học viện chính trị - hành chính quốc gia
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
ảNH HƯởNG CủA quốc tế CộNG SảN
ĐốI VớI CáCH MạNG VIệT NAM Chủ nhiệm đề tài: Hồ THị Tố LƯƠNG
9
I. Thành lập Quốc tế Cộng sản 9
II. Đờng lối dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản 17
III. Quốc tế Cộng sản tự giải thể 45
Chơng II: ảnh hởng của Quốc tế Cộng sản đối với Nguyễn
ái Quốc và quá trình vận động thành lập Đảng ( 1919-1930)
52
I. Nguyễn ái Quốc lựa chọn con đờng cứu nớc dới ánh sáng
đờng lối của Quốc tế Cộng sản
52
II. Quốc tế Cộng sản với quá trình chuẩn bị và thành lập Đảng 57
Chơng III: Quốc tế Cộng sản với cách mạng Việt Nam (1930-
1943)
85
I. Quốc tế Cộng sản với cao trào cách mạng 1930-1931 và thời kỳ
1932-1935
85
II. ảnh hởng của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đối với cách
mạng Việt Nam
113
III. Những hạn chế của Quốc tế Cộng sản ảnh hởng đến cách
mạng Việt Nam
121
IV. Một số kinh nghiệm 138
Kết luận
143
Danh mục tài liệu tham khảo
146
4
nhà sử học, lý luận, tuyên truyền... ở nhiều nớc khác nhau nghiên cứu.
Giơng cao ngọn cờ cách mạng vô sản, Quốc tế Cộng sản còn đặc biệt chú ý
đến cách mạng giải phóng dân tộc. Phát triển những luận điểm của C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã xác
định nội dung, tính chất, động lực, phơng hớng và tiền đồ của phong trào giải
phóng dân tộc trong thời đại mới phù hợp với quy luật phát triển khách quan của
lịch sử. Phân tích đặc điểm xã hội các nớc phơng Đông, Quốc tế Cộng sản chỉ rõ
các nớc đó tất yếu phải trải qua cuộc cách mạng dân chủ t sản kiểu mới (ngày
nay gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) và từng bớc tiến lên chủ nghĩa xã
hội không phải trải qua giai đoạn t bản chủ nghĩa. Quốc tế Cộng sản không chỉ
giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc bằng đờng lối cách mạng đúng đắn, mà còn
bằng hành động cách mạng thực sự: đào tạo cán bộ cho các đảng cộng sản ở các
nớc thuộc địa và nửa thuộc địa, hỗ trợ về tài chính, tăng cờng mối quan hệ quốc
tế để thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng ở các nớc phơng Đông phát triển.
Đối với cách mạng Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có ảnh hởng và đóng góp vô
cùng quan trọng. Từ năm 1927, trong tác phẩm Đờng cách mệnh, Nguyễn ái
Quốc đã khẳng định: An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ
tam Quốc tế. Cách mạng Việt Nam ngay từ đầu đã vận động trong mối quan hệ
mật thiết với Quốc tế Cộng sản. Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đờng cứu nớc
dới ánh sáng đờng lối của Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản đã trực tiếp giúp
đỡ và chỉ đạo việc thành lập Đảng, đào tạo cán bộ, chỉ đạo về đờng lối chiến lợc,
sách lợc, ủng hộ các phong trào cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng
Việt Nam gắn chặt với đờng lối cách mạng triệt để của Quốc tế Cộng sản về vấn
đề dân tộc và thuộc địa.
Nghiên cứu đề tài: ảnh hởng của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam
để khẳng định sự đóng góp quan trọng của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt
Nam và góp phần vào công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và t
tởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, qua nghiên cứu để thấy rõ bản lĩnh cách mạng, sự lãnh
về cách mạng thuộc địa.
Năm 1998-2000, Viện Hồ Chí Minh thực hiện đề tài khoa học cấp bộ Nguyễn ái
Quốc với Quốc tế Cộng sản (1920-1943) do TS Lê Văn Tích làm Chủ nhiệm.
ở Liên Xô (trớc đây) và Nga ngày nay, một số tác giả đã viết về lịch sử Việt Nam.
Đó là X.A.Mkhitarian với các tác phẩm: Cao trào cách mạng ở Đông Dơng vào đầu
6
những năm 30 của thế kỷ XX, Matxcơva, 1975; Cách mạng Việt Nam: những vấn đề lý
luận và thực tiễn, Matxcơva, 1986; M.P.Ixaiep và A.X.Cherờnsép: Quan hệ Xô - Việt,
Matxcơva, 1975. Các công trình trên đề cập ở mức độ rất sơ lợc đến sự giúp đỡ của
Quốc tế Cộng sản đối với Việt Nam. U.A.Ôgờnhetốp: Quốc tế Cộng sản và phơng
Đông, Matxcơva, 1969; A.B.Redờnhicốp: Chiến lợc và sách lợc của Quốc tế Cộng
sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Những vấn đề lý luận và lịch sử, Matxcơva, 1978;
đây là những cuốn sách viết về lịch sử của Quốc tế Cộng sản với cách mạng thuộc địa.
Trong mối quan hệ của Quốc tế Cộng sản với các nớc thuộc địa rộng lớn nh Trung
Quốc, ấn Độ, Inđônêxia và các nớc ả Rập, các tác giả mới chỉ dừng lại một đôi nét
chấm phá về quan hệ của Quốc tế Cộng sản với Đông Dơng.
A.A.Xôcôlốp: Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Matxcơva, 1998, viết về quá trình
đào tạo cán bộ chính trị cho Việt Nam ở các trờng cộng sản ở Liên Xô trong những
năm 20-30 của thế kỷ XX.
Các tác phẩm của Việt Nam và Nga đề cập đến vấn đề này ở mức độ khác nhau, tạo
điều kiện thuận lợi cho các tác giả của đề tài kế thừa thành quả cả về t liệu, phơng
pháp và cùng với những t liệu mới đợc khai thác ở kho lu trữ của Nga để thực hiện
một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều ngời, nhng cho đến nay cha có một công
trình nào phản ánh đầy đủ và có hệ thống về ảnh hởng của Quốc tế Cộng sản với cách
mạng Việt Nam trong suốt cả thời kỳ từ khi thành lập và đến lúc Quốc tế Cộng sản tự
giải thể ( 1919-1943).
III. Mục tiêu nghiên cứu
- Bằng những tài liệu lịch sử, đề tài sẽ dựng lại bức tranh chân thực quá trình Quốc tế
Cộng sản chỉ đạo, giúp đỡ cách mạng Việt Nam và Đảng Cộng sản Đông D
Ngoài ra, chủ nhiệm mời một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu giai đoạn lịch sử
trớc cách mạng tháng Tám trong và ngoài Học viện tham gia t vấn đề tài và góp ý bản
thảo tổng quan.
VII. Triển vọng nghiên cứu
Sản phẩm nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công
tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy Lịch sử Đảng.
Kết quả nghiên cứu góp phần gợi mở một số kinh nghiệm vào công tác lãnh đạo
thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng. 8
VIII. Kết cấu của tổng quan
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, tổng quan đợc kết cấu thành 3
chơng :
Chơng I: Đờng lối dân tộc và thuộc địa Quốc tế Cộng sản
Chơng II: ảnh hởng của Quốc tế Cộng sản đối với Nguyễn ái Quốc và quá
trình vận động thành lập Đảng (1919-1930)
Chơng III: Quốc tế Cộng sản với cách mạng Việt Nam ( 1930- 1943)
và kết luận.
9
Chơng I
đờng Lối dân tộc và thuộc địa
Của Quốc tế Cộng sản
10
thủ lĩnh cơ hội đã công khai chuyển sang phía giai cấp t sản dân tộc "mình", phản
bội lại quyền lợi của giai cấp công nhân.
Trong thời gian chiến tranh, phong trào công nhân quốc tế và phong trào xã hội
chủ nghĩa đã hình thành ba phái khác nhau: phái chủ nghĩa xã hội - sôvanh, phái
giữa và phái cách mạng - quốc tế chủ nghĩa.
Phái chủ nghĩa xã hội - sôvanh hay là những kẻ cơ hội công khai do E.Bécstanh
cầm đầu. Phái này liên minh công khai với giai cấp t sản nớc mình" tiến hành
chiến tranh đế quốc. Chúng ký kết với giai cấp t sản các hoà ớc và núp dới khẩu
hiệu "Bảo vệ Tổ quốc" trong chiến tranh đế quốc, thực tâm giúp đỡ giai cấp thống
trị lùa đuổi nhân dân lao động ra trận chiến vì lợi nhuận của giai cấp t sản. Phần
lớn các lãnh tụ nổi tiếng của các đảng xã hội - dân chủ đều theo quan điểm của chủ
nghĩa xã hội - sôvanh nh: Ph.Ebéctơ, Ph.Saiđêman (Đức); V. átlơ (áo); P.
Renôđen, S. Gét, M. Xamba (Pháp), G. Gaiđờman (Anh); G. Plêkhanốp (Nga); L.
Bítxôlati (Italia); Ê.Vanđécvenđơ (Bỉ); Ia. Brantinh (Thụy Điển)... ở Pháp, Bỉ, Anh,
những ngời xã hội - sôvanh tham gia vào nội các chính phủ t sản. ở tất cả các
nớc, họ chuyển sang phía giai cấp t sản dân tộc "mình" và trở thành kẻ thù của giai
cấp vô sản.
Phái giữa (hay là những phần tử cơ hội giấu giếm), thực chất là tay sai của chủ
nghĩa xã hội - sôvanh. Nếu nh phái xã hội - sôvanh biện hộ cho việc công nhân
Pháp bắn công nhân Đức, công nhân Đức bắn công nhân Pháp vì sự nghiệp "Bảo vệ
Tổ quốc", công khai kêu gào quần chúng lao động lao vào cuộc chém giết lẫn nhau,
đổ máu vì quyền lợi của giai cấp t sản thì những phần tử giấu mặt nh C.Cauxky
biện hộ sự bảo vệ chiến tranh của mình một cách tinh vi và khéo léo bằng cách núp
dới chiêu bài chủ nghĩa quốc tế, đa ra khẩu hiệu lừa bịp đầy nguy hại là "Hoà
bình trong nớc". Họ cho rằng chỉ có thể tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp trong
thời bình, còn trong thời chiến thì chỉ tiến hành đấu tranh vì hoà bình. Họ từ chối
kêu gọi nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chống chiến tranh.
V.I.Lênin đã viết về C.Cauxky rằng: "Chủ nghĩa Cauxky không phải ngẫu nhiên mà
Sự phản bội nhục nhã của các lãnh tụ các đảng xã hội - dân chủ đối với chủ nghĩa
Mác, đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và đoàn kết quốc tế vô sản, sự chia
rẽ Quốc tế II thành những đảng thù địch lẫn nhau - những đảng đó đã tiến hợp với
chính phủ đế quốc nớc mình - những điều đó đã chứng minh sự phá sản hoàn toàn
về t tởng và tổ chức của Quốc tế II, về sự chấm dứt sự tồn tại của Quốc tế II nh
một tổ chức vô sản quốc tế. Nh vậy, không phải những ngời bônsêvích và V.I.
1
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.26, tr. 408.
2
Sđd, tr. 192-193.
12
Lênin làm tan rã Quốc tế II nh những kẻ chống cộng khẳng định mà chính là những
kẻ xã hội - sôvanh, những kẻ cơ hội đã phá hoại sự thống nhất trong phong trào công
nhân quốc tế. Sự phá sản của Quốc tế II là biểu hiện nổi bật nhất trong việc số đông
các đảng dân chủ - xã hội chính thức ở châu Âu phản bội một cách hèn hạ niềm tin
của họ và những nghị quyết mà họ đã trịnh trọng thông qua ở Stútga và Balơ.
Phong trào vô sản thế giới đặt trớc sự lựa chọn: hoặc từ bỏ khỏi những mục tiêu
cách mạng và chuyển sang con đờng thoả hiệp với giai cấp t sản, hoặc kiên quyết
đoạn tuyệt với chủ nghĩa xã hội - sôvanh, đoàn kết tất cả các lực lợng cách mạng và
quốc tế và thành lập Quốc tế mới, có khả năng tiếp tục những truyền thống cách
mạng vẻ vang đã đợc những ngời thầy vĩ đại của giai cấp công nhân là C.Mác và
Ph.Ăngghen đặt nền móng. Bởi vì, thời đại mới, những nhiệm vụ cách mạng lớn lao
đứng trớc giai cấp vô sản đòi hỏi không cải tổ lại Quốc tế cũ đã bị phá sản, mà đòi
hỏi sự thành lập một tổ chức Quốc tế mới. Tổ chức đó có khả năng khôi phục tính
chất quốc tế của phong trào vô sản và đa công nhân vào cuộc tiến công chế độ t
sản. Nhấn mạnh ý tởng này, V.I.Lênin viết: "Quốc tế III có nhiệm vụ tổ chức những
lực lợng của giai cấp vô sản nhằm tiến công cách mạng vào các chính phủ t bản
chủ nghĩa, nhằm tiến hành nội chiến chống giai cấp t sản tất cả các nớc để giành
và tổ chức của Quốc tế Cộng sản.
Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, hai hội nghị xã hội chủ nghĩa
quốc tế đợc triệu tập ở Thụy Sĩ. 12 nớc châu Âu tham dự Hội nghị thứ nhất họp ở
Ximmécvan từ ngày 5 đến ngày 8-9-1915. Tại hội nghị này, V.I.Lênin tổ chức ra
một nhóm gọi là "Phái tả Ximmécvan". Phái tả Ximmécvan chủ trơng đoạn tuyệt
với Quốc tế II, đoàn kết tất các phần tử cách mạng và thành lập Quốc tế mới. Phái
tả bầu ra cơ quan lãnh đạo - Ban Thờng vụ do V.I.Lênin đứng đầu. V.I.Lênin đánh
giá cao tầm quan trọng của Hội nghị Ximmécvan đối với cánh tả của dân chủ - xã
hội quốc tế. Ngời viết rằng: "ý nghĩa của hội nghị (bớc đầu tiến tới Quốc tế III;
một bớc rụt rè và không triệt để tiến tới sự phân liệt với chủ nghĩa cơ hội. Khả
năng "tái phạm")"
1
, vì nó đã vũ trang về t tởng và góp phần đoàn kết tất cả các
chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa trong phong trào công nhân.
Trong Hội nghị thứ hai họp ở Kientan từ ngày 24 đến ngày 30-4-1916, phái tả
Ximmécvan chiếm 10/41 đại biểu. Hội nghị thông qua Nghị quyết về hình thức lên
án chính sách xã hội - sôvanh của Ban Thờng vụ Xã hội chủ nghĩa quốc tế, nhng
không có một kết luận nào từ sự kiện phản bội sự nghiệp giai cấp vô sản của các
lãnh tụ Quốc tế II.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mời làm thay đổi tình hình quốc tế và tạo điều
kiện để thành lập Quốc tế III.
1
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 49, tr. 189.
14
Dới ảnh hởng của Cách mạng Tháng Mời, phong trào cách mạng đã lan ra
khắp thế giới t bản: Phần Lan, Đức, áo, Hung... nhờ đó quá trình hình thành các
đảng cộng sản đã đợc đẩy mạnh. Tháng 1-1918 thành lập Đảng Quốc tế - xã hội
chủ nghĩa áchentina, đến cuối năm 1920 đổi tên thành Đảng Cộng sản áchentina.
