cho chúng càng nhận thức sâu sắc về nguồn
gốc và bản chất chiến tranh theo quan điểm của những người Mác xít, và thấy
được giá trị ý nghĩa luận điểm của Lênin trình bày khá rõ nét về vấn đề nguồn
gốc và bản chất của chiến tranh trong thời đại chủ nghĩa đế quốc. Thời đại ngày
nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới, mở đầu bằng cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, là thời đại đấu
tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội,
gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra những tiền
đề vật chất kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội.
Nói đến chiến tranh trong thời đại hiện nay là chủ yếu đề cập chiến tranh
hiện đại đã diễn ra hiện nay và trong tương lai.
Ngày nay, tuy không còn hệ thống xã hội chủ nghĩa, song mâu thuẫn
giữa chủ nghĩa tư bản với các nước xã hội chủ nghĩa vẫn còn là mâu thuẫn cơ
bản nhất của thời đại. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn tìm
mọi cách, mọi biện pháp để gây chiến tranh xâm lược, kể cả chiến tranh phi
vũ trang để xóa nốt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
25
mới của chiến tranh “phi vũ trang”. Do vậy, các cuộc chiến tranh hiện tại và
trong tương lai vẫn là sự kế tục chính trị. Đó là thuộc tính cơ bản trong bản
chất của chiến tranh vẫn không thay đổi. Mặc dù thủ đoạn vũ trang trong
chiến tranh hiện tại đã có bước phát triển toàn diện với tính chất mới. Nó vẫn
mang các đặc trưng cơ bản của bản chất chiến tranh nhưng ở trình độ kỹ thuật
cao. Cho nên giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam luôn nhận thức đầy
đủ và cảnh giác, tìm mọi cách, kiên quyết ngăn chặc không để chiến tranh xảy
ra dưới bất kỳ hình thức nào, năm 2007, tại Đại hội đồng Liên hợp quốc đã
bầu Việt Nam làm ủy viên không thường trực HĐBA nhiệm kỳ 2008-2009,
đó là một vinh dự lớn, những cũng mang trọng trách lớn góp phần tiếng nói
của mình đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, không ngừng
ngăn chặn chiến tranh, để chiến tranh không xảy ra ở các khu vực và trên thế
giới.
Khơi dậy lòng yêu nước, giáo dục trách nhiệm quyền lợi của công dân và
các kiến thức tư duy về quốc phòng, giúp mọi người có ý thức về lợi ích của
mình trong lợi ích của cả nước, không ảo tưởng về “lòng hảo tâm của Mỹ” dù
chúng có bình thường hóa quan hệ với nước ta song mục tiêu của chúng là
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ta phải mở
rộng cửa làm ăn kinh tế với nhiều nước trên thế giới trong đó có những nước
là kẻ thù của chúng ta trước đây, nhưng phải hạn chế những tiêu cực không để
địch lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, phá hoại dưới mọi hình thức, kể cả bằng
con đường du lịch, hội thảo, trao đổi, giảng dạy, tham quan…
Chủ nghĩa đế quốc, dựa trên ưu thế sức mạnh về kinh tế, quân sự và
khoa học kỹ thuật tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng với
học thuyết “đánh đòn phủ đầu”, đe dọa độc lập chủ quyền của các nước. Quan
hệ của các nước lớn sẽ tiếp tục đan xen cả hai mặt đấu tranh và thỏa hiệp vì