Có thể noí Cách mạng tháng Tám 1945 là một dấu ấn quan trọng trong
lịch sử Việt Nam cũng như trong đời sống nội tại của văn học. Sự thành
công vang dội của cuộc Tổng Khởi Nghĩa không những đã cởi trói cho kiếp
sống nô lệ gần 100 năm của dân tộc Việt mà nó còn là bước ngoặt cởi trói
cho một thời đại văn học. Dòng văn học bất hợp pháp trước cách Mạng
tháng Tám trở thành dòng văn học chủ đạo chi phối toàn bộ cảm hứng sáng
tác, nhiệt huyết sáng tác của các văn nghệ sĩ. Những nhà văn, nhà thơ thuộc
các trường phái văn học lãng mạn và hiện thực được viêt với một tâm thế
mới. Được sáng tạo văn chương theo một hướng cùng với cách mạng. Được
tung ngòi bút trong văn học yêu nước công khai chứ không còn phải gửi
gắm kín đáo qua một vài chủ đề trung gian như trước đây nữa. Đó là thành
công của một quá trình “ nhận đường” đầy gian nan và thử thách.
Sau khi Cách Mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta lại bước vào một
giai đoạn chiến đấu đầy cam go, ác liệt khác. Đó là những bản tráng ca anh
hùng trong hai cuộc kháng chiến trường kì: Kháng chiến chống Pháp và
kháng chiến chống Mỹ đan xen trong một giai đoạn vừa kháng chiến ở miền
Nam vừa kiến quốc ở Miền bắc. Xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam dân
chủ Cộng hoà non trẻ.Chính trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt và anh
hùng ấy, đời sống văn học đã không hẹn mà cùng tập trung xây nên một bản
anh hùng ca giàu sức sống về những tấm gương quyết tâm bảo vệ đến cùng
từng tấc đất cuả Tổ Quốc. Để phục vụ cho nhiệm vụ “ toàn dân kháng
chiến”, văn học cũng trở thành một mặt trận chiến đấu bằng sức mạnh của
ngòi bút. Các nhà văn viết về các câu chuyện kháng chiến, viết về những
tấm gương anh hùng của người chiến sĩ. Biến hình tượng này trở thành nhân
vật trung tâm trong suốt một giai đoạn văn học trường kì. Cảm hứng tráng ca
với những trang văn cổ vũ, biểu dương những thành tích thần kì cũng như sự
1
hy sinh oanh liệt của toàn thể quân dân phục vụ cho một mục đích duy nhât :
chiến thắng kẻ thù xâm lăng. Hàng loạt các truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí
đến thơ ca đều tập trung miêu tả người lính, người chiến sĩ, miêu tả hình
tượng lãnh tụ vĩ đại hoà mình trong hình ảnh của Đảng, của Tổ Quốc. Tuy
mẹ cầm súng, Sống như anh…những bút kí như Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật
kí Đặng Thuỳ Trâm,…với những cảm hứng anh hùng ca sáng ngời dần được
thay thế bởi những vần thơ, tiểu thuyết, bút kí hiện sinh đậm cảm hứng cá
nhân, đời tư, thế sự. Các nhà văn đã ý thức được sức sống mãnh liệt của các
tác phẩm trong giai đoạn kháng chiến, đó là những tượng đài “ sống”, đẹp
hùng tráng mà không dễ thay thế được bằng một tác phẩm khác. Những tác
phẩm ấy đẹp bởi nó được thai nghén và sinh nở trong hiện thực cuộc kháng
chiến. Chính vì thế người nghệ sĩ trong giai đoạn văn học sau này đã tìm cho
mình một con đường mới, khai thác văn chương trong một cách nhìn mới
mà không hề phủ định các giá trị của các tác phẩm văn học trước đó.
Truyện ngắn cũng vậy.Với vai trò quan trọng của mình trong đời sống
văn học, giai đoạn văn học 1945- 1975 chúng ta đã được chứng kiến những
đóng góp to lớn của thể loại này trong chiến tuyến chiến đấu của người nghệ
sĩ.
Trong kháng chiến chống Pháp, các truyện ngắn vang dang như “Đôi
mắt”, “Làng”, “ Vợ chồng A phủ”, “ Thư nhà”…chủ yếu viết về quá trình
nhận đường của văn nghệ sĩ, viết về những người nông dân áo vải ra lính.
Trong kháng chiến chống Mỹ,“ Mảnh trăng cuôí rừng”, “ Chiếc lược ngà”,
“ Gai lửa”, “ Rừng xà nu”…chủ yếu lột tả hiện thực cách mạng bằng cảm
hứng ca ngợi, cảm hứng sử thi đậm nét. Sau khi cách mạng thành công,
truyện ngắn cũng như các loại hình văn học khác dần có sự thay đổi trong
3
cảm hứng sáng tác. Có thể nói trong giai đoạn mới này, truyện ngắn phát
triển như vũ bão. Nó cùng với tiểu thuyết, bút kí tạo nên những chuyển biến
mạnh mẽ trong đời sống văn xuôi Việt Nam. Các cây bút từ những bậc “ cây
đa, cây đề” trong đời sống văn học kháng chiến đến những cây bút trẻ chỉ
được nhìn kháng chiến qua một lăng kính tái hiện, lại cùng tập trung sáng
tác theo một xu hướng mới với một cảm hứng cá nhân, thế sự rõ nét. Những
tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp như “ Tướng về hưu”, “ Như những ngọn
gió Hua Tát”, “ Người con gái thuỷ thần”, “ Nàng Sinh”, “ Vinh Hoa”…hay
thể hiện tình yêu của anh. Chị ân hận và đau đớn hơn khi nghe câu chuyện
của những người lính trẻ không đang tâm để một người con gái nơi hậu
phương chờ đợi mình. Chị dâng hiến cho họ- cho những người lính ấy- với
ước mong, với tâm niệm đó là sự dâng hiến cho người chị yêu. Kết thúc câu
chuyện là một sự đau đớn khi chiến tranh đã qua đi mà người ta cũng vẫn
chưa thật sự chịu chấp nhận sự thật ấy. Bởi trong mắt một số cá nhân, viết về
chiến tranh là phải tráng ca, họ không dễ chấp nhận câu chuyện này, dù nó
đã xảy ra. Nhưng giá trị nhân văn của nó thì người ta không thể phủ nhận.
Chiến tranh luôn có hai mặt. Chúng ta phải chấp nhận điều đó. Đã có chiến
tranh là phải có hy sinh, mất mát. Không nên trốn tránh nó mà nên đối diện
với nó. Ở một mức độ, một khía cạnh nào đó sự hy sinh, sự chia ly còn làm
tăng thêm giá trị anh hùng ca cho chiến thắng.
Còn có rất nhiều tác phẩm khác nữa trong giai đoạn này viết về người
lính với cái nhìn mới tuy nhiên nó chưa phải là một mảng đề tài duy nhất của
truyện ngắn “ hậu hiện đại”. Khai thác cảm hứng cá nhân, đời tư, thế sự
trong truyện ngắn còn thể hiện qua một mảng đề tài khác. Đó chính là những
tác phẩm viết về những con người bình thường, những câu chuyện đời
5