TIỂU LUẬN mác, ĂNG GHEN, lê NIN PHÁT TRIỂN lý LUẬN về THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội, ý NGHĨA đối với VIỆC lựa CHỌN CON ĐƯỜNG XHCN ở nước TA - Pdf 39

1

MÁC, ĂNGGHEN VÀ LÊNIN PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ
LÊN CNXH-Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ TRONG ĐỔI MỚI TƯ DUY
LÝ LUẬN
VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chủ nghĩa xã hội khoa học với tính cách là một hệ thống lý luận khoa
học và cách mạng nhằm trang bị cho giai cấp vô sản những vũ khí tư tưởng để
thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là lật đổ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội
mới – xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là cộng sản chủ nghĩa. Theo một lẽ tự
nhiên, quá trình phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình gắn
liền với sự vận động của những điều kiện lịch sử mới phản ánh tính quy luật
của sự vận động, phát triển trong dòng chảy lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Tính quy luật không thể thiếu được những bộ óc thiên tài, phẩm chất trí tuệ
uyên bác cùng với trái tim vĩ đại luôn đứng về phía người lao động đấu tranh
cho công lý tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Nếu Mác và Ăngghen là những
người sáng tạo ra chủ nghĩa xã hội khoa học thì Lênin là một mẫu hình về sự
trung thành, đấu tranh, bảo vệ, phát triển lý luận Mác xít nói chung, chủ nghĩa
xã hội khoa học nói riêng trong điều kiện lịch sử mới làm cho nó trở nên hoàn
thiện hơn về tính cách mạng và khoa học của nó.
Trong dòng chảy lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa, thì sự phát triển lý
luận xã hội chủ nghĩa về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một trong
những vấn đề cơ bản của lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học. Bởi lẽ chủ nghĩa
xã hội khoa học với tư cách là một chế độ xã hội không có sẵn trong lịch sử,
để có được chế độ ưu việt ấy giai cấp vô sản phải trải qua quá trình đấu tranh
lâu dài, bền bỉ, gian khổ, phức tạp và phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều “lần
thử” mới đi tới mục tiêu cuối cùng. Những tư tưởng lý luận về thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là những “cẩm nang” cho các Đảng cộng sản công nhân
quốc tế vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của quốc

chủ nghĩa. Quá trình hoạt động thực tiễn, sáng tạo lý luận; Mác và Ăngghen
đã vận dụng triệt để quan điểm thực tiễn lịch sử vào nghiên cứu đời sống xã
hội thông qua đó xây dựng nên học thuyết hình thái kinh tế xã hội trong đó có


3

hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Sự ra đời học thuyết này là một
cuộc cách mạng trong quan niệm về lịch sử xã hội, vì lần đầu tiên Mác đã đề
cập đến tư tưởng về hình thái kinh tế xã hội và các giai đoạn phát triển của nó.
Những tư tưởng đó được Mác đề cập chủ yếu trong tác phẩm “phê phán
cương lĩnh Gô Ta” (tháng 4/1975). Trong tác phảm ấy, Mác đã vạch rõ bản
chất cơ hội, phản động theo đuôi giai cấp tư sản của chủ nghĩa Lát-Xan, đồng
thời chính thông qua phê phán Cương lĩnh Gô Ta, Mác đã trình bày những
nguyên lý, lý luận về hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa, những đặc trưng
cơ bản của nó nhất là những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản giai
đoạn thấp (hoặc giai đoạn đầu) là chủ nghĩa xã hội. Đó là “một xã hội cộng
sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội
về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của
xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”1. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là làm
theo năng lực, hưởng theo lao động. Giai đoạn cao là một xã hội cộng sản chủ
nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà đặc trưng cơ bản là làm
theo năng lực hưởng theo nhu cầu. Thông qua phê phán “Cương lĩnh Gô Ta”,
Mác đã phê phán tính chất phản động, thoả hiệp của chủ nghĩa Lát- Xan,
xuyên tạc tuyên ngôn, xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Trong tác phẩm này Mác đã chỉ ra rằng để tiến tới hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ “Giữa xã hội tư
bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách
mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá
độ chính trị. Và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền

nhà nước là xoá bỏ chế độ tư hữu, song không phải một lúc mà là một quá
trình. Mác và Ăngghen đã chỉ rõ nhiệm vụ của thời kỳ quá độ là sau khi giành
chính quyền, giai cấp vô sản phải dùng chế độ dân chủ làm phương tiện để thi
hành các biện pháp, trực tiếp đánh vào chế độ tư hữu, cải tạo, thủ tiêu các
quan hệ bóc lột, thiết lập các quan hệ sản xuất mới công bằng. Và đó là một
quá trình dần dần, không thể nóng vội. Mặt khác sau khi giành chính quyền
giai cấp vô sản phải sử dụng quyền lực chính trị một cách triệt để vừa cưỡng
bức, tước đoạt bọn áp bức, bóc lột, nhưng vừa phải nêu gương giúp đỡ nhân
dân xây dựng xã hội mới “Khi chúng ta nắm được chính quyền, chúng ta sẽ
không nghĩ đến dùng bạo lực để tước đoạt tiểu nông, như chúng ta buộc phải
1
2

C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập19, Nxb Chính trị quốc gia sự thật , Hà Nội, 1995, tr. 36
C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia sự thật , Hà Nội, 1995, tr. 736


5

tước đoạt của bọn địa chủ nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết
phải hướng nền kinh doanh cá thể và sở hữu của họ vào con đường kinh
doanh hợp tác không phải bằng bạo lực mà là bằng những tấm gương và sự
giúp đỡ của xã hội.2 Điều đó nói lên rằng giai cấp vô sản sử dụng quyền lực
chính trị để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thì phải mềm dẻo, linh
hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của thời kỳ cải biến cách mạng.
Cũng chính từ những đặc điểm của thời kỳ cải biến cách mạng Mác và
Ăngghen đã chỉ ra rằng trong suốt thời kỳ quá độ các giai cấp vẫn còn tòn tại,
địa vị, tính chất, vai trò của các giai cấp sẽ thay đổi trong quá trình chủ nghĩa
xã hội, vì thế đấu tranh giai cấp trong thời kỳ này sẽ vẫn diễn ra. Thực chất
đấu tranh giai cấp trong thời kỳ này là để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa

chỉnh, đề xuất đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp đấu tranh cách
mạng mới cho chính đảng của giai cấp công nhân. Những tác phẩm của
Ăngghen thể hiện trong hàng loạt bài viết, thư từ và được coi như là sự bổ
xung, cụ thể hoá những tư tưởng mà C. Mác đã đưa ra trong “Phê phán
Cương lĩnh Gô-ta”, cũng như những tư tưởng mà bản thân ông đã đưa ra
trong “Chống Đuy-rinh”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước”.
Nói về thời kỳ quá độ, nhất là vấn đề xác định “những giai đoạn quá độ
lên xã hội cộng sản”, trong thư gửi Côn-rat Smít (1863 – 1932) - nhà kinh tế
học, nhà triết học Đức, người mà khi đó tán thành học thuyết Mác, ngày
1/7/1891 Ăngghen khẳng định, chúng ta “cần phải suy nghĩ kỹ”, không được
nôn nóng, không được phép kết luận vội vàng, bởi đây là vấn đề khó nhất
trong tất cả những vấn đề còn tồn tại ở một thời kỳ mà “các điều kiện không
ngừng thay đổi”. Tuy luôn nhắc đi, nhắc lại rằng, nhiều việc diễn biến của
tình hình không cho phép đưa ra một chương trình hành động cụ thể cho mọi
trường hợp có thể xảy ra nhưng Ăngghen vẫn cố gắng vạch ra những nét cơ
bản nhất, những quy luật chung nhất về thời kỳ quá độ. Trong quan niệm của
ông, thời kỳ quá độ là thời kỳ luôn “gắn với một số thiếu thốn nào đó” bởi
đây là “thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia” và “về mọi
phương diện kinh tế đạo đức, tinh thần còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó
lọt lòng ra như Mác đã nói trong “phê phán cương lĩnh Gô -ta”.
Khi phát triển quan niệm về thời kỳ quá độ, Ăngghen đã nói đến tính tất
yếu của phương thức quá độ “rút ngắn” đối với đất nước đang ở giai đoạn
1


7

phát triển tiền tư bản chủ nghĩa hoặc chưa từng trải qua con đường phát triển
tư bản chủ nghĩa. Trong lời bạt viết cho tác phẩm “về vấn đề xã hội ở Nga”


C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia sự thật , Hà Nội, tr. 617 - 618


8

thực hiện một cách tuần tự theo sự phát triển hình thái kinh tế xã hội. Đây là
dự báo rất thiên tài về tương lai của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, Mác và Ăngghen đưa ra những tư tưởng rất quan trọng về sự
phân kỳ hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, những dự báo rất quan
trọng về nội dung, tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ và đặc biệt là luận
điểm về con đường phát triển “rút ngắn” ở các nước lạc hậu, chậm phát triển
là rất bổ ích và cần thiết cho sự phát triển lý luận thời kỳ quá độ sau này.
2. Lênin đấu tranh bảo vệ, phát triển lý luận thời kỳ quá độ trong
điều kiện lịch sử mới.
Sau khi Mác và Ăngghen qua đời, Lênin đã bảo vệ phát triển chủ nghĩa
Mác một cách sáng tạo làm phong phú chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa. Người bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác cả ba bộ phận cấu thành
của nó là triết học, kinh tế chính trị và CNXH khoa học chống lại mọi trào lưu
cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác nhưng không rơi vào chủ nghĩa giáo điều, dập
khuôn máy móc. Trong đấu tranh bảo vệ phát triển lý luận CNXH khoa học
thì lý luận về thời kỳ quá độ là một trong những cống hiến rất đặc sắc của
Lênin.
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin
đã đưa ra nhiều quan điểm mới. Trong giai đoạn này, CNTB đã trở thành một
hệ thống thế giới bao gồm cả các nước thuộc địa và phụ thuộc dưới ách thống
trị của chủ nghĩa tư bản. Lênin thấy rõ mối quan hệ khăng khít giữa cách
mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa. Vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách
mạng vô sản thế giới. Điểm nổi bật của Lênin là nhận thức mới của Người về

“làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu”.
Việc đưa ra các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng
sản chủ nghĩa là cơ sở để khẳng định tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này được hình thành gắn liền với tư
tưởng chuyên chính vô sản, gắn liền với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Lênin đã cụ thể hóa và phát triển làm phong phú hơn về thời kỳ quá độ. Trước
1
2

V. I. Lênin Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ M, 1976, tr. 223
V. I. Lênin Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ M, 1978, tr. 362


10

hết về định nghĩa thời kỳ quá độ: “danh từ “quá độ” có nghĩa là gì? vận
dụng vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay, có nhiều thành
phần, nhiều bộ phận, nhiều mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã
hội không”2. Đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài, thời kỳ đó còn đan xen giữa cái
cũ và cái mới của cả chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, cái cũ chưa hẳn
mất đi, cái mới đang được hình thành và từng bước khẳng định. Dựa trên
phương pháp duy vật lịch sử, Lênin khẳng định tính tất yếu phải trải qua thời
kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và Lênin là người đầu tiên
đưa ra khái niệm thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vị
trí của thời kỳ quá độ chỉ là tương đối chứ không phải tuyệt đối “ các tác
phẩm lý luận của ta đã nhấn mạnh một cách rõ ràng: tất yếu phải có một thời
kỳ quá độ lâu dài và phức tạp từ xã hội tư bản chủ nghĩa (xã hội đó càng ít
phát triển thì thời kỳ đó càng dài) quá độ thông qua việc thực hiện kiểm kê,
kiểm soát xã hội cộng sản chủ nghĩa song dù chỉ là một trong những bước
đầu tiên để tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa”1. Lênin đã chỉ ra tính chất,

