Bài Luận
Tìm hiểu nhu cầu sử dụng
điện thoại di động của
sinh viên trường Đại học
Đồng Tháp
4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời nghèo nàn, lạc hậu của nước Việt Nam đã qua đi và giờ đây nó nhường chỗ
cho sự phát triển dữ dội của đất nước đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị
trường, sự thay đổi về cải cách chính trị, về biện pháp và phương pháp giáo dục đời
sống con người ngày càng được phát triển và nâng cao, nhu cầu giao lưu hội nhập kinh
tế, văn hoá ngày càng lớn, từ đó tạo ra sự đa dạng và phong phú hơn cả về vật chất và
tinh thần. Bên cạnh đó là sự phát triển cải tiến về mặt khoa học kỹ thuật được nâng cao
và đưa vào thực tiễn ngày càng nhiều. Song trái lại những mặt tích cực đó thì xã hội lại
xuất hiện nhiều thành phần tiêu cực như: Quan liêu, tham nhũng, kinh doanh buôn bán
bất hợp pháp…vì vậy các nhà sản xuất, các nhà doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt
với thị trường buôn bán nhiều biến động và rủi ro như sự phá sản hay thất bại của
doanh nghiệp này, cùng với sự thành công trên thương trường của doanh nghiệp khác
là một xu thế tất yếu, nhưng thiết nghĩ điều mà làm cho nhiều nhà doanh nghiệp nhức
nhối và lo ngại hơn cả đó là làm thế nào để trở thành một nhà doanh nghiệp chuyên
nghiệp và thành công.
Từ năm 1986 đến nay trong công cuộc đổi mới của Đảng đã diễn ra một cách liên
tục, đó là: Vừa thử nghiệm vừ rút kinh nghiệm đã gặt hái được nhiều thành công đưa
đất nước ta từng bước đi lên một cách vững chắc cả về tăng trưởng kinh tế và ổn định
chính trị xã hội bằng hoạt động thực tiễn điều hành sản xuất kinh doanh thích nghi dần
với nền kinh tế nhiều thành phần. Vì vậy đối với nền kinh tế nói riêng đã không ngừng
trường Đại học Đồng Tháp.
- Mục tiêu cụ thể 3: Phân tích thị hiếu sử dụng điện thoại di động của sinh viên
trường Đại học Đồng Tháp.
- Mục tiêu cụ thể 4: Đề ra giải pháp giúp nhà sản xuất cung cấp những sản phẩm
phù hợp vói nhu cầu của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Đồng Tháp.
6
3.2 Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện từ ngày 09/04/2010 đến 20/5/2012.
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Là sinh viên đang sử dụng điện thoại di động thuộc khoa kinh tế trường Đại học
Đồng Tháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu là 50.
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp được lấy bằng cách phỏng vấn trực tiếp 50 sinh viên trường Đại
học Đồng Tháp thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn.
- Số liệu thứ cấp được thu thập qua các báo cáo của các nhà sản xuất trên internet.
4.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Mục tiêu cụ thể 1: Tổng hợp các thông tin để làm sáng tỏ nhu cầu sử dụng điện
động có giá bao nhiêu?
8
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Giới thiệu điện thoại di động
1.1.1 Khái niệm điện thoại di động
Điện thoại di động là một loại điện thoại không dây, cho dù chúng ta ở đâu: trên
chiếc xe hơi, tàu hoả, tàu biển hay trên máy bay, lúc nào cũng có thể dùng nó để liên
lạc.
Luồng thông tin của điện thoại di động chủ yếu là dựa vào mạng lưới thông tin
xung quanh nó, mỗi mạng lưới có một trạm cơ sở để điều khiển những thông tin trong
mạng, mỗi một trạm cơ sở lại được kết nối với tổng đài điện thoại. Khi các khách hàng
quay số điện thoại thì máy vi tính loại siêu nhỏ nằm trong máy điện thoại sẽ tự động
thông báo số điện thoại đến trạm cơ sở, rồi từ trạm cơ sở, số điện thoại lại thông báo
đến tổng đài và hoà vào mạng lưới điện thoại của thành phố. Như vậy cuộc gọi đã được
kết nối.
Khi điện thoại di động không nằm tại môi trường có mạng thông tin vốn có thì ăng
ten định hướng sẽ thông báo đến tổng đài để thay đổi tần số điện thoại, cũng giống như
cuộc thi chạy tiếp sức, nó giao nhiệm vụ kết nối điện thoại cho trạm thông tin cơ sở
sau. Như vậy gọi bằng điện thoại di động đã được thực hiện.
(Bách khoa tri thức thiếu nhi)
1.1.2 Các tính năng trên điện thoại di động
Ngày nay khi công nghệ phát triển, điện thoại di động đã trở thành phương tiện phổ
thông với tất cả mọi người, từ chỗ nó chỉ để đàm thoại và gửi nhận tin nhắn thì đến nay
điện thoại di động đã trở thành một chiếc máy tối tân thu nhỏ, mang trong mình nó là
là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình
thức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa.
Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi
một nhu yếu và một hình thức biểu hiện.
Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu
nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm
10
thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu
có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau.
Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết
rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn”. Về vấn đề cơ bản của khoa học
kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu
không có giới hạn.
1.2.2 Nhu cầu của con người
Nhu cầu là sự mất cân đối trong trạng thái thực tế, là sự thiếu hụt và khao khát
muốn sở hữu một hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Nhu cầu nó tự xuất hiện là yếu tố thúc
đẩy con người hoạt động nhằm làm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu đó, nếu nhu cầu này
được đáp ứng thì sẽ tiếp tục sinh ra một nhu cầu mới với đòi hỏi cao hơn. Nhu cầu con
người rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được, là đòi hỏi,
mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát
triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi
người đều có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu của con người được thể hiện khá rõ ở thuyết nhu cầu của Maslow:
Nhu cầu
tự thể hiện
Nhu cầu tôn trọng
Nhận
Nhậnthức
thức
nhu
nhucầu
cầu
Tìm
Tìmkiếm
kiếm
thông
thôngtin
tin
Đánh
Đánhgiá
giácác
các
phương
phươngán
án
Quyết
Quyếtđịnh
định
mua
mua
Hành
Thông tin phổ thông: các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio, đài phát
thanh,..)
-
Thông tin thực tế: nghiên cứu, sử dụng dịch vụ,…
Đánh giá các phương án: sau khi người tiêu dùng thu thập được các nguồn
thông tin cần thiết về sản phẩm hay dịch vụ thì họ xem xét đến việc đánh giá các
phương án để quyết định chọn mua thích hợp. nếu quyết định mua thì xem xét đến các
yếu tố như: nên sử dụng dịch vụ nào là tốt nhất?, liệu nó có đáp ứng được như mong
đợi không? .. Sau đó đi đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó.
Quyết định mua: là quá trình sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan, nếu
mua thì lập tức nảy sinh ra các vấn đề như: mua ở đâu, khi nào, sử dụng dịch vụ nào,
cước phí ra sau, thanh toán theo phương thức nào,…
Hành vi sau mua: sau khi đã có quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó thì người
tiêu dùng có hai thái độ đối với việc sau khi đã sử dụng:
-
Sự hài lòng: đặc tính (tính năng) của sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng được
mong đợi hoặc trên cả mong đợi của khách hàng.
-
Sự không hài lòng: việc mua sản phẩm hay dịch vụ nó không phù hợp với mong
muốn của người tiêu dùng, không làm thỏa mãn được nhu cầu của họ.
13
Điện thoại thương hiệu Việt lại có sự tương quan ngược lại so với mức tăng chung
của thị trường. Trong đó, Viettel tiếp tục tăng trưởng ở các dòng điện thoại giá rẻ và
chiếm phần lớn số lượng điện thoại thương hiệu Việt.
Theo ông Võ Lê Tâm Thanh, chuyên viên phân tích thị trường thuộc nhóm nghiên
cứu thiết bị người dùng của IDC Việt Nam cho rằng: "Với sự phát triển mạnh của
Samsung và HTC, trong năm 2011, điện thoại thông minh là một mặt hàng có sức hút
lớn và IDC dự báo lượng điện thoại thông minh được tiêu thụ đến cuối năm sẽ đạt tổng
mức tăng trưởng 44% so với năm trước. Thị trường điện thoại thông minh ở Việt Nam
còn nhiều tiềm năng và chúng tôi cho rằng tổng mức tăng trưởng sẽ đạt 51% trong năm
2012".
Nokia vẫn tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu thị trường điện thoại di động ở phân khúc
dòng giá rẻ, phố biến nhất là Nokia 1800 và 1280. Ngoài ra, điện thoại hai thẻ SIM
Nokia X1-01 cũng có mức tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, sức tiêu thụ các dòng điện thoại
thông minh của Nokia lại có sự sụt giảm mạnh do sự cạnh trạnh mạnh từ các hãng
khác.
Samsung đã trở thành người dẫn đầu trong thị trường điện thoại thông minh ở Việt
Nam bởi sự phát triển mạnh của điện thoại thông minh sử dụng hệ điều hành Android.
15
Điện thoại thương hiệu Việt còn duy trì mức tăng trưởng tốt là Viettel với sự tăng
trưởng mạnh của hai dòng điện thoại V6102 và V6202.
Quý 1/2012, Nokia chấm dứt 14 năm liên tục dẫn đầu thị trường điện thoại di động.
Vị trí này nay thuộc về Samsung. Công ty này vượt cả Apple trên thị trường
smartphone.
Một cựu quản lý cao cấp của Nokia cho rằng Tổng giám đốc điều hành hiện thời
của Nokia Stephen Elop đã lựa chọn chiến lược sai.
Trong quý 1/2012, Samsung Electronics của Hàn Quốc đã gia tăng lượng cung so
với cùng kỳ năm trước tới 36%, đạt 93,5 triệu thiết bị. Trong khi đó, Nokia đã cung cấp
ra thị trường 82,7 triệu thiết bị, theo Reuters dẫn nguồn từ kết quả điều tra của Strategy
qua, nhà trường đã không ngừng phát triển, không ngừng vươn lên, vượt qua nhiều khó
khăn và thử thách tạo nên những bước đột phá về chất lượng đội ngũ, chất lượng quản
lý của bộ máy, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo và vị thế của nhà trường trong hệ thống các
trường đại học Việt Nam, nhà trường đã và đang thực hiện nhiều dự án đầu tư xây
dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ đào tạo, đặc biệt
trường chú trọng đến việc khuyến khích sinh viên sử dụng các dịch vụ công nghệ để
phục vụ cho việc hoạt tập và giải trí.Trường cộng tác với các nhà cung ứng sản phẩm
để có những buổi giới thiệu những sản phẩm công nghệ mới để giúp sinh viên có thể
cập nhật kịp thời với những sản phẩm mới hiện nay.Trong đó, điện thoại di động là
một trong những sản phẩm được chú trọng nhất với những tính năng tiện ích mà điện
thoại mang lại đã giúp cho sinh viên có tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, giải
trí sau những giờ học căng thẳng, liên lạc với bạn bè ...
Hiểu được nhu cầu của giới trẻ ngày nay các nhà sản xuất như Samsung, Nokia,
LG,... đã đưa ra các sản phẩm ngày càng phù hợp với nhiều sự lựa chọn của sinh viên.
Sinh viên Đồng Tháp với xu hướng ngày càng hội nhập, năng động sáng tạo từng bước
tiếp cận với những sản phấm mới. Đặc biệt số lượng hơn 1200 sinh viên khoa Kinh Tế
là khoa có số lượng sinh viên có nhu cầu sử điện thoại nhiều nhất, đây là khoa có nhu
cầu tìm kiếm thông tin cho việc học chuyên ngành cũng như nhu cầu giải trí rất cao.
Đón trước nhu cầu của thị trường, các mạng di động lớn của Việt Nam là Samsung,
Nokia, LG,... đã cung cấp những sản phẩm có nhiều chức năng từng bước đến gần với
17
sinh viên Đồng Tháp hơn. Điện thoại di động được đánh giá là linh động và rẻ, phù
hợp với nhiều phân khúc thị trường. Giới trẻ, đặc biệt là sinh viên là những đối tượng
có nhu cầu liên lạc, giải trí lớn nhưng với kinh phí vừa phải thường lựa chọn sản phẩm
có giá cả tương đối dao động từ vài trăm (các bạn có hoàn cảnh không tốt) đến vài triệu
(các bạn có điều kiện tốt).
2.3 Kết quả điều tra thực tế
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu giới tính
Do đối tượng tiến hành nghiên cứu là sinh viên và nền kinh tế hiện nay đang phát
triển nên đa số đều có thu nhập từ 1 triệu - 2 triệu đồng (68%). Kế đến là các bạn có
mức thu nhập dưới 1 triệu đồng (18%), cuối cùng là các bạn có thu nhập trên 2 triệu
đồng chiếm tỷ lệ thấp nhất (14%).
80%
68%
70%
60%
50%
40%
30%
20%
18%
14%
10%
0%
2.000.000
4%
5%
0%
Truyền hình
Internet
Tự tìm hiểu Qua bạn bè
Báo chí
Tờ rơi
Khác
Biểu đồ 2.4 Nguồn thông tin kích thích nhu cầu
Qua biểu đồ ta thấy internet chiếm tỷ lệ cao nhất nhằm kích thích nhu cầu sử dụng
của sinh viên chiếm 15/50 tổng sự lựa chọn (30%). Ngày nay do nhu cầu tìm kiếm
thông tin cũng như giải trí phát triển thì internet là rất cần thiết đối với con người vì
vậy nhà cung cấp đã chọn hình thức marketing trên internet để kích thích nhu cầu sử
dụng điện thoại di động nên hình thức internet bạn sinh viên nhận biết , bên cạnh đó
20
còn có các hình thức khác được nhận biết cũng khá rõ ràng như: tivi, tờ bướm, tờ rơi,
báo chí, tự tìm hiểu,...Trong quá trình học tập thì các bạn sinh viên chia sẽ nhau những
kinh nghiệm trong việc học cũng như về các sản phẩm mà bản thân biết và thấy thích
thú về nó vì vậy không ngần ngại mà giới thiệu cho bạn bè cùng sử dụng, chính vì thế
mà bạn bè cũng là nguồn lực để kích thích nhu cầu sử dụng điện thoại di động có 28%
biết đến với 21/54 lựa chọn (38,89%). Bên cạnh đó Samsung cũng được nhiều sinh
viên biết đến với 24,07%. Các sản phẩm khác như LG, Apple, HTC, Sony Ericsson,…
chiếm tỷ lệ khá cao (29,63%). Với tỷ lệ thấp nhất là Motorola chỉ có 7,41%.
2.3.4 Đánh giá các phương án
21
Sau khi đã tìm kiếm thông tin về sản phẩm thì hầu hết mọi sinh viên đều phải cân
nhất lựa chọn sản phẩm đánh giá các phương án liên quan để lựa chọn sản phẩm cho
thích hợp. Các kiểu dáng của điện thoại di động là những yếu tố được mọi sinh viên
quan tâm khi lựa chọn sản phẩm.
Nắp gập
9.62%
Nắp trượt
25.00%
Thẳng
65.38%
Biểu đồ 2.6 Kiểu dáng của sản phẩm
Ngày nay do các nhu cầu như giải trí, tính thẩm mỹ ngày càng nâng cao đòi hỏi
các sản phẩm phải đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Điện thoại di động có kiểu
dáng thẳng mang tính mạnh mẽ, cá tính được nhiều người lựa chọn nhất với 65,38%,
những kiểu nắp trượt hay nắp gập được lựa chọn ít hơn với tỷ lệ tương ứng là 25% và
9,62%.
Ngoài ra còn có các thuộc tính khác như màu sắc, số sim điện thoại...
22
1 sim
62%
Biểu đồ 2.8 Số sim của sản phẩm
23
Hiện nay với công nghệ ngày càng phát triển đã tạo ra các loại điện thoại di động
có nhiều sim hơn để phục vụ nhu cầu liên lạc nên có 38% các bạn lựa chọn. Tuy nhiên,
điện thoại 2 sim lại có nhiều nhược điểm như: bắt sóng yếu, pin mau xuống cấp, máy
dễ bị hư... vì thế phần lớn sinh viên thích điện thoại di động có 1 sim (62%).
Bên cạnh về kiểu dáng, màu sắc thì giá sản phẩm cũng được nhiều bạn sinh viên
quan tâm để có thể đánh giá và đưa ra các quyết định lựa chọn
Từ 2 – 3 triệu
16.98%
Từ 3 – 4 triệu
1.89%
Dưới 1 triệu
28.30%
Từ 1 - 2 triệu
52.83%
Biểu đồ 2.9 Giá sản phẩm
Qua biểu đồ ta thấy phần lớn các bạn sinh viên đều cho rằng điện thoại di động có
giá từ 1- 2 triệu là hợp lý (52%), dưới 1 triệu chiếm 28,30%, các bạn có thu nhập cao
nên chọn giá điện thoại từ 2 – 3 triệu chiếm 16,98%, chỉ có 1,89% trong tổng số sinh
viên chọn giá từ 3 – 4 triệu.
25.00%
20.00%
15.00%
10.26%
10.00%
5.00%
0.00%
Liên lạc
Giải trí:
Tra cứu thông tin
Khác
Biểu đồ 2.11 Mục đích sử dụng điện thoại
25
Khi có quyết định sử dụng sản phẩm thì hầu hết tất cả các bạn sinh viên đều cho
rằng sử dụng điện thoại di động chủ yếu là để liên lạc chiếm tỷ lệ cao (35,90%); giải trí
là hình thức được lựa chọn thứ hai (29,06%); tra cứu thông tin là 24,79%.
Khi buồn
16%
Khác
26.67%
44.44%
20.45%
Gửi lời nhắn
Hỗ trợ thẻ nhớ
16.67%
41.46%
31.11%
Chức năng quản lý
30.61%
46.94%
Quay số bằng giọng nói 1.02% 18.52%
0%
Hài lòng
25.00%
54.54%
Tải nhạc
8.33% 16.67%
26.67%
40.91%
Wi-Fi 8.33%
20.00% 4.44% 2.22%
40.00%
9.76%
11.11%2.22%
23.81%
20.41%
18.52%
60%
Không hài lòng
80%
2.04%
7.41%
100%
Muốn
36%
Biểu đồ 2.14 Sinh viên đã từng sử dụng điện thoại di động
Biểu đồ cho thấy mặc dù đã từng sử dụng điện thoại di động những các bạn sinh
viên vẫn muốn được tiếp tục sử dụng chiếm phần lớn trong bộ phận số sinh viên đã
từng sử dụng điện thoại di động trong 50 bạn đang sử dụng thì lựa chọn muốn sử dụng
lại điện thoại di động (38%), do những tiện lợi của sản phẩm mang lại nên không có
bạn nào lựa chọn không muốn sử dụng điện thoại (0%).
28