15
đoàn. Tham dự Hội nghị có 52 đại biểu của 35 tổ chức của 21 nớc châu Âu, châu Mỹ và
châu á. Trong số đó, đại biểu của 19 tổ chức có quyền bỏ phiếu quyết định, đại biểu của 16
tổ chức chỉ là đại biểu dự thính. Các đại biểu đại diện cho các đảng cộng sản, các đảng xã
hội chủ nghĩa và các nhóm cánh tả của áo, Bungari, Anh, Hunggari, Đức, các vơng quốc
của ngời Xécbi, Kharvátia, ngời Xlôven, Hà Lan, Na uy, Ba Lan, Rumani, Nga Xôviết,
Phần Lan, Pháp, Tiệp Khắc, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Mỹ. Các đoàn đại biểu độc lập của các tổ
chức cộng sản Ucơraina, Látvia, Lítva, Bêlarútxia, étxtônia, ácmênia, ngời Đức ở vùng
Vônga, Tuốcmênia, Grudia, Adécbaigian. Lần đầu tiên, các đại biểu của nhân dân bị áp
bức nh: Iran, Trung Quốc, Triều Tiên, Thổ Nhĩ Kỳ tham gia hội nghị quốc tế nh thế này.
Sau khi thông báo sự phát triển của phong trào cách mạng ở hàng loạt nớc,
chiều ngày 3-3-1919, Hội nghị thảo luận và ngày 4-3-1919 thông qua Cơng
lĩnh của Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản. Cơng lĩnh thể hiện những điểm căn
bản của học thuyết Lênin về chủ nghĩa đế quốc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
"Xuất hiện thời đại mới - thời đại tan rã chủ nghĩa t bản, sự sụp đổ trong nội
bộ chủ nghĩa t bản, thời đại cách mạng cộng sản của giai cấp vô sản"
1
. Cơng
lĩnh chỉ ra rằng việc lập chuyên chính vô sản là một nhiệm vụ trực tiếp ở nhiều
nớc t bản. Chuyên chính vô sản - không phải là mục đích tự thân, mà chỉ là
phơng tiện để tiến hành cách thay đổi xã hội - kinh tế vì quyền lợi của công
nhân và nhân dân lao động. Cơng lĩnh nhấn mạnh sự cần thiết tuyệt đối để
giai cấp vô sản phối hợp hoạt động của mình trong phạm vi quốc tế, gắn liền
quyền lợi cuộc đấu tranh giai cấp trong khuôn khổ dân tộc với nhiệm vụ cách
mạng thế giới.
Ngày hôm sau, Hội nghị nghe Luận cơng và Báo cáo của V.I.Lênin về dân chủ
t sản và chuyên chính vô sản. Phân tích sâu sắc những hạn chế của dân chủ t sản,
V.I.Lênin đã chứng minh sự cần thiết lịch sử phải thay thế nó bằng chuyên chính vô
sản.
những ngời cộng sản trên thế giới, không chỉ ở châu Âu và châu Mỹ, mà của tất cả
các dân tộc và các chủng tộc, không chỉ từ các nớc đi áp bức, mà đặc biệt quan
trọng, cả ở những nớc bị áp bức. "Đó là điều khác cơ bản giữa Quốc tế III so với
Quốc tế I và Quốc tế II"
2
.
Quốc tế Cộng sản đợc thành lập đã đáp ứng đợc những yêu cầu cấp bách của
những ngời mácxít chân chính, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cộng sản,
công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc tiến lên một giai đoạn phát
triển mới. Đó là thắng lợi vĩ đại của phong trào cộng sản, công nhân, nhân dân lao
động và các dân tộc bị áp bức trên khắp năm châu. Đánh giá ý nghĩa lịch sử toàn
1
Viện Mác - Lênin: V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản, Nxb. Sách chính trị, Mátxcơva, 1970, tiếng
Nga, tr.135.
2
Viện Mác - Lênin: Quốc tế Cộng sản và những truyền thống cách mạng của nó, Nxb. Sách chính
trị, Mátxcơva, 1969, tiếng Nga, tr.117.
17
thế giới của việc thành lập Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin viết: Việc thành lập Quốc
tế III, tức Quốc tế Cộng sản, ở Mátxcơva, ngày 2 tháng Ba 1919, là sự ghi lại những
cái không những do quần chúng vô sản Nga, quần chúng vô sản toàn nớc Nga, mà
còn do quần chúng vô sản các nớc Đức, áo, Hung, Phần Lan, Thụy Sĩ, tóm lại, do
quần chúng vô sản quốc tế, đã giành đợc.
Chính vì vậy việc thành lập Quốc tế III tức Quốc tế Cộng sản, là một sự nghiệp
bền vững
1
; Quốc tế II đã đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để cho phong trào lan
rộng trong quần chúng ở nhiều nớc.
18
phóng lực lợng sản xuất của tất cả các nớc khỏi sự kìm kẹp của các quốc gia dân
tộc... và đem lại cho các dân tộc nhỏ yếu nhất và ít ngời nhất khả năng điều khiển
các công việc của nền văn hoá dân tộc mình một cách tự do và độc lập
1
. Tuyên ngôn
lên án một cách kiên quyết và nghiêm khắc sự áp bức của các đế quốc ở các thuộc
địa: "Cha bao giờ bức tranh ô nhục của nô lệ t bản ở các nớc thuộc địa lại trơ trẽn
nh vậy, cha bao giờ vấn đề nô lệ thuộc địa lại đợc đặt ra một cách gay gắt nh
hiện nay"
2
. Tuyên ngôn còn chỉ ra phong trào cách mạng ở các thuộc địa: Đã có hàng
loạt cuộc khởi nghĩa công khai và tinh thần cách mạng lan rộng trong tất cả các
thuộc địa... ở Mađagaxca, ở An Nam và những nơi khác, quân đội của nớc cộng hoà
t sản đã nhiều lần đàn áp các cuộc khởi nghĩa của những nô lệ thuộc địa trong thời
gian chiến tranh. Tuyên ngôn khẳng định vấn đề thuộc địa đợc đặt ra một cách toàn
diện không chỉ ở trên các bản đồ của hội nghị ngoại giao ở Pari, mà cả ở trong chính
các thuộc địa. Tuyên ngôn chỉ rõ sự kết hợp chặt chẽ giữa cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân "chính quốc" với cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân thuộc địa
và cho rằng chiến thắng của cách mạng vô sản châu Âu là điều kiện cần thiết cho sự
giải phóng và tồn tại độc lập của nhân dân các thuộc địa: Sự giải phóng các thuộc
địa có thể đợc chỉ cùng với sự giải phóng giai cấp công nhân ở các chính quốc.
Công nhân và nông dân không chỉ ở An Nam, Angiêri, Bengalia, mà cả ở Iran và
ácmênia sẽ chỉ nhận đợc khả năng sống độc lập khi công nhân Anh và Pháp lật đổ
Lôít Gioócgiơ và Clêmăngxô giành chính quyền nhà nớc về tay mình
3
.
Tuyên ngôn kêu gọi: "Hỡi những ngời nô lệ thuộc địa ở châu Phi và châu á! Giờ
của chuyên chính vô sản ở châu Âu sẽ điểm đối với các anh nh là giờ giải phóng của
tranh của nhân dân bị áp bức: Khi cuộc tiến công cách mạng của công nhân bị
bóc lột và bị áp bức trong nội bộ mỗi một nớc, do chiến thắng đợc sự kháng
cự của những phần tử tiểu t sản và do chiến thắng ảnh hởng của một dúm rất
ít công nhân quý tộc mà thống nhất đợc với cuộc tiến công cách mạng của
hàng trăm triệu ngời, từ xa đến nay, vẫn đứng ngoài lịch sử, vẫn chỉ đợc coi
là đối tợng của lịch sử, thì nhất định chủ nghĩa đế quốc toàn thế giới sẽ bị sụp
đổ
1
.
Cũng trong bản Báo cáo trên, V.I.Lênin chia ra làm ba nhóm các nớc bị áp
bức: thuộc địa, nửa thuộc địa và những nớc phụ thuộc về tài chính.
Đại hội đã nghe Báo cáo của Uỷ ban về vấn đề dân tộc và thuộc địa do
V.I.Lênin trình bày và ngày 28-7-1920, thông qua Luận cơng về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa gồm 12 điểm. Ngày 29-7-1920, Đại hội thông qua Luận cơng bổ
sung về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa gồm 9 điểm.
Luận cơng về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là văn kiện tổng kết quan
điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hai vấn đề đó trong thời đại đế quốc chủ
nghĩa và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Luận cơng đề ra chơng trình hành động
cho các đảng cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi.
Đầu tiên, Luận cơng khẳng định: đối với dân chủ t sản thì vấn đề bình đẳng
1
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 41, tr. 280.
20
nói chung, trong đó có quyền bình đẳng dân tộc, chỉ là trừu tợng và hình thức. Vì
vậy, ý nghĩa thực sự của yêu cầu bình đẳng chính là yêu cầu xoá bỏ các giai cấp.
Cuộc chiến tranh thế giới năm 1914-1918 đã phơi bày trớc tất cả các dân tộc và
các giai cấp bị bóc lột trên toàn thế giới sự dối trá của những lời lẽ dân chủ t sản.
Điểm 4 của Luận cơng khẳng định: Trọng tâm trong toàn bộ chính sách của
21
cuộc cải cách có tính chất tiểu t sản, nh chia ruộng đất, v.v..
Đại hội II đã thảo luận vấn đề về khả năng phát triển bỏ qua giai đoạn t bản
chủ nghĩa của các nớc lạc hậu: Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nớc
tiên tiến, các nớc lạc hậu có thể tiến tới chế độ xôviết, và qua những giai đoạn
phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn
phát triển t bản chủ nghĩa
1
.
Tuy nhiên, cần phải có những điều kiện bên trong để bỏ qua giai đoạn phát triển
t bản chủ nghĩa là: nhân dân áp bức phải giành đợc độc lập dân tộc, thành lập
đảng cộng sản, đi theo con đờng tiến bộ xã hội về chính trị, kinh tế và văn hoá,
đào tạo đội ngũ cán bộ xây dựng các tổ chức quần chúng, thành lập các xôviết nông
dân, xôviết của những ngời lao động.
Một số đảng cách đây không lâu còn thuộc Quốc tế II, nay muốn gia nhập Quốc
tế III, nhng họ vẫn thực hiện chính sách của phái cơ hội và phái giữa. Vì vậy, ngày
6-8-1920, Đại hội II thông qua quyết định Những điều kiện kết nạp vào Quốc tế
Cộng sản gồm 21 điểm quy định chặt chẽ những nguyên tắc tổ chức để bảo đảm
cho sự thống nhất tập trung về t tởng và chính trị.
Đó là một thắng lợi lớn của Quốc tế III, Quốc tế hành động cách mạng thực sự,
chống lại những quan điểm cơ hội, nói suông, tàn d của Quốc tế II.
Đại hội II của Quốc tế Cộng sản đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát
triển lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc và thời
kỳ đầu của quá trình từ chủ nghĩa t bản sang chủ nghĩa xã hội.
Sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt đối với phong trào cách mạng phơng Đông
là Đại hội I các dân tộc phơng Đông họp ở Bacu từ ngày 1 đến ngày 8-9-1920.
Đại biểu của 37 dân tộc tham dự Đại hội. Đại hội đã thông qua hàng loạt nghị
quyết với tinh thần của các nghị quyết của Đại hội II Quốc tế Cộng sản và t tởng
thống nhất phơng Tây vô sản và phơng Đông bị áp bức với nhau. T tởng đó
thác cách mạng thống nhất trong phong trào cộng sản ở chính quốc với phong
trào giải phóng dân tộc.
Trong phiên họp cuối cùng ngày 7-9-1920, Đại hội thông qua Nghị quyết tổ
chức Trờng Đại học khoa học xã hội cho các dân tộc phơng Đông cùng với việc
thành lập Hội đồng tuyên truyền các dân tộc phơng Đông và ra tạp chí Các dân
tộc phơng Đông.
Nh vậy, Đại hội II Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva năm 1920 đã hoàn
thành việc thống nhất tất cả quần chúng cách mạng của giai cấp vô sản Tây Âu và
dân nghèo đang đấu tranh nhanh chóng lật đổ ách thống trị chủ nghĩa t bản thành
một tổ chức thống nhất sắt đá. Đại hội các dân tộc phơng Đông bổ sung cho sự
thống nhất đó bằng cách thu hút vào sự thống nhất đó hàng triệu quần chúng nông
dân các nớc phơng Đông, hàng triệu ngời lao động tất cả các nớc thuộc địa
và nửa thuộc địa lạc hậu.
Đại hội III của Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva từ ngày 22-6 đến ngày 12-
1
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 42, tr. 86.
23
7-1921. Ngoài những vấn đề trung tâm về tình hình thế giới, chiến lợc và sách
lợc của các đảng cộng sản, Đại hội còn thảo luận "Vấn đề phơng Đông", trên
thực tế, đó cũng là thảo luận vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Trong Đề cơng báo cáo về sách lợc của Đảng Cộng sản Nga, V.I.Lênin đã
phân tích sâu sắc tình hình thế giới, tơng lai và những nhiệm vụ đấu tranh cách
mạng, phong trào cách mạng thế giới nh một quá trình thống nhất, trong đó có ba
lực lợng chính hoạt động: đất nớc của giai cấp vô sản đã chiến thắng, phong trào
cách mạng của các nớc t bản và cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân bị áp
bức. Nhận định phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ phi thờng trong hàng
trăm triệu ngời thuộc các dân tộc bị áp bức ở phơng Đông, V.I.Lênin viết về ý
nghĩa của phong trào giải phóng dân tộc: Quần chúng cần lao ở các nớc thuộc địa
phía Quốc tế Cộng sản: Nhận thức rõ rằng trong những điều kiện lịch sử khác
nhau, thì có những đại biểu khác nhau đại diện cho ý chí đòi độc lập quốc gia của
mỗi dân tộc, Quốc tế Cộng sản ủng hộ tất cả mọi phong trào cách mạng - dân tộc
chống chủ nghĩa đế quốc
1
.
ở phần lớn các nớc phơng Đông vấn đề ruộng đất có một ý nghĩa hết sức
quan trọng: Chỉ có cách mạng ruộng đất đặt cho mình nhiệm vụ trng thu chiếm
hữu nhiều ruộng đất, mới có khả năng phát động đông đảo quần chúng nông dân,
những ngời có ảnh hởng quyết định đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế
quốc
2
.
Đề cơng xác định nhiệm vụ của các đảng cộng sản và các đảng công nhân ở
các nớc thuộc địa và nửa thuộc địa nh sau: một mặt, họ đấu tranh nhằm giải
quyết triệt để những nhiệm vụ cách mạng t sản dân chủ, tức là giành độc lập chính
trị của nớc nhà; mặt khác, họ phải lợi dụng mọi mâu thuẫn trong mặt trận dân chủ
t sản kiểu dân tộc chủ nghĩa, tổ chức quần chúng công nông lại để đấu tranh cho
lợi ích giai cấp riêng biệt của họ.
Đối với giai cấp công nhân, Đại hội nhắc nhở rằng chỉ có mở rộng và làm sâu
sắc thêm cuộc đấu tranh chống ách áp bức đế quốc mới có thể đa giai cấp công
nhân giữ vai trò ngời lãnh đạo cách mạng.
Cùng với khẩu hiệu thành lập mật trận công nhân thống nhất ở phơng Tây, Đại
hội đa ra khẩu hiệu lập mặt trận thống nhất chống đế quốc ở phơng Đông: "ở
phơng Đông thuộc địa trong thời gian hiện tại cần thiết phải đề ra khẩu hiệu mặt
trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc"
3
. Những ngời cộng sản phải đề ra nhiệm
vụ đoàn kết vào mặt trận thống nhất tất cả những ai có khả năng chống đế quốc và
đề ra chơng trình cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến và dân chủ ở các