phát triển tính tự phát tiểu tư sản chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung
hòa, giữa tính kỷ luật với tính vô chính phủ. Lênin chỉ rõ: “Dưới chính quyền
Xô Viết một mẩu nhỏ chủ nghĩa tư bản và một mẩu nhỏ chủ nghĩa xã hội tồn
tại cạnh nhau chủ nghĩa tư bản nhà nước đó còn cao hơn những tàn dư của các
tâm trạng và các điều kiện sinh hoạt kinh tế và tập quán của những kẻ tiểu tư
hữu, những tàn dư đó còn rất nhiều. Thực tiễn những năm đầu của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Nga đã cho phép Lênin rút ra kết luận rằng, được quyết
định bởi quy luật nội tại của nó, tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội
nhưng “ không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa những
đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào
loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ
khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã
hội”2. Điều đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào chỗ quan hệ đại tư bản chiếm ưu thế hay
nền kinh tế nhỏ chiếm ưu thế trong nước. Xuất phát từ kết luận đó, Lênin đã nêu
lên quan điểm về hai hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội: quá độ trực tiếp và
quá độ gián tiếp. Theo Lênin, chỉ những nước có chủ nghĩa tư bản phát triển cao,
giai cấp công nhân đã trưởng thành mọi mặt mới có đủ những tiền đề kinh tế, xã
2

Lênin toàn tập, Nxb tiến bộ Mat xcơva, 1977, tập 30, tr 160


12

hội và chính trị cho sự chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Trái lại, những nước
lạc hậu chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường quá độ gián tiếp.
Đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo con đường
quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Lênin đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết
phải qua nhiều bước trung gian quá độ mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội. “Chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách

Những tư tưởng của các ông tuy có sự khác nhau trong việc xác định vị trí
của thời kỳ quá độ, nhưng những tư tưởng của các ông không hề có sự đối lập
nhau, đó là một chuỗi liên tục, kết thừa nhau. Hệ thống các quan điểm và các khái
niệm ngày càng được bổ sung phát triển cụ thể, sáng tỏ và sinh động đáp ứng kịp
thời với đòi hỏi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong các điều kiện lịch sử cụ thể.
Trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin và xuất phát từ bối cảnh mới của
quốc tế và trong nước; Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của cách mạng
Việt Nam đã kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa
Mác- Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào điều kiện cụ thể của cách
mạng Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
cách mạng không ngừng, và căn cứ vào tình hình thực tiễn của cách mạng Việt
Nam Hồ Chí Minh khẳng định: Con đường của cách mạng Việt nam là giải
phóng dân tộc hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có thể nói trong hệ
thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là tư
tưởng cốt lõi. Người đã cho chúng ta biết tất cả mọi hoạt động lý luận và thực tiễn


14

của Người đều tập trung vào một đề tài, một mục tiêu: “ chống thực dân đế quốc,
chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”5.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn:
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Khi đề cập đến thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh cũng khẳng định tính tất yếu
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Quan niệm của Hồ Chí Minh
về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một hình thái
quá độ gián tiếp từ một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu, không qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng của chủ

xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Hồ Chí Minh chú ý đến vai trò
của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; Người coi đây là nhiệm vụ trung tâm của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong các biện pháp Người chú ý đến các
biện pháp như: kết hợp giữa cải tạo và xây dựng lấy xây dựng là chính, kết hợp
giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo về tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải
có biện pháp, có kế hoạch, có quyết tâm, phải huy động được mọi nguồn lực trong
nhân dân vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và phải đặt dưới sự lãnh đạo
của đảng cộng sản Việt Nam...
Với tư tưởng đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào trong thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Với ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh cùng
với Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi
trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, và tiếp sau đó là chiến thắng điện


16

biên phủ năm 1954, đưa Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam. Nhờ những thành tựu xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Miền Bắc đã tạo ra những cơi sở, điều kiện quyết định để giải
phóng Miền Nam sau này.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ngay khi giải phóng
Miền Nam năm 1975 Đảng ta chủ trương đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong các văn kiện của Đảng ta, Đảng ta đều khẳng định tính tất yếu quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước ta, và khẳng
định chúng ta hoàn toàn có khả năng, điều kiện để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Phương thức để rút ngắn; Về kinh tế,
Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa; về chính trị, Đảng ta khẳng định dứt khoát vai trò lãnh đạo của Đảng cộng

muốn có ngay chủ nghĩa xã hội. Nhưng Đảng ta đã kịp thời khắc phục những
khuyết điểm sai lầm đó, nhận thức đúng hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, thực hiện đổi mới trên tất cả lĩnh vực. Những thành tựu 20 năm đổi mới vừa
qua đã chứng tỏ quan điểm, đường lối của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Một
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006,
tr.69
6


18

trong những bài học kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra trong quá trình đổi mới là phải
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên đình chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status