Phát triển con người và một số vấn đề trong phát triển con người ở thái nguyên hiện nay (TT) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ NGHĨA

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học
Hướng dẫn 1: GS.TS. Hồ Sĩ Quý
Hướng dẫn 2: TS.Vũ Thị Tùng Hoa

Phản biện 1: GS.TS Lê Văn Quang
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
Phản biện 3: PGS.TS Lê Thanh Thập
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại: Học viện Khoa học xã hội
vào hồi………..….giờ…………phút,
ngày………tháng……….năm………………..

đã nhấn mạnh “một trong những thiếu hụt nghiêm trọng của con người
là không được sử dụng, sử dụng sai cách hoặc sử dụng không triệt để
tiềm năng của họ để phục vụ cho phát triển con người (…). Việc khai
mở tiềm năng con người càng trở nên quan trọng nếu xem xét đến
những thách thức phát triển con người đang nổi lên”. Sự thật là, thế giới
ngày càng giàu có hơn nhưng bất bình đẳng về thu nhập, tài sản và cơ
1


hội cũng ngày càng lớn bên cạnh bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dai
dẳng; những cú sốc về kinh tế, tài chính, thiên tai và dịch bệnh vẫn đang
đe dọa an ninh con người… Trong khi những thành tựu văn hóa và văn
minh đạt tới trình độ cao hơn, thì không phải vì thế mà những vấn đề về
PTCN sẽ dần mất đi hay bớt căng thẳng hơn. Mặc dù được giải quyết
ngày càng căn bản, nhưng những vấn đề mới và cũ về phát triển con
người lại cũng xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp.
Trong bối cảnh chung đó, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về
PTCN vẫn đang tiếp tục được chú ý ở trình độ sâu sắc hơn, nhằm từng
bước tháo gỡ, giải quyết những vấn đề về PTCN đang đặt ra trong thực
tiễn ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Với triết học Mác, con người và PTCN là một trong những nội dung
rất căn bản. Trong suốt thế kỷ XX và hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa
Mác về con người và PTCN vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả
và các nhà hoạt động xã hội, bởi ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của
nó trong giải quyết những vấn đề mới của PTCN hiện đại. “Sự phát triển
tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người”, tư tưởng nổi tiếng của C. Mác và Ph. Ănghen nêu trong “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay vẫn là tư tưởng có ý nghĩa lý tưởng
đối với mọi lý thuyết về PTCN.
Ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong PTCN gắn liền với những

trung bình cao của cả nước. NHDR 2015 của Việt Nam đã đánh giá cao
mức độ tăng trưởng HDI của tỉnh trong những năm qua. Nhiều chỉ số
thành phần của PTCN ở Thái Nguyên cũng ở mức rất tích cực.
Tuy thế, trong bối cảnh chung như NHDR 2015 đã đánh giá, Việt
Nam sau khi đạt được những thành tựu lớn về PTCN từ đổi mới đến nay
thì đang yếu dần trong thập kỷ vừa qua, và Thái Nguyên cũng không
nằm ngoài bối cảnh đó. Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008, tăng trưởng thu nhập của Thái Nguyên giảm sút đã trực tiếp dẫn
tới sự tiến bộ chậm lại trong các lĩnh vực phi thu nhập. Tăng trưởng kinh
tế của Thái Nguyên chưa đạt tới trình độ “tăng trưởng bao trùm”. Mức
độ chênh lệch vẫn còn sâu sắc giữa các địa phương, giữa các ngành kinh
tế trên địa bàn tỉnh, làm hạn chế sự PTCN. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo
3


cao, giảm nghèo chưa bền vững, ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện
chỉ số HDI. Chất lượng y tế không đồng đều và có sự chênh lệch đáng
kể giữa thành phố với các địa phương khác; bất bình đẳng trong giáo dục
vẫn còn cao, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được ứng yêu cầu của sự
PTCN. Sự xuống cấp của văn hóa, đạo đức cùng các tệ nạn xã hội đang
tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân. Sự đảm
bảo về y tế, giáo dục, an sinh xã hội ở các huyện miền núi, vùng cao còn
nhiều bất cập và hạn chế….
Thực tiễn PTCN ở Thái Nguyên cũng như ở cấp độ quốc gia trên
thực tế đang đặt ra những vấn đề mới, bức xúc, đòi hỏi phải được nghiên
cứu sâu hơn cả về lý luận và thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ vấn đề và đưa
ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho sự nghiệp PTCN nói chung.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn “Phát triển con người và một
số vấn đề trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.

4.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
- Cơ sở phương pháp luận của luận án là Phép biện chứng duy vật.
- Luận án được thực hiện trên cơ sở các chỉ dẫn lý luận và phương
pháp luận về con người và phát triển con người của C.Mác Ph.Ăngghen; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cộng sản
Việt Nam có liên quan trực tiếp đến PTCN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với phương pháp luận biện chứng duy vật, luận án sử dụng
các phương pháp như logic - lịch sử; phân tích hệ thống; quy nạp - diễn
dịch; tổng hợp - phân tích; so sánh - đối chiếu, thống kê,…
Luận án sử dụng các Báo cáo phát triển con người toàn cầu của
UNDP từ 1990 đến nay; các Báo cáo phát triển con người của Việt Nam
(Báo cáo quốc gia về phát triển con người từ 2001 đến nay); các báo cáo
kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên có liên quan đến PTCN… như là

5


các chỉ dẫn lý thuyết, cũng đồng thời là nguồn số liệu thực tiễn tin cậy để
phân tích lý luận.
- Luận án chú trọng kế thừa những kết quả của các nghiên cứu lý
luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích, hệ thống hóa và làm rõ logic của những quan
niệm lý luận cơ bản về PTCN đi từ quan điểm của triết học Mác, của
Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của
UNDP.
- Trên cơ sở thừa nhận định nghĩa của UNDP, luận án đã đề xuất

về phát triển con người
So với các chủ đề khác trong triết học Mác, các công trình nghiên
cứu quan niệm của triết học Mác về con người và PTCN không nhiều,
nhất là về PTCN. Những thập niên gần đây, chủ đề này được quan tâm
nhiều hơn, nên được nghiên cứu phong phú hơn và sâu sắc hơn. Trong
luận án chúng tôi đã tổng quan những công trình của các tác giả Hoàng
Chí Bảo, Đặng Hữu Toàn, Hồ Sĩ Quý, Nguyễn Anh Tuấn, Lưu Minh
Văn, Lê Công Sự, Cao Thu Hằng,… và một số tác giả khác. Những
công trình đó chủ yếu phân tích quan điểm của triết học Mác về bản chất
con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, về giải
phóng con người, về vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát
triển của lịch sử nhân loại và về sự phát triển tự do của con người. Các
tác giả đi trước đã khẳng định giá trị khoa học, ý nghĩa phương pháp
luận to lớn của triết học Mác về con người và PTCN đối với những
nghiên cứu về vấn đề con người và PTCN hiện nay.
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về quan điểm của Chương
trình phát triển liên hợp quốc về phát triển con người
Tổng quan công trình của các tác giả Amartya Sen, Hồ Sĩ Quý, Phạm
Thành Nghị, Hyungkee Kim, Trịnh Thị Kim Ngọc, Nguyễn Đình Tuấn,
Đào Minh Hương…, chúng tôi thấy quan điểm của UNDP về PTCN đã
được chú ý phân tích ở một số điểm sau:

7


Một là, những điểm mới trong quan niệm của UNDP về PTCN, triết
lý con người là trung tâm của sự phát triển đã nhận được sự tán đồng của
hầu hết các nước thuộc Liên hợp quốc.
Hai là, mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng chỉ số HDI là bộ công cụ
khá lý tưởng để lượng hóa mức độ phát triển của người dân ở các quốc

1.2.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con
người Thái Nguyên và một số giải pháp nhằm phát triển con người ở
Thái Nguyên hiện nay
Nghiên cứu trực tiếp về PTCN Thái Nguyên, hiện mới chỉ có một
Luận án địa lý kinh tế của Vũ Vân Anh bàn đến sự biến động của chỉ số
HDI của tỉnh giai đoạn 1999 – 2009, có đề xuất giải pháp cải thiện chỉ số
PTCN của tỉnh. Các tài liệu khác chỉ nói đến PTCN Thái Nguyên một
cách gián tiếp. Các NHDR coi PTCN Thái Nguyên là một nội dung
thành phần hoặc nội dung minh họa. Các tác giả Hoàng Thị Mỹ Hạnh,
Hà Thị Thu Hằng, Vũ Vân Anh… xem xét PTCN Thái Nguyên như là
nhân tố có ảnh hưởng đến các nội dung nghiên cứu văn hóa, lịch sử…
Nhìn chung, cho đến nay những công trình nghiên cứu về PTCN
Thái Nguyên, nhất là dưới góc độ triết học còn rất ít và chưa có. Vì vậy
mà những vấn đề và những giải pháp đưa ra nhằm PTCN Thái Nguyên
còn hết sức khiêm tốn. Có thể thấy đây là khoảng trống để giới nghiên
cứu, trong đó có NCS tiếp tục nghiên cứu cả về phương diện lý luận và
thực tiễn.
Chương 2
SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
2.1. Quan điểm của triết học Mác về phát triển con người
2.1.1. Sự phát triển của những cá nhân hiện thực được quy định
bởi hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ
PTCN theo Mác, không phải là sự phát triển của những con người
trừu tượng, chung chung, phi hoàn cảnh nào đó, mà là sự phát triển của
những con người hiện thực, con người xã hội, những cá nhân hiện thực,
“tức là những con người được quy định bởi hoạt động của họ và những
điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn
cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra”. Sự phát
9


đó, mà nó còn tạo ra những tiền đề hiện thực để sự PTCN với tư cách là
10


cá nhân và cả cộng đồng - tự do của mỗi người chẳng những không cản
trở tự do của người khác mà ngược lại, còn trở thành điều kiện cho sự
phát triển tự do của tất cả mọi người. Trong xã hội đó, con người có đầy
đủ điều kiện và phương tiện hiện thực để “phát triển toàn diện những
năng khiếu” của bản thân, để phát triển bản chất xã hội phong phú, để
con người tồn tại đúng với ý nghĩa chân chính của từ này.
2.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển con
người
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Vấn đề PTCN theo
Người “đó là phát triển con người toàn diện, với mọi năng lực sáng tạo
của mình, thực hiện những quyền cơ bản thiêng liêng của con người –
quyền được sống trong độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Đảng
cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng sáng tạo triết học Mác và tư
tưởng Hồ Chí Minh về PTCN trong quá trình xây dựng và PTCN Việt
Nam. Căn cứ vào các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước từ
những năm 90 đến nay, luận án đã phân tích quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam về PTCN ở những nội dung chính sau:
2.2.1. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
kinh tế - xã hội
Đảng ta đã khẳng định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát
triển là vì con người, do con người”; “đặt con người vào vị trí trung tâm
của chiến lược kinh tế - xã hội”. Không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh
tế, khoa học, công nghệ hay một yếu tố nào khác mà chính con người, sự
PTCN được coi là mục tiêu của sự phát triển.
Con người là động lực của sự phát triển được hiểu là con người là

nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm
lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”, “và các điều kiện để
mọi người được phát triển toàn diện”.
2.3. Quan điểm của Chương trình phát triển Liên hợp quốc về
phát triển con người
2.3.1. Con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội

12


Đây là tư tưởng lớn của UNDP từ HDR 1990 được các quốc gia
LHQ đặc biệt hưởng ứng. Con người là trung tâm của sự phát triển, mục
tiêu của phát triển là vì con người, nhằm nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của người dân một cách hiệu quả, bền vững, chứ không phải là
sự gia tăng đơn thuần về GDP hay của cải vật chất..
2.3.2. Phát triển con người là tăng cường năng lực và mở rộng cơ
hội cho sự lựa chọn của con người
Định nghĩa của UNDP về PTCN 1990 và được tái khẳng định 1999
và 2013 chính là mở rộng cơ hội lựa chọn và tăng cường năng lực con
người. Tư tưởng này bắt đầu từ Amartya Sen và sau đó Mahbub Ul Haq
và Amartya Sen cùng đưa vào HDR đầu tiên. Cơ hội lựa chọn và tính
mở của nó phụ thuộc một phần ở thể chế xã hội. Các năng lực của con
người cần được mở rộng bao gồm các năng lực sinh thể và các năng lực
tinh thần. Quá trình lựa chọn này được mở rộng có nghĩa là con người
được sống trong môi trường mà ở đó khả năng sáng tạo, sống khỏe
mạnh, được học hành và trường thọ tăng lên.
2.3.3. Phát triển con người cần phải được thể hiện bằng kết quả
của các nghiên cứu định lượng
HDI là bộ công cụ quan trọng và có giá trị thực tiễn to lớn trong việc
đánh giá mức độ PTCN của mỗi quốc gia. Cùng với HDI, đến nay trong

được các yêu cầu kỳ vọng của xã hội về đức trí, thể, mỹ,… Hay nói một
cách khác đó là con người phát triển toàn diện, đó là kết quả của “sự
phát triển tự do của con người”.
Nếu nói một cách ngắn gọn thì chúng tôi xin đưa ra định nghĩa rằng:
Phát triển con người là quá trình vận động từ thấp đến cao của sự giải
phóng mọi năng lực của con người xã hội trong những điều kiện kinh tế
- văn hóa - xã hội của các xã hội cụ thể; là sự thể hiện ngày càng phong
phú hơn, đầy đủ hơn bản chất Người của con người. Phát triển con người
là quá trình mà con người ngày càng hạnh phúc hơn, tự do hơn.

14


Chương 3
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến con người và phát triển con
người Thái Nguyên
Luận án đã đưa ra những dữ liệu về những yếu tố lịch sử - tự nhiên,
văn hóa - xã hội để minh chứng rằng, Thái Nguyên có những ưu thế nhất
định về tài nguyên, cho phép tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Giao thông tương đối phát triển và có thể coi là thuận lợi. Sau 30 năm
đổi mới, những thành tựu trong kinh tế, chính trị, văn hóa, y tế, giáo dục
và các lĩnh vực khác nói chung đã trở thành điều kiện tốt cho sự PTCN ở
Thái Nguyên hiện nay.
3.2. Thực trạng về phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay
3.2.1. Phát triển con người Thái Nguyên về mặt thể chất
Thu nhập ngày càng tăng, mức sống và chất lượng sống được cải
thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào sự PTCN về mặt thể chất
GDP bình quân đầu người của Thái Nguyên hiện trong nhóm trung

tăng cường cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế của người dân.
3.2.2. Phát triển con người Thái Nguyên về mặt tinh thần
Được xem xét và trình bày ở 2 nội dung: PTCN Thái Nguyên về mặt
trí lực và về mặt văn hóa
- Về mặt trí lực
Hiện mức chi cho GD ĐT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất và liên tục tăng.
2010 con số này là 1.210,7 tỷ đồng, 2014 tăng lên 2.303,4 tỷ đồng. Hệ
thống trường, lớp ở các cấp học, ngành học được mở rộng và ngày càng
phát triển. 12/2014 Thái Nguyên đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ em 5 tuổi. Công bằng trong giáo dục mầm non của tỉnh cũng
được thực hiện khá tốt. Với giáo dục phổ thông, số trường học tăng
nhanh; số giáo viên hiện có trên 11.000 và 100% đạt chuẩn. Tỷ lệ đi học
đúng tuổi ở bậc tiểu học trên 95% và bậc THCS là trên 90%; tỷ lệ thi đỗ
tốt nghiệp THPT hàng năm đạt trên 97%. Thái Nguyên là tỉnh đầu tiên
của khu vực TDMNPB và tỉnh thứ 9 đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi mức độ 2.
16


Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ 3 cả nước có nhiều trường đại học, cao
đẳng, viện nghiên cứu. Chất lượng giảng dạy, nghiên cứu ngày càng
được nâng lên. Từ 2015 đến nay, một số trường đã kết hợp với các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận trong việc đào tạo gắn
với nhu cầu thực tế của xã hội, nâng chất lượng đào tạo, mở rộng cơ hội
và kỹ năng thực tế cho người học.
- Về mặt văn hóa tinh thần
Thái Nguyên là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cũng là nơi giao
lưu, tiếp biến mạnh với văn hóa bên ngoài. Chiều sâu văn hóa trong tâm
lý, tính cách, ngôn ngữ, giao tiếp của cộng đồng người Thái Nguyên thể
hiện rõ. Hiện nay, các hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị

tăng lên. Chỉ số giáo dục tăng từ 0,83 lên 0,88, chỉ số tuổi thọ từ 0,75 lên
0,80 – đây là 2 chỉ số rất cao so với cả nước và đứng đầu khu vực
TDMNPB; chỉ số thu nhập tăng nhanh nhất, từ 0,34 lên 0,54 điểm. GDP
đóng góp 2,3 điểm phần trăm vào tốc độ tăng HDI và 51,04% vào chỉ số
HDI. Chỉ số giáo dục đóng góp vào tốc độ tăng trưởng HDI là 2,21 điểm
phần trăm tốc độ tăng trưởng HDI và 48,96% vào chỉ số HDI. Chỉ số
tuổi thọ không tăng mà lại giảm nhẹ nên không góp phần vào tốc độ
tăng trưởng giá trị HDI giai đoạn này. Nhìn vào sự đóng góp của các chỉ
số thành phần đối với tốc độ tăng HDI có thể thấy rất rõ mức độ PTCN
của Thái Nguyên thể hiện ở từng mặt như thế nào.
3.3. Một số vấn đề đặt ra đối với sự phát triển con người ở Thái
Nguyên giai đoạn hiện nay
3.3.1. Chênh lệch về trình độ phát triển còn sâu sắc giữa các địa
phương, giữa các ngành kinh tế làm hạn chế sự phát triển con người
Khi xem xét thu nhập của từng địa phương, khu vực trong tỉnh có thể
thấy, dẫn đầu là TPTN, thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên; thấp nhất
là Định Hóa, Võ Nhai. Đồng thời chênh lệch giữa nông thôn và thành thị
về thu nhập và mức chi tiêu chung cũng chênh hơn 2 lần; chênh lệch
giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất của Thái
Nguyên vẫn còn cao, và có xu hướng tăng nhanh (2004 là 6,1 lần, đến
2012 tăng lên 7,7 lần). Sự chênh lệch về thu nhập tương đối sâu sắc này
tác động trực tiếp đến sự bất bình đẳng trong các lĩnh vực khác của đời
18


sống xã hội, từ chế độ dinh dưỡng, nguồn nước, khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế có chất lượng và các điều kiện sống cơ bản khác.
3.3.2. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, giảm nghèo chưa bền
vững, ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện chỉ số PTCN
Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo của Thái Nguyên chủ yếu vẫn rơi vào nhóm

Sự chênh lệch về phân bổ nguồn lực giáo dục cũng như cơ hội tiếp
cận giáo dục giữa các nhóm dân cư ở Thái Nguyên là khá lớn. Các
trường đại học, cao đẳng, các trường phổ thông chất lượng cao tập trung
hầu hết ở thành phố. Trong khi đó, ở các huyện vùng cao, miền núi các
bậc học mầm non và phổ thông vừa hạn chế về số lượng, cơ sở vật chất,
đội ngũ giáo viên và chất lượng giảng dạy. Thái Nguyên có nguồn nhân
lực đông, trẻ nhưng tỷ lệ đã qua đào tạo thấp, chủ yếu vẫn tập trung ở
khu vực sản xuất nông, lâm, thủy sản, thu nhập thấp và cơ hội phát triển
ít. Những rào cản làm hạn chế tính bao trùm của giáo dục cũng như sự
công bằng trong tiếp cận cơ hội học tập, nâng cao trình độ của người dân
chủ yếu là rào cản về kinh tế, hoàn cảnh địa lý, ngôn ngữ, dân tộc, tâm
lý, tập quán mà việc khắc phục chúng không thể thực hiện trong một
thời gian ngắn.
3.3.5. Sự xuống cấp của văn hóa, đạo đức tác động tiêu cực đến sự
phát triển con người ở Thái Nguyên
Hiện Thái Nguyên xếp thứ 3/10 tỉnh trong toàn quốc có số phát hiện
nhiễm HIV/AIDS và tỷ lệ hiện nhiễm cao; tỷ lệ người nghiện ma túy
đứng ở 8/63 tỉnh thành và các tội phạm liên quan đến ma túy có xu
hướng ngày càng tăng lên. Tệ nạn xã hội ở nhiều địa phương vẫn có diễn
biến phức tạp. Trong các hoạt động xã hội hóa giáo dục, nhiều cơ sở
giáo dục mầm non hay sau phổ thông được cấp phép, nhưng chất lượng
đào tạo rất kém. Có dự án quy hoạch phát triển đô thị mới, nhưng việc
giải phóng mặt bằng kéo dài hơn 20 năm chưa xong. Trên thực tế, sự
xuống cấp của văn hóa, đạo đức đang diễn ra chưa có chiều hướng dừng
lại ở Thái Nguyên là một vấn đề rất đáng lo ngại. Không thể đạt tới trình
độ PTCN kỳ vọng, nếu văn hóa, đạo đức vẫn xuống cấp như hiện nay.

20





Thứ nhất, Phân bổ lại nguồn lực cho y tế một cách hợp lý, hiệu quả
kết hợp với huy động các nguồn vốn thông qua thực hiện chính sách xã
hội hóa.
Thứ hai, có cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút cho cán bộ y tế, nhất
là các xã miền núi, vùng sâu xa, đặc biệt khó khăn.
Thứ ba, duy trì, mở rộng bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo
và người thu nhập thấp tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.
Thứ tư, vai trò của cơ quan nhà nước đối với sự phát triển của ngành
y tế cần được chú trọng hơn nữa.
4.4. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng đào tạo
nghề và giáo dục sau phổ thông
Thứ nhất, cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy ở
tất cả các bậc học và các địa phương trên địa bàn tỉnh, nhằm tăng tính
bao phủ, sự công bằng và cơ hội tiếp cận giáo dục của tất cả mọi người.
Trong đó chú trọng đào tạo sau phổ thông và đại học.
Thứ hai, giáo dục - đào tạo cần gắn với nhu cầu thực tế của xã hội về
nguồn nhân lực để bồi dưỡng năng lực, phẩm chất, kỹ năng cho người
học, đảm bảo sự PTCN về mặt trí lực thực sự mang lại cơ hội việc làm
năng suất cao và chất lượng sống tốt.
Thứ ba, tiếp tục duy trì có hiệu quả chính sách giáo dục tại các vùng
dân tộc, miền núi, khắc phục những rào cản đối với sự PTCN ở các khu
vực này; giảm thiểu những chi phí giáo dục cho người dân ở cả khu vực
nông thôn và thành thị.
4.5. Phát huy các giá trị truyền thống, tạo môi trường văn hóa
lành mạnh
Cần có những chính sách toàn diện có tính chất cưỡng chế về mặt
pháp luật đối với các tệ nạn xã hội đã tồn tại trong một thời gian dài trên
địa bàn tỉnh như ma túy, HIV/AIDS. Đồng thời phải có chính sách để

điểm của Đảng về PTCN có nhiều nội dung mới, biểu hiện chủ yếu
thông qua các chính sách xã hội. Những thành tựu về PTCN Việt Nam
gắn liền với các thành quả của công cuộc đổi mới đất nước và việc thực
hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status