TIỂU LUẬN TRIẾT mối QUAN hệ GIỮA ĐỊNH NGHĨA vật CHẤT của v i lê NIN với KHOA học tự NHIÊN HIỆN đại - Pdf 39

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA V.I.LÊNIN VỚI
KHOA HỌC TỰ NHIÊN HIỆN ĐẠI

Triết học Mác-đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật biện chứng, bởi bản chất bên
trong của nó có sự thống nhất hữu cơ giữa tính cách mạng và khoa học, hơn thế
nữa triết học Mác còn là thế giới quan, phương pháp luận, là vũ khí lý luận của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và loài người tiến bộ trên thế giới. Chính
vì vậy nó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, C.Mác đã viết: “ Giống
như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản
cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình ”.1 Điều này lại được V.I.Lênin
khẳng định: “ Sự hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội
chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính
chất khoa học chặt chẽ và cao độ ( đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội ) với
tinh thần cách mạng và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ
vì người sáng lập ra học thuyết đã kết hợp bên trong bản thân mình những phẩm
chất của nhà khoa học và của nhà cách mạng mà la kết hợp trong chính bản thân
lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít ”. 2 Cái bản chất, linh hồn sống
của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng, cũng như cái tạo nên
tính cách mạng và khoa học của nó, đó chính là phép biện chứng duy vật – một
học thuyết “ về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không
phiến diện ”. 3 Đối với phép biện chứng duy vật không có gì là tối hậu, là tuyệt
đối và thiêng liêng cả, nó chỉ vạch ra tính chất quá độ của mọi sự vật và trong
mỗi sự vật, và đối với nó không có gì tồn tại ngoài quá trình vận động biến đổi
và phát triển không ngừng từ thấp đến cao. Bản chất cách mạng của phép biện
chứng duy vật được thể hiện ở chỗ, trong khi đưa ra khái niệm về cái hiện tồn thì
1. C. M¸c vµ Ph ¡ng ghen, Toµn tËp, Nxb CTQG,HN, 1995, tËp 1, trang 589.
2 V.I.Lªnin, Toµn tËp, Nxb TB, M, 1980, tËp 1, trang 421.
3. V.I.Lªnin, Toµn tËp, Nxb TB, M, 1980, tËp 23, trang 53..


đồng thời cũng bao hàm, cũng chứa đựng trong nó quan niệm về sự diệt vong

cách đầy sáng tạo, toàn diện học thuyết Mác xít trên tất cả các bộ phận cấu thành
của nó, cả chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phù hợp
với những điều kiện lịch sử mới. Đó là những đóng góp về mặt triết học có tính
thời đại của V.I.Lênin vào dòng chảy liên tục của triết học nhân loại.
Tác phẩm “ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán ”, được
V.I.Lênin viết trong khoảng từ tháng Hai đến tháng Mười năm 1908, được in
thành sách vào tháng Năm năm 1909. Đây là thời kỳ lịch sử của nước Nga, khi
mà chính phủ chuyên chế của Nga Sa Hoàng sau khi đã đàn áp đẫm máu cuộc
cách mạng 1905 – 1907, đã thiết lập ở trong nước một chế độ khủng bố tàn bạo
của cảnh sát và nhà tù, khi mà thế lực phản động đã ngự trị trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội “ có tình trạng thoái chí, mất tinh thần, phân liệt, chạy
dài, từ bỏ lập trường, nói chuyện dâm bôn chứ không phải chính trị nữa. Xu
hướng càng ngã về triết học duy tâm; chủ nghĩa thần bí được dùng để che đậy
tinh thần phản cách mạng ”. 4 Sự biện hộ về phương diện tư tưởng cho thế lực
phản cách mạng, sự phục hồi tư tưởng thần bí tôn giáo, đều đã in dấu ấn trong
khoa học, văn học, nghệ thuật. Chiếm địa vị thống trị trong triết học là những
hình thức duy tâm phản động nhất, chúng phủ nhận tính quy luật trong quá trình
phát triển của tự nhiên và xã hội, phủ nhận khả năng nhận thức tự nhiên và xã
hội. Trong xã hội, đặc biệt là giai cấp tư sản, trí thức lan truyền rộng rãi “ thuyết
tìm thần ”, một trào lưu triết học – tôn giáo phản động. Các thế lực phản động,
phản cách mạng đã làm tất cả những gì có thể bôi nhọ giai cấp công nhân và
đảng của nó, phá bỏ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác. Trong tình hình đó,
việc bảo vệ triết học mác xít trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
4.V.I.Lªnin, Toµn tËp, Nxb TB, M, 1980, tËp 41, trang 11-12.


Các thế lực phản cách mạng ở Nga sau cách mạng 1905 không phải la một
hiện tượng “ thuần tuý Nga ”. ở châu Âu vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã
phát triển tràn lan triết học “ kinh nghiệm phê phán ” – chủ nghĩa Ma khơ. Xuất
hiện như một biến dạng của chủ nghĩa thực chứng, triết học Ma khơ có tham

đầu ” và phần “ kết luận ”, tác phẩm gồm 6 chương 39 mục. Tác phẩm đã đặt ra
và giải quyết thoả đáng hàng loạt vấn đề triết học quan trọng. Trước hết, trong
tác phẩm này,V.I.Lênin đã phát triển lý luận nhận thức Mác xít, giải quyết sâu
sắc vấn đề cơ bản của trết học về mối quan hệ vật chất và ý thức, đặc biệt là lý
luận phản ánh – cơ sở của lý luận nhận thức Mác xít. Đồng thời V.I.Lênin bàn về
cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, phê phán chủ nghĩa duy tâm vật lý,
vạch ra nguyên nhân của cuộc “khủng hoảng vật lý” và vạch ra lối thoát cho
cuộc khủng hoảng này. Cũng trong tác phẩm này, thông qua việc phê phán chủ
nghĩa duy tâm trên lĩnh vực xã hội, V.I.Lênin đã phát triển và làm giàu thêm
quan điểm của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Một trong những đóng góp hết sức quan trọng để bảo vệ và phát triển triết
học Mác xít trong “ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán ” của
V.I.Lênin là việc dựa trên cơ sở phân tích, khái quát những thành tựu mới trong
khoa học tự nhiên, ông đã đưa ra một định nghĩa hết sức khoa học và chuẩn xác
về phạm trù vật chất – nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng – một định
nghĩa mà cho tới nay khoa học hiện đại vẫn thừa nhận, giá trị thời đại của nó vẫn
được giữ nguyên.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, trong khoa học tự nhiên diễn ra một cuộc
cách mạng thực sự, làm thay đổi một cách căn bản những nhận thức của con
người về khái niệm vật chất. Năm 1895, Rơn Ghen đã phát hiện ra tia x, một loại
sóng điện từ có bước sóng từ 0,01 đến 100.10 8 mm. Năm 1896, Rơn Ghen phát


hiện ra tia phóng xạ, phát hiện này đã khẳng định nguyên tử không phải là bất
biến. Năm 1897, Tôm Xơn, đã phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử
là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử , nhờ phát minh này, lần
đầu tiên trong khoa học đã chứng minh sự tồn tại của nguyên tử là hiện thực.
Bằng thực nghiệm khoa học, năm1901, trong quá trình nghiên cứu những đặc
tính của nguyên tử, Rau tman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không
phải là khối lượng tĩnh mà là khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện

phi vật chất hoá, vật chất tiêu tan ”6. Đó là lời tuyên cáo đầy đắc thắng của chủ
nghĩa duy tâm đối với chủ nghĩa duy vật . Như vậy, các nhà khoa học tự nhiên
đầu thế kỷ 20 đã từ lập trường duy vật, chuyển sang lập trường hoài nghi và cuối
cùng rơi vào chủ nghĩa duy tâm trong vật lý học.
Đứng trên lạp trường khoa học của phép biện chứng duy vật, phân tích về
cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên và sự khủng hoảng trong vật
lý học, V.I.Lênin đã khẳng định : “ Thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học
hiện đại là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự
gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy
vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri. “ vật chất tiêu tan ” – người
ta có thể dùng câu nói đó để diễn tả cái khó khăn cơ bản và điển hình đối với
nhiều vấn đề riêng biệt, khó khăn đã gây ra cuộc khủng hoảng ấy. ” 7
Nhận thức và đánh giá đúng đắn bản chất của cuộc khủng hoảng vật lý
trong đầu thế kỷ 20, V.I.Lênin đã phân tích những thành tựu mới nhất trong khoa
học tự nhiên và chỉ ra nguyên nhân dẫn tới sự khủng hoảng ấy. V.I.Lênin đã
vạch ra hai nguyên nhân nhận thứ luận trực tiếp làm xuất hiện chủ nghĩa duy tâm
trong vật lý học . Theo ông, nguyên nhân đầu tiên dẫn tới sự khủng hoảng “ vật
5 V.I Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến Bộ, M, 1980, tập 18, trang 312
6 s®d, trang 318
7 s® d, trang 318


lý học ” đó là do các nhà khoa học đã toán học hoá vật lý lý thuyết, V.I.Lênin đã
phân tích : “ cuộc khủng hoảng vật lý học là ở chỗ tinh thần toán học đã chinh
phục vật lý học … những tiến bộ của toán học đã đưa đến sự hoà hợp chặt chẽ
giữa hai khoa học này trong thế kỷ 19… Vật lý lý thuyết trở thành vật lý toán
học … Thế là bắt đầu thời kỳ vật học hình thức , tức là thời kỳ vật lý học toán
học; vật lý học toán học trở thành toán học thuần tuý; vật lý học toán học không
phải là một ngành của vật lý, mà là một ngành của toán học. Trong giai đoạn mới
mẻ này, nhà toán học thường quen với những yếu tố khái niệm ( thuần tuý lô

quan điểm duy tâm về thớ giới. Điều này xuất phát từ nguyên nhân là các phát
minh trong vật lý học đụng chạm tới nhiều vấn đề lý luận, nhiều vấn đề triết học
trong khoa học tự nhiên. nhiều nhà bác học, do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy
tâm ,đã nói rằng : những quan niệm cũ của vật lý học đã phá sản, vì vậy, trong
thế giới không có chân lý khách quan; mọi tri thức của chúng ta chỉ là chủ quan,
tuỳ tiện, có điều kiện, những phát minh mới của khoa học hình như đã xua đuổi
mọi quy luật, mọi mối quan hệ nhân quả ra khỏi thế giới khách quan, ra khỏi thế
giới vi mô. Bởi vì, nguyên tử có thể bị phá huỷ, khối lượng vật thể có thể bị biến
đổi. Cho nên, theo các nhà duy tâm, không có một nguyên tử nào, không có một
vật chất nào là hiện thực khách quan cả; khái niệm vật chất chỉ là dấu hiệu cảm
giác của chúng ta mà thôi.
Những phát minh về những hiện tượng mới, những quy luật mới trong tự
nhiên đã bị các nhà triết học duy tâm như Ma khơ, Avênariút,… lợi dụng để khôi
phục chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực khoa học, để tuyên truyền “ chủ nghĩa
duy tâm vật lý ”, để đấu tranh chống chủ nghĩa duy vật, chống triết học Mác xít.
Cùng với đó, V.I.Lênin cũng chỉ ra : “ Một nguyên nhân khác sinh ra chủ
nghĩa duy tâm “ vật lý học ”, là nguyên lý của chủ tương đối, tức là nguyên lý


tương đối của tri thức chúng ta, một nguyên lý đã chi phối những nhà vật lý học
một cách đặc biệt mạnh mẽ trong thời kỳ sụp đổ đột ngột này của những lý luận
cũ và - cùng với tình trạng không hiểu phép biện chứng – tất nhiên nó cũng dẫn
đến chủ nghĩa duy tâm ”, 9 và V.I.Lênin còn khẳng định thêm : “ …người nào
không hiểu phép biện chứng duy vật thì nhất định phải chuyển từ chủ nghĩa
tương đối sang chủ nghĩa duy tâm triết học ”. 10 Chính bởi các nhà vật lý học đầu
thé kỷ 20 đã không nắm vững phép biện chứng duy vật về tính tương đối của
chân lý, đã không hiểu : “ chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những
chân lý tương đối đang phát triển; chan lý tương đối là những phản ánh tương
đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập đối với nhân loại; những phản ánh ấy
ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lý của khoa học, dù có tính tương

tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng; mọi giới hạn trong tự nhiên đều
chỉ là tương đối, có điều kiện, đều vận động; cũng giống như thế giới khách
quan, tri thức của chúng ta về nó luôn biến đổi, phát triển. Vật chất không biến
mất và không bao giờ biến mất, mà chỉ có “ giới hạn hiểu biết của chúng ta về
vật chất đang tiêu tan biến mất, những tri thức của con người về thế giới vật chất
ngày càng sâu sắc hơn; những đặc tính của vật chất mà trước đây được coi là
tuyệt đối, bất biến, đầu tiên ( tính không thể xâm nhập vào được quán tính, khối
lượng )…đang tiêu tan mất, và bây giờ tỏ ra là tương đối và chỉ là đặc tính vốn
có của một số trạng thái nào đó của vật chất. Vì, đặc tính duy nhất của vật chất –
mà chủ nghĩa duy vật triết học thì gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này – là
cái đặc tính là thực tại khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức của chúng ta.” 14
Từ sự phân tích thực chất nguyên nhân cuộc khủng hoảng trong vật lý học
đầu thế kỷ 20, và trên cơ sở tổng kết sự phát triển lâu dài của lịch sử triết học,
các tài liệu thực tiễn , trong tác phẩm “ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán ” V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn toàn khoa học về
phạm trù vật chất ; “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của
chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. ”

15

Đây là một định nghĩa về phạm trù vật chất hoàn toàn khoa học mà cho đến nay
13 s®d, trang 323 - 324
14 s®d, trang 321
15 s®d, trang 151


vẫn được khoa học thừa nhận, trong định nghĩa này đã giải quyết một cách triệt
để và sâu sắc hai mặt của vấn đề cơ bản triết học, theo lập trường của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, đồng thời bác bỏ tất cả những sự phản động, phản khoa học

là cái có sau ” 19 và “ vật chất là cái tác động vào giác quan của chúng ta thì gây
16
17
18
19

s®d, trang 172
s®d, trang 171
s®d, trang 380
s®d, trang 172


ra cảm giác, vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong
cảm giác. ”

20

Như vậy, theo V.I.Lênin, vật chất có nghĩa là cái tồn tại khách

quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức; vật chất – cái gây nên
cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó ( trực tiếp, gián tiếp )tác động lên
giác quan con người ; vật chất – cái mà cảm giác, tư du, ý thức chẳng qua chỉ là
sự phản ánh của nó. Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất
trong định nghĩa của V.I.Lênin đã mang lại nhiều ý nghĩa to lớn . Định nghĩa vật
chất của ông đã thể hiện lập trường thế giới quan nhất nguyên duy vật triệt để,
chống lại tất cả chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri luận.
Nếu như các nhà triết học duy tâm chủ quan như Ma khơ, Béc cơ ly, đã lẫn
lộn tất cả những cái hiện thực khách quan, vật lý với cảm giác và từ đó đã quy tất
cả vào cảm giác, coi đó là cái tồn tại duy nhất. Họ khẳng định : tất cả mọi sự vật
hiện tượng trong thế giới đều là “ phức hợp ”, “ tổng hợp ” của cảm giác, tồn tại

khiếm khuyết, hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình đã quy vật chất vào một
dạng vật chất cụ thể, hay đưa nó vào một thuộc tính vốn có nào đó, trong định
nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã chỉ ra rằng : vật chất là thực tại khách quan
không phụ thuộc vào cảm giác, tinh thần, ý thức của con người. Trong định
nghĩa triết học đó phạm trù vật chất có tính phổ biến và bao quát, nó không chỉ
gồm có những hình thức cụ thể nhất định nào đó của vật chất, với những điều
kiện nhất định, trong những trạng thái nhất định, mà nó bao gồm tất cả các sự vật
hiện tượng đang tồn tại trong hiện thực khách quan, mà nó có thể được con
người biết tới, hay chưa biết tới. Như vậy, có thể thấy được rằng những vấn đề
như : nguyên tử chỉ gồm có êléctơrông hay cả những bộ phận nhỏ bé nào khác,
khối lượng của nguyên tử trong những điều kiện khác nhau có thể thay đổi hay
không, hay là bất biến … cũng không thể làn thay đổi, đụng chạm tới khái niệm
vật chất của triết học, “ bởi vì - như Lênin nhấn mạnh – “ thuộc tính ” duy nhất


mà chủ nghĩa duy vật triết học thừa nhận là thuộc tính : vật chất là thực tại
khách quan, tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta .”

21

Với việc đề ra nguyên lý

hết sức quan trọng đó đã có tác dụng rất to lớn đối với sự phát triển triết học Mác
xít và với cả khoa học tự nhiên, trong định nghĩa V.I.Lênin đã khắc phục được
những quan điểm siêu hình về vật chất, đã chứng minh tính vững chắc của chủ
nghĩa duy vật về phạm trù vật chất. Bởi lẽ, cho dù khoa học tự nhiên khi đó, hay
sau này người ta có thể tìm ra những dạng vật chất mới, có những thuộc tính
hoàn toàn khác, hoàn toàn mới so với những hiểu biết của con người về nguyên
tử, êléctơrông đều không làm thay đổi được định nghĩa vật chất của V.I.Lê nin,
tất cả những điều đó đều không có ý nghĩa với việc giải quyết vấn đề cơ bản của

tận …”. 22 vật chất, giới tự nhiên là vĩnh viễn, vô cùng và không giới hạn.
Vật chất không phải là một cái gì đó chỉ có một vẻ và một chất. Vật chất tồn
tại dưới hình thức vô số những vật thể, những đối tượng muôn hình muôn vẻ
khác nