TIỂU LUẬN:
VỀ THỜI KỲ QUÁ Đ
Ộ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái lược quan niệm của chủ nghĩa
Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, nêu ra một số ưu điểm
và nhược điểm trong sự vận dụng học thuyết Mác – Lênin về thời kỳ quá độ của Đảng ở
nước ta trong thời gian qua. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị: 1/ Cần phải có một cách
tiếp cận mới về thời kỳ quá độ; 2/ Đổi tên gọi thời kỳ quá độ thành thời kỳ phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; 3/ Xác định một số nội dung cơ bản của thời kỳ phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta, C.Mác đã đưa ra một định nghĩa kinh
điển về thời kỳ quá độ: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa
(3) Khi trong nước đã xuất hiện giai cấp tiên tiến có khả năng lãnh đạo cuộc cách
mạng, tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn.
Phân tích những điều kiện trên, chúng ta thấy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
mặc dù trên con đường phát triển gặp nhiều khó khăn, nhưng chưa phải là phương
thức sản xuất đã lỗi thời, thối nát, thậm chí do lợi dụng được các thành tựu của cách
mạng khoa học – công nghệ hiện đại, nó tỏ ra vẫn còn sức sống. Còn phương thức
sản xuất mới xã hội chủ nghĩa thì sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, người ta hầu như không nói đến tính ưu việt của phương thức sản xuất đó
so với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin bàn nhiều về sự quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội, còn sự quá độ bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa
xã hội, các ông mới chỉ nói đến khả năng thực hiện chứ chưa nêu ra cách thức thực
hiện. Trong một thời gian dài, trên sách báo mácxít hầu như không có sự phân biệt
các kiểu quá độ khác nhau lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó gây nên lầm tưởng rằng bất
kỳ nước nào tiến lên chủ nghĩa xã hội, dù xuất phát từ trình độ như thế nào, cũng đều
thuộc về cùng một kiểu quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Cho đến
nay, vẫn còn có ý kiến cho rằng sự quá độ của những nước có nền kinh tế kém phát
triển bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải là một kiểu nào
khác, mà chỉ là một dạng đặc biệt của kiểu quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội. Quan niệm như vậy có thể dẫn đến tình trạng dễ thoả mãn với lý luận về thời
kỳ quá độ, vận dụng máy móc lý luận về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội vào các nước có nền kinh tế kém phát triển, bất chấp những điều kiện
lịch sử cụ thể của các nước đó.
Trong quá trình đổi mới đã xuất hiện xu hướng muốn đi tìm lý thuyết mới nói về sự
quá độ gián tiếp, nhưng thực ra chưa tìm được lý thuyết đó. Nếu chúng ta tiếp tục sử
dụng lý thuyết về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh nước ta - một nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội – thì
chúng ta sẽ tiếp tục mắc sai lầm không thể tránh khỏi. Điều quan trọng để xây dựng
theo quy luật khách quan thì không phải là nói về việc tôn trọng và hành động theo 9
quy luật này hay các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội, mà là nói tới những quy luật
của sản xuất hàng hoá, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…
Chúng ta cũng không quá nhấn mạnh giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai
con đường để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản,
mà nhấn mạnh tới đại đoàn kết dân tộc và coi đó là động lực chủ yếu để phát triển đất
nước. Vấn đề làm chủ tập thể mà Đại hội IV của Đảng nêu lên và trở thành một nội
dung quan trọng trong đường lối của Đảng ta thì hiện nay cũng ít được nhắc tới. Vì vậy,
nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã nêu ra ở các Đại hội III,
IV, V cho đến nay có nhiều điểm không còn thích hợp nữa, chẳng hạn như các khái
niệm chuyên chính vô sản, làm chủ tập thể, cải tạo xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giữa hai
con đường để giải quyết vấn đề “ai thắng ai”… Điều đó đòi hỏi chúng ta phải xem lại
nội dung của thời kỳ quá độ và phải tìm nội dung mới thích hợp.
Từ sự phân tích trên đây, có thể rút ra một số nhận xét về sự vận dụng học thuyết
Mác – Lêmin về thời kỳ quá độ của Đảng ta như sau:
a. Những ưu điểm thể hiện ở 4 điểm:
Thứ nhất, trong khi vận dụng lý thuyết về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội và kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta đã cố
gắng vận dụng sáng tạo vào Việt Nam, thậm chí mạnh dạn bổ sung thêm quy luật
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, Đảng ta rất chú ý đến đặc điểm xuất phát của đất nước để từ đó định ra đường
lối, chính sách. Điều đó được thể hiện ở các Đại hội II, III, IV và VII.
Thứ ba, khi quyết định lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã thể hiện tinh
thần cách mạng tiến công. Điều này thể hiện ở các văn kiện: Chánh cương văn tắt,
Đại hội III, Đại hội IV.
Thứ tư, Đảng ta đã nhận thấy thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là thời
kỳ quá độ lâu dài và do đó, đã nói tới các chặng đường mà nước ta phải trải qua.
b. Những hạn chế cũng thể hiện ở 4 điểm:
Thứ nhất, lẽ ra chúng ta phải xây dựng lý thuyết về kiểu quá độ gián tiếp thì chúng ta
càng không nên áp dụng học thuyết đó, mà phải xây dựng một lý thuyết khác thích
hợp hơn. Trung Quốc đã mắc nhiều sai lầm trong việc áp dụng học thuyết về thời kỳ
quá độ và 9 quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ như: cải tạo xã
hội chủ nghĩa ồ ạt, xây dựng nhanh chóng công xã nhân dân, cường điệu đấu tranh
giai cấp…, kết quả là xã hội Trung Quốc rơi vào một thời kỳ hỗn loạn nghiêm trọng. Do đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sớm từ bỏ khái niệm “thời kỳ quá độ” và thay
vào đó một khái niệm mới là “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội”. Từ những bài học
kinh nghiệm nói trên, chúng ta cũng nên mạnh dạn đưa ra một cách tiếp cận khác về
thời kỳ quá độ.
2. Đổi tên gọi thời kỳ quá độ thành thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã có nhiều đổi mới từ lý luận đến thực tiễn, từ
đường lối, chính sách đến đời sống thực tế theo chiều hướng tích cực, tiến bộ và phát
triển. Những thay đổi đó không phải do Việt Nam áp dụng lý thuyết về thời kỳ quá
độ hay 9 quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà trên phương diện lý luận chúng ta
đã dần từ bỏ lý thuyết đó, chẳng hạn chúng ta không còn dùng các khái niệm của học
thuyết đó, như “cải tạo xã hội chủ nghĩa”, “chuyên chính vô sản”, “đấu tranh giữa hai
con đường để giải quyết vấn đề “ai thắng ai””… Khi chúng ta không dùng các khái
niệm nói trên, tức là chúng ta đã không vận dụng những nội dung chủ yếu của thời
kỳ quá độ nữa thì tại sao ta vẫn phải sử dụng khái niệm “thời kỳ quá độ”, có thể
mạnh dạn thay nó bằng một khái niệm khác được không?
Hội nghị Trung ương 6 khoá VI đã đưa ra khái niệm mới “định hướng xã hội chủ
nghĩa”, từ đó về sau trên các văn kiện Đảng và Nhà nước ta, cũng như trên các sách
báo, tài liệu của Việt Nam, đều sử dụng khái niệm đó. Vì vậy, chúng ta có thể mạnh
dạn thay khái niệm “thời kỳ quá độ” bằng tên gọi mới là “thời kỳ phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều đó, một mặt, phù hợp với thực tiễn hiện nay của
chúng ta. Mặt khác, khi chúng ta dùng cụm từ “thời kỳ phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa” thì có ưu điểm là vẫn đảm bảo mục tiêu mà trước nay ta vẫn theo đuổi
khó khăn, trở ngại cho sự phát triển, thì trong thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, Đảng ta coi động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn
dân. Nếu trong thời kỳ quá độ trước đây ta coi thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản và
hợp tác, đoàn kết chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thì trong thời kỳ
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta chủ trương chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực,
Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích
cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
Như vậy, những nhiệm vụ và nội dung của thời kỳ quá độ trước đây đã được thay đổi rất
nhiều, vì thế không nên luyến tiếc giữ lại tên cũ nữa mà nên mạnh dạn đặt ra một tên
mới phù hợp hơn. Tên mới đó là: “Thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Lúc đầu tên đó có thể chưa quen, nhưng dùng rồi sẽ quen, song điều quan trọng
không chỉ là đổi tên gọi, mà quan trọng là chúng ta đã có nội dung mới cho tên gọi đó.
Nếu còn tiếp tục sử dụng khái niệm “thời kỳ quá độ”, chúng ta sẽ gặp lúng túng cả về
nhận thức lý luận và về chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy, xin kiến nghị với Đảng nên đổi tên
Cương lĩnh năm 1991 thành “Cương lĩnh phát triển đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”. q (*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯ
ỜI TRONG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI NGUYỄN MẠNH TƯỜNG
Xem xét các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ chế độ xã hội
của các xã hội ấy là chưa hoàn chỉnh, bởi nền dân chủ của các xã hội ấy không đại
diện cho số đông nhân dân lao động, mà chỉ đại diện cho thiểu số những người
giầu có, những người có quyền lực. Theo Người, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới là con đường giải phóng nhân loại bị áp bức, bóc lột, là chế độ
xã hội hoàn chỉnh mang lại các quyền con người cơ bản cho nhân dân lao động.
Người viết: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người
không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm
no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh
phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư
bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cách những người lao
động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau"(1).
Nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân là thành tố cơ bản nhất của hệ thống
chính trị, luôn mang bản chất giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhà
nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông,
do giai cấp công nhân lãnh đạo"(2). Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta
được biểu hiện ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; ở tính định hướng đưa
đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; ở nguyên tắc tổ chức cơ bản là nguyên tắc tập
trung dân chủ. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước không hề làm triệt tiêu
tính nhân dân và tính dân tộc, mà luôn có sự thống nhất, hài hoà với nhau. Bởi lẽ,
Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh
xương máu của bao thế hệ cách mạng; nó luôn bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng; nó tổ chức những cuộc kháng chiến toàn dân, toàn
diện để bảo vệ thành quả cách mạng và đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa; nó tích cực đấu tranh chống những trở lực kìm hãm sự phát triển của chủ
nghĩa xã hội - những trở lực có thể dẫn đến nguy cơ thoái hoá, biến chất của một
đảng cầm quyền, dẫn đến sự an nguy của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao
bộ nhất của nó. Thuật ngữ “công bộc” có nghĩa vừa là người lãnh đạo, vừa là người
đầy tớ của nhân dân, nhưng không mâu thuẫn với nhau. Cán bộ của nhà nước phải
là những người biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân, bảo vệ nhân dân
và không được vi phạm đến các quyền con người và quyền công dân trong quá trình
thực thi nhiệm vụ của mình.
Như vậy, xây dựng Nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ
Chí Minh là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ấy có
nhiệm vụ xóa bỏ mọi sự nghèo khổ, bất công, bất bình đẳng và mang lại tự do cho
nhân dân lao động. Mục đích của chế độ xã hội chủ nghĩa là luôn mang lại và đảm
bảo các quyền con người cơ bản cho nhân dân lao động, như các quyền tự do, bình
đẳng, dân chủ, các quyền và nghĩa vụ công dân khác.
2. Những điều kiện đảm bảo các quyền con người
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã từng được nghe về các
quyền tự do, bình đẳng,… của con người. Điều đó đã khuyến khích Người tìm
đường sang Pháp để xem đằng sau những quyền ấy đang ẩn giấu điều gì. Nhưng
khi đến Pháp và một số nước khác, tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, Hồ Chí
Minh đã nhận thấy đằng sau những quyền đó là cuộc sống nghèo khổ, bất công, bị
áp bức, bóc lột, không có tự do, bình đẳng,… của nhân dân lao động. Từ đó,
Người không chỉ xác định mục đích tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà
còn xác định mục đích tìm cách mang lại các quyền con người cho nhân dân lao
động ở Việt Nam và trên thế giới.
Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gửi
đến Hội nghị Vécxây bản yêu sách 8 điểm đòi quyền tự do, bình đẳng về chế độ
pháp lý và các quyền dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam, như đòi xoá bỏ các
toà án đặc biệt, thay chế độ cai trị ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật và
đòi được hưởng các quyền tự do ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, cư trú, v.v
Ở đây, Người đã sử dụng pháp lý tư sản để đấu tranh với chủ nghĩa tư bản, đế
quốc và thông qua cuộc đấu tranh đó đã rút ra được bài học vô giá là: “Muốn được
chủ nhân dân, có mục đích cao cả là đảm bảo các quyền con người của nhân dân lao động và mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân lao động.
Điều đáng chú ý là những điều mà Hồ Chí Minh "suy rộng ra" ấy thì ngày nay,
Hội nghị thế giới về nhân quyền họp ngày 25 tháng 6 năm 1993 đã biến thành quy
phạm của Luật Quốc tế hiện đại. Hội nghị tuyên bố: "Quyền dân tộc tự quyết
không thể bị tước đoạt" và coi việc khước từ quyền dân tộc tự quyết là sự vi phạm
nhân quyền(6).
Chỉ bốn tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, cuộc Tổng tuyển cử
đầu tiên trong lịch sử dân tộc với sự phổ thông đầu phiếu đã được tổ chức và thành
công. Nhân dân đã bầu ra Quốc hội và Quốc hội này đã thông qua một bản Hiến
pháp ghi nhận các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ, của nhân dân. Từ đó, nước
Việt Nam có Hiến pháp và Hiến pháp là đạo luật cơ bản để Nhà nước Việt Nam
thực hiện và đảm bảo các quyền con người cho đại đa số cư dân sống trên lãnh thổ
Việt Nam. Ở đây có sự gắn kết giữa các yếu tố: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia và Hiến pháp, trong đó ghi nhận các quyền con
người của công dân Việt Nam. Như vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội, chủ quyền quốc gia là nền tảng quan trọng tạo nên tính đặc thù của việc đảm
bảo quyền con người và thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Có độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có chủ quyền quốc gia mà không có Hiến pháp dân chủ thì
không thể nói đến việc thực hiện và đảm bảo các quyền con người, quyền công
dân cho nhân dân lao động. Hồ Chí Minh viết: "Trước chúng ta bị chế độ quân chủ
chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước
ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ.
Chúng ta phải có hiến pháp dân chủ"(7).
Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, ra
đời trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng đã long trọng tuyên bố giá trị quyền con
người mà nhân dân ta giành được. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới rằng
nước Việt Nam độc lập; nhân dân Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do, bình đắng,
dân”. Quan niệm đó của Hồ Chí Minh đã vượt lên trên tất cả các nhà tư tưởng tiền
bối và nâng người dân từ vị trí thần dân không chỉ lên địa vị công dân, mà còn lên
địa vị chủ nhân của đất nước, của xã hội.
Với tư cách chủ nhân, nhân dân lao động cần phải tự giác phát huy tính chủ động
sáng tạo và những khả năng sẵn có của mình để giải quyết những vấn đề mà thực
tiễn cuộc sống đang đặt ra. Còn cán bộ của Đảng và Nhà nước là những người
giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện để nhân dân có thể biến những khả năng của mình thành hiện thực. Hồ Chí Minh viết: Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó
vạn lần dân liệu cũng xong và người cán bộ của Đảng phải biết đem tài dân, sức
dân, của dân làm lợi cho dân.
“Làm chủ” ở đây vừa thể hiện quyền của chủ thể xã hội, vừa thể hiện bổn phận và
trách nhiệm của chủ thể ấy. Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì
phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân ”(9). Điều quan trọng ở đây là, phải
làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình,
dám nghĩ, dám nói, dám làm.
Nhân dân lao động là chủ thể của xã hội và có quyền làm chủ. Quyền do đâu mà
có? Trong chế độ dân chủ mới, quyền lực trực tiếp và quyền lực cao nhất thuộc về
nhân dân. Quyền lực đó nẩy sinh trên cơ sở của sự liên hợp tự nguyện giữa họ và
nằm trong sức mạnh đoàn kết của họ, chứ không do ai ban phát cho cả. Theo đó,
quyền làm chủ luôn thể hiện tính chủ động của nhân dân trong việc quyết định
những vấn đề có liên quan đến đời sống và vận mệnh của mình. Dĩ nhiên, quyền
cần phải đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm. Đã có quyền làm chủ thì phải làm tròn
nghĩa vụ của người chủ, như nghĩa vụ xây dựng nhà nước, bảo vệ Tổ quốc, tuân
theo pháp luật,… Ngoài ra, mỗi giai cấp, tầng lớp tuỳ theo vị trí của mình mà có
quyền và nghĩa vụ do vị trí đó đòi hỏi.
Dân chủ và pháp luật là những khái niệm chính trị, pháp lý cơ bản, có mối quan hệ
gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau và luôn đi đôi với nhau.Không thể có dân chủ
ngoài pháp luật, còn pháp luật là bà đỡ của dân chủ. Mọi quyền dân chủ của người
với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý.
Đó là một quyền lợi, cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát
biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do
phục tùng chân lý”(12).
Thực hành dân chủ trong xã hội còn bao hàm cả mối quan hệ máu thịt giữa Đảng,
Chính phủ với nhân dân. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân không có nghĩa là ban
ơn, bao biện, làm thay…, mà cần phải phát động được sức mạnh của mỗi con người,
của tập thể, của quần chúng đông đảo để làm nên sự nghiệp cách mạng.
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh, có hiệu lực, Hồ Chí Minh đã thấy rõ
phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ, viên
chức nhà nước có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành
chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Một đội
ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước như thế sẽ hạn chế đến mức thấp nhất sự vi phạm nhân quyền (quyền con người, quyền công dân) từ phía các cơ quan
nhà nước thông qua các quan chức của nhà nước.
(12)
Như vậy, có thể nói, xây dựng Nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân theo tư
tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là nhà nước do nhân
dân lao động làm chủ, thực hiện quyền lực của nhân dân và luôn đảm bảo các quyền
con người của nhân dân lao động. Nghĩa là, chính quyền của Nhà nước ấy cần phải
hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ cả đức
và tài, v.v., đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng mới. Đây thực sự là vấn đề
chiến lược, vừa cấp thiết, vừa lâu dài của chúng ta ở giai đoạn cách mạng hiện nay.
Để làm được điều đó, chúng ta cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với cải cách bộ máy hành chính. Sự lãnh đạo
của Đảng là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà
QUAN NIỆM CỦA G.V.PH.HÊGHEN VỀ “THA HÓA” QUA SỰ
ĐÁNH GIÁ
CỦA C.MÁC
NGÔ ĐÌNH XÂY
(*)Nhân kỷ niệm 240 năm ngày sinh Hêghen, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và
phân tích quan niệm của ông về “tha hoá” qua sự đánh giá của C.Mác. Đó là
quan niệm của ông về “tha hoá” với tư cách một phạm trù xuất phát để xây dựng
hệ thống triết học; “tha hoá” là quá trình phát triển biện chứng, quá trình tước bỏ
và bảo tồn, quá trình phủ định của phủ định và là thuộc tính phổ biến, là quá trình
phổ biến của tự nhiên, của xã hội và của tư duy (ý thức); về sự tha hoá của bản
chất con người và vấn đề “giải” tha hoá.
Có lẽ, phạm trù “tha hoá” đã trở thành phạm trù triết học theo nghĩa đầy đủ, rõ
ràng và điển hình nhất của nó ở triết học cổ điển Đức. Chúng ta có thể tìm thấy
tính triết học sâu sắc của phạm trù này trong quan niệm của Hêghen. Tiếp nối
truyền thống của các nhà triết học cổ điển Đức và là người đạt tới đỉnh cao trước
Mác trong việc đem lại cho phạm trù “tha hoá” một nội dung triết học hết sức độc
đáo, phong phú và biện chứng, Hêghen đã xây dựng một lý luận khá hoàn chỉnh về “tha hoá” và nâng “tha hóa” lên thành phạm trù trung tâm, xuyên suốt trong hệ
thống triết học của ông.
Vậy, quan niệm về “tha hoá” của Hêghen có những nội dung đặc sắc gì? Đọc lại
quan niệm của mình về “tha hoá”: tha hoá chính là quá trình biến thành (trở
thành) cái khác, cái tha hoá chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái
khác. Hêghen viết: “Tự nhiên biểu hiện ra là ý niệm dưới hình thức tồn tại khác.
Như vậy, vì ý niệm biểu hiện ra ở đây là sự phủ định bản thân, hoặc như ở ngoài
bản thân mình, cho nên không phải tự nhiên chỉ có tính chất bên ngoài theo ý
nghĩa tương đối, so với ý niệm ấy, mà tính bên ngoài tạo thành sự quy định trong
đó ý niệm biểu hiện ra là tự nhiên”(2).
Giải thích rõ hơn về quan niệm này của Hêghen, C.Mác viết: “Cần phải hiểu tính
bên ngoài ở đây theo ý nghĩa sự tha hoá, theo ý nghĩa sự thiếu sót, khuyết điểm
không nên có. Vì cái chân thực vẫn còn là ý niệm. Tự nhiên chỉ là hình thức tồn
tại khác của ý niệm”(3). Rằng, mặc dù là “cái tha hoá”, nhưng vẫn cần cái ban
đầu, dĩ nhiên là cái ban đầu trong hoàn cảnh khác. Và, chính C.Mác đã chỉ ra
quan niệm này ở Hêghen: “Mặt khác, theo lời Hêghen, ở đây đồng thời cũng có
một nhân tố khác, đó là: trên một mức độ y như thế, tự ý thức đã tước bỏ và hấp
thu trở lại vào mình sự tha hoá ấy và tính đối tượng ấy và do đó, trong tồn tại
khác của nó với tính cách là tồn tại khác, cũng vẫn ở trong bản thân nó”(4).
Vậy, căn nguyên và điểm xuất phát của tha hoá là ở đâu? Theo Hêghen, căn
nguyên và điểm xuất phát của tha hoá là ở ý niệm tuyệt đối, hay tinh thần tuyệt
đối. Cũng theo ông, ý niệm tuyệt đối – tinh thần tuyệt đối là điểm xuất phát, là nền
tảng trong quan niệm về hiện thực. Tiếp thu những quan niệm của Senlinh về cái
Tuyệt đối, Hêghen coi nền tảng thế giới quan triết học của mình là tinh thần tuyệt
đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên và con người. Mọi sự vật,
hiện tượng xung quanh ta, từ những sự vật tự nhiên cho đến những sản phẩm hoạt
động của con người (xã hội và tư duy) chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt
đối được hiểu như là căn nguyên sinh ra, “tha hoá” ra mọi cái trên thế gian.
“Ở Hêghen, - C.Mác viết -, biện chứng là sự tự phát triển của ý niệm. Ý niệm tuyệt
đối không những tồn tại vĩnh viễn - không biết ở đâu - mà còn là linh hồn sinh
động thật sự của toàn bộ thế giới hiện tồn. Ý niệm đó phát triển để trở về bản thân
đến đây, ý niệm tuyệt đối tự nhận thức đầy đủ về chính bản thân mình trong triết
học Hêghen.
Giai đoạn 2: Từ 1812 - 1814 về sau, nghĩa là giai đoạn Hêghen công bố Khoa học
lôgíc, bộ sách mà thông qua sự vận động của phạm trù "tha hoá", ông trình bày các
quy luật và phạm trù cơ bản của phép biện chứng. Ở giai đoạn này, Hêghen đã tiến
thêm một bước lớn, hoàn chỉnh hơn quan niệm của mình về tha hoá. Ở đây, ông hiểu tha hoá là trở thành cái khác hoàn thiện hơn và các hình thức khác nhau của
sự tha hoá (giới tự nhiên, con người và xã hội loài người, tự ý thức của con người)
đều có xu hướng, có tham vọng trở về với cái xuất phát, cái căn nguyên, cái chủ
thể tuyệt đích tối thượng - ý niệm tuyệt đối - tinh thần tuyệt đối. Bởi lẽ, theo
Hêghen, ý niệm tuyệt đối là giai đoạn sơ khai nhất, nhưng là điểm xuất phát và là
nền tảng của toàn bộ hệ thống và do vậy, “vận động lên phía trước là sự quay trở
về nền tảng, về điểm đầu và chân lý”(7). Hơn thế nữa, cũng nhờ mỗi lần quay trở
về đó mà sự vật đã trở thành cái khác (tha hoá), sự vật mới được xuất hiện. “
Cùng với tri thức,- Hêghen viết -, cả đối tượng cũng trở nên khác đi, vì thực chất
nó thuộc về tri thức đó ”, “ đối tượng mới đã xuất hiện nhờ sự quay về (Um
Kehrung) của bản thân ý thức”(8). Cứ như vậy sự vật vận động tiến lên mãi cho tới
khi đạt đến tri thức tuyệt đối (tinh thần tuyệt đối).
C.Mác đã lý giải rõ hơn về quan niệm này của Hêghen như sau: “Dù cho Hêghen
đã nhấn mạnh, nhất là trong cuốn “Lôgíc học” của ông, rằng chân lý vĩnh cửu đó
chẳng qua chỉ là bản thân quá trình lôgíc, (resp: quá trình lịch sử), nhưng Hêghen
lại buộc phải gán cho quá trình ấy một điểm tận cùng, chính là vì ông phải kết thúc
hệ thống của ông ở một điểm nào đó. Trong cuốn “Lôgíc học”, ông lại có thể làm
cho điểm tận cùng đó thành một điểm bắt đầu, vì ở đây, cái điểm tận cùng, tức ý
niệm tuyệt đối - ý niệm đó sở dĩ là tuyệt đối, chỉ là vì ông tuyệt đối không biết nói
gì về nó cả, -“tự tha hoá”, tức là tự chuyển hoá thành tự nhiên, và sau đó lại trở về
với bản thân nó trong tinh thần, tức là trong tư duy và trong lịch sử. Nhưng ở điểm
tận cùng của toàn bộ triết học thì muốn quay trở lại khởi điểm như vậy, chỉ có thể
7) đó là sự vận động của ý thức, và trong sự vận động ấy, ý thức là tập hợp những
nhân tố của nó;
8) ý thức cũng phải đối đãi với đối tượng phù hợp với tập hợp những quy định của
mình và xem xét nó trên góc độ mỗi quy định đó. Tập hợp những quy định ấy của
ý thức làm cho đối tượng tự nó trở thành bản chất tinh thần, còn đối với ý thức thì
đối tượng thực sự trở thành như vậy là do việc nhận thức mỗi quy định riêng biệt
của đối tượng như là cái tự ngã, hoặc do thái độ tinh thần đối với chúng như đã
nói ở trên”(11).
Bởi vậy, “cho nên, - theo C.Mác -, ở Hêghen sự tước bỏtrong đó sự phủ định và sự
giữ lại, tức là sự khẳng định kết hợp nhau, có một vai trò độc đáo”(12).
Thứ tư, “tha hoá”, đối với Hêghen, còn là thuộc tính phổ biến, là quá trình phổ
biến của tự nhiên, của xã hội và của tư duy (ý thức). Theo C.Mác, Hêghen đã hiểu quá trình tha hoá nói chung như sau: “Chất đã bị
tước bỏ là lượng, lượng đã bị tước bỏ là độ, độ đã bị tước bỏ là bản chất, bản chất
đã bị tước bỏ là hiện tượng, hiện tượng đã bị tước bỏ là hiện thực, hiện thực đã bị
tước bỏ là khái niệm, khái niệm đã bị tước bỏ làtính khách quan, tính khách quan đã
bị tước bỏ là tư tưởng tuyệt đối, tư tưởng tuyệt đối đã bị tước bỏ là tự nhiên, tự
nhiên đã bị tước bỏ là tinh thần chủ quan, tinh thần chủ quan đã bị tước bỏ là tinh
thần đạo đức khách quan, tinh thần đạo đức đã bị tước bỏ là nghệ thuật, nghệ thuật
đã bị tước bỏ là tôn giáo, tôn giáo đã bị tước bỏ là tri thức tuyệt đối”(13).
C.Mác cũng đã vạch ra quan niệm của Hêghen về tha hoá trong xã hội: “Chẳng
hạn như trong triết học pháp quyền của Hêghen, - C.Mác viết -, tư pháp đã bị tước
bỏ là đạo đức, đạo đức đã bị tước bỏ là gia đình, gia đình đã bị tước bỏ là xã hội
công dân, xã hội công dân đã bị tước bỏ là nhà nước, nhà nước đã bị tước bỏ
là lịch sử thế giới. Trong hiện thực thực tế, tư pháp, đạo đức, gia đình, xã hội công
dân, nhà nước, v.v. tiếp tục tồn tại như trước, chúng chỉ trở thành những nhân
tố, những hình thức sinh tồn và hình thức tồn tại hiện có của con người, những
hình thức và nhân tố này nếu cô lập với nhau thì không có sức mạnh, chúng xoá bỏ