TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
…… ……
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ Ở VIỆT NAM
CHỦ ĐỀ:
PHÚC LỢI XÃ HỘI NHẰM ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG CHO MỌI NGƯỜI
DÂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
GVHD: NHÓM 2:
PHẠM THÁI ANH THƯ 1. LÊ THỊ PHƯƠNG
2. LÂM THÁI BẢO NGÂN
3. TRẦN THỊ NGUYỆT
4. NGUYỄN THỊ P.NHUNG
5. NGUYỄN THỊ HUYÊN
6. NGUYỄN THỊ HỒNG LAM
7. LƯƠNG HỒNG LOAN
8. NGUYỄN KIẾM HÙNG
9. HÀ VĂN NHẤN
10. NGUYỄN HÒA
11. NGUYỄN VĂN MẪN
1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Khái niệm phúc lợi xã hội và công bằng xã hội
Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm
thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ
yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập theo lao động.
Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội chủ yếu sau: trả tiền hưu trí, các loại
trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không
mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,… các khu vui
chơi, giải trí công cộng không thu tiền (hoặc thu ít), các công trình công cộng phục
vụ chung cho mọi người… Tùy theo mức độ phát triển của các mặt kinh tế - xã
hội ". Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nêu rõ: "Tăng trưởng kinh tế
gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội”. Văn kiện Đại hội IX của Đảng (năm 2001)
khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội
trong từng bước phát triển". Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh:
"Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con
người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội". Đại hội XI của Đảng tiếp
tục khẳng định quan điểm nhất quán: "Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa
tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách
phát triển". Như vậy, tư tưởng tăng trưởng, phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm
công bằng xã hội, an sinh xã hội được thể hiện rõ ngay trong từng bước hoàn chỉnh
đường lối chiến lược của Đảng và từng chính sách phát triển của Nhà nước.
Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường vào cuối thập niên 1980, bên cạnh quá
trình cải tổ cơ chế quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế, diện mạo của hệ
thống phúc lợi xã hội ở Việt Nam cũng đã thay đổi gần như toàn diện. Hệ thống
phúc lợi xã hội của thời quan liêu bao cấp đã bị giải thể, nhưng một hệ thống phúc
lợi xã hội mới vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng, vững chắc, và vẫn còn đang
chất chứa nhiều tình trạng mâu thuẫn và bất ổn ở nhiều mặt.
Cho đến nay, ngoài những chương trình trợ giúp xã hội và xóa đói giảm nghèo đối
với một số đối tượng mục tiêu, nhà nước đã và đang tiếp tục từng bước cắt bỏ hoặc
giảm bớt một số khoản phúc lợi xã hội cơ bản vốn bao cấp hoàn toàn trước đây đối
với đại đa số nhân dân, như nhà ở (đã bãi bỏ hoàn toàn sự bao cấp), giáo dục (học
phí và các khoản thu ngày càng tăng), và y tế (thiết lập chế độ viện phí cũng theo
hướng ngày càng tăng). Cuộc sống của khá đông các hộ gia đình người dân vì thế
không thể không bị ảnh hưởng.
Trong thời bao cấp, các lĩnh vực giáo dục và y tế đều được nhà nước đảm nhiệm
chủ yếu về mặt tài chính, người dân hầu như không phải đóng góp khoản nào.
Riêng về nhà ở thì nhà nước có chính sách phân phối nhà ở cho những người lao
động thuộc khu vực nhà nước.
Khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế-xã hội, các chính sách trên lần lượt được
Đã tập trung chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm với
nhiều chính sách trợ giúp thiết thực, hàng năm giải quyết được hơn 1,6 triệu việc
làm mới cho người lao động, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị từ 6,42%
(năm 2000) xuống còn khoảng 4,6% (năm 2010), tăng thời gian sử dụng lao động ở
nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân. Thu nhập thực tế
bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần.
Hệ thống bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được quan tâm phát triển với nội dung
4
và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho
những người tham gia. Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loại hình là:
bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Số người tham gia
bảo hiểm bắt buộc tăng nhanh, từ 4,8 triệu (năm 2001) lên 9,4 triệu (năm 2009),
chiếm 18% tổng số lao động. Sau gần 3 năm triển khai bảo hiểm xã hội tự nguyện,
đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn người tham gia. Dự kiến đến hết năm 2010 có
khoảng 5,8 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm y tế tăng nhanh từ
13,4% dân số (năm 2000) lên khoảng 62% (năm 2010). Đặc biệt, đã thực hiện chính
sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách,
người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo,
Các chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện. Mức
trợ cấp ưu đãi năm 2009 tăng 2,1 lần so với năm 2006. Năm 2010 ngân sách trung
ương đã dành gần 19.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho
hơn 1,4 triệu người có công. Đến nay, hơn 90% gia đình người có công có mức
sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn.
Các chính sách trợ giúp xã hội, cả thường xuyên và đột xuất được thực hiện rộng
hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng. Kinh phí trợ
giúp thường xuyên từ ngân sách nhà nước và số người được thụ hưởng tăng nhanh,
từ 113 tỷ đồng cho hơn 180 nghìn người (năm 2001) tăng lên 4.500 tỷ đồng cho hơn
1,6 triệu người (năm 2010). Hàng năm Nhà nước còn trợ cấp đột xuất hàng nghìn tỷ
đồng (riêng năm 2009 là 5.000 tỷ đồng) và hàng chục nghìn tấn lương thực, chủ yếu
là để trợ giúp khắc phục thiên tai. Từ đầu năm 2008, Chính phủ đã có nhiều chính
mới được hưởng điều kiện học tập tốt hơn, đóng viện phí càng nhiều thì càng được
chữa trị và chăm sóc chu đáo hơn nói tóm lại là ngày càng đi theo lô-gic kinh tế tư
nhân hóa ngay trong những đơn vị cung ứng dịch vụ phúc lợi công lập.
Hạn chế lớn thứ ba của hệ thống phúc lợi này là chưa xây dựng được một khuôn
khổ định chế tài chính hay tín dụng thích hợp nhằm làm sao cho người dân giải
quyết được nhu cầu nhà ở.
Lẽ tất nhiên, một hệ thống phúc lợi xã hội tự nó không thể giải quyết được vấn đề
bất bình đẳng trong xã hội, nhưng hệ thống phúc lợi vẫn là một thành tố không thể
thiếu trong một hệ thống chính sách kinh tế-xã hội quốc gia nhằm giúp cho người
dân có được một cuộc sống tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người.
Có thể nói rằng quá trình chuyển đổi của các chính sách phúc lợi xã hội diễn ra một
cách dò dẫm và thực sự chưa phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế đi đôi với
phát triển xã hội và văn hóa, và chủ trương tăng trưởng kinh tế không tách rời khỏi
mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tế cho thấy đang nảy sinh không ít vấn
đề bức xúc và gai góc trong lĩnh vực này.
II.4. Giải pháp để thực hiện phúc lợi xã hội nhằm đảm bảo công bằng
6
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc mở rộng và nâng cao
phúc lợi xã hội là điều kiện quan trọng để đáp ứng và làm thỏa mãn ngày càng
nhiều hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động. Các quỹ
phúc lợi xã hội là phương tiện cần thiết để điều chỉnh việc phân phối thu nhập xã
hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, khắc
phục dần những khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao
động chân tay. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tham
gia đòi hỏi phải thực hiện những quan điểm mới, những chính sách và giải pháp
mới về phúc lợi xã hội. Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, Nhà nước không
thể bao cấp tràn lan, bình quân những chi phí cho phúc lợi xã hội mà cần phải tập
trung cho những vấn đề cơ bản và thiết yếu nhất trong đời sống của nhân dân lao
động, cho những vùng, những đối tượng còn nhiều khó khăn nhất, đồng thời bảo
động an toàn.
2. Phát triển đồng bộ, đa dạng và nâng cao chất lượng hệ thống bảo hiểm, đồng
thời có chính sách hỗ trợ phù hợp để người dân tích cực tham gia.
Trong điều kiện có những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, cùng biến đổi
khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có xu hướng gia tăng, việc phát triển hệ thống bảo hiểm
và sự tham gia rộng rãi của người dân được coi là giải pháp quan trọng nhằm chia
sẻ rủi ro và trợ giúp người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các tác động bất lợi về kinh
tế, xã hội, môi trường. Cần khẩn trương hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ
chế, chính sách nhằm phát triển hệ thống bảo hiểm ngày càng đa dạng, đồng bộ, bền
vững, với chất lượng được nâng cao, phục vụ có hiệu quả các mục tiêu về an sinh,
kinh tế và xã hội, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm. Hệ thống
này được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng; có sự chia sẻ hợp
lý về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có sự hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng tham
gia, nhất là người nghèo, cận nghèo, trẻ em, các đối tượng chính sách và bảo trợ xã
hội… Phát triển mạnh cả bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.
Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các chế độ bảo hiểm xã hội phù hợp với yêu cầu của
giai đoạn mới, gắn với điều chỉnh lương hưu và lộ trình cải cách tiền lương. Xây
dựng chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người lao động, trong đó có chính
sách hỗ trợ người lao động có thu nhập thấp, lao động ở nông thôn tham gia các loại
hình bảo hiểm xã hội. Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các chính sách về bảo hiểm y tế, viện phí và khám chữa
8
bệnh. Đặc biệt chú trọng chính sách đối với bà mẹ, trẻ em, người nghèo, người dân
ở vùng khó khăn, người lao động trong các khu vực phi chính thức. Phấn đấu thực
hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014.
Khẩn trương nghiên cứu, thí điểm để mở rộng các hình thức bảo hiểm khác thích
ứng với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trong đó có chính sách hỗ
trợ nông dân tham gia bảo hiểm sản xuất nông nghiệp nhằm duy trì sản xuất và bảo
đảm đời sống.
3. Thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững.
trợ giúp xã hội không những có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an sinh, ổn
định xã hội, mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, dân tộc ta.
Thấm nhuần đạo lý và truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người
trồng cây”, cần tiếp tục hoàn chỉnh các chính sách và nâng cao chế độ ưu đãi đối
với người có công, phù hợp với sự phát triển kinh tế; đồng thời hỗ trợ các gia đình
người có công phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập; vận động toàn xã
hội tham gia phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, bảo đảm cho những người có công có
mức sống cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn.
Hoàn thiện các chính sách và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó
có hiệu quả với các biến cố, rủi ro, theo hướng cùng với việc tăng cường trợ giúp
thường xuyên và đột xuất từ ngân sách nhà nước, phải đẩy mạnh xã hội hoá, đa
dạng các kênh và hình thức trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội tự nguyện, nhân đạo
dựa vào cộng đồng với sự tham gia rộng lớn của các doanh nghiệp, của xã hội và
kiều bào ta ở nước ngoài; tranh thủ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế. Tiếp tục mở
rộng đối tượng và điều kiện hưởng thụ trợ giúp xã hội đến toàn bộ các nhóm dân cư
dễ bị tổn thương với mức trợ giúp phù hợp. Phấn đấu bảo đảm cho mọi người dân
khi có thu nhập dưới mức sống tối thiểu đều được nhận trợ giúp xã hội.
Đẩy mạnh việc chủ động phòng chống và ứng phó kịp thời có hiệu quả thiên tai, tác
động của biến đổi khí hậu nhằm hạn chế thiệt hại về người và của, nhất là những
vùng thường xuyên xảy ra bão lũ; nghiên cứu hình thành các quỹ dự phòng và cơ
chế trợ giúp tại các địa phương để hỗ trợ kịp thời cho nhân dân khi có rủi ro đột
xuất.
5. Nhà nước tăng thêm nguồn lực và phát huy vai trò chủ đạo để nâng cao phúc lợi
xã hội và phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản.
10
Không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội,
trước hết là các dịch vụ công cộng cơ bản, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho mọi
người. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội và
phân phối lại một bộ phận thu nhập quốc dân, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu về vật chất và tinh thần, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa
trương “các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá”. Phải huy
động các nguồn lực của toàn xã hội để nâng cao phúc lợi xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm mở rộng sự tham gia của mọi chủ thể
vào cung cấp ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn các dịch vụ công cộng.
Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực và
tham gia thiết thực vào việc bảo đảm phúc lợi xã hội. Đẩy mạnh các cuộc vận động
xã hội như: ngày vì người nghèo, phong trào tương thân tương ái, xây dựng nhà tình
nghĩa, nhà đại đoàn kết dân tộc
Bảo đảm ngày càng tốt hơn phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu trong Chiến
lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của đất nước ta. Đây cũng là một yêu
cầu bức thiết của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Với nhận thức mới và
quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước, bằng sự lãnh đạo sáng tạo của cấp uỷ đảng,
sự quản lý chỉ đạo có hiệu lực hiệu quả của chính quyền các cấp, sự tham gia sâu
rộng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và toàn xã hội, nhất
định chúng ta sẽ thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội và
phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong giai đoạn
chiến lược tới./.
III. KẾT LUẬN
Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn
là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp
của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và
phát triển bền vững của đất nước. Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển
kinh tế - xã hội, cùng với việc không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công và
nâng cao thu nhập cho người lao động, Đảng và Nhà nước rất quan tâm chăm lo đến
an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân.
Bước sang giai đoạn chiến lược mới, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảo đảm an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên. Dự thảo
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã xác định: Tăng trưởng kinh tế
kết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao không ngừng chất lượng
cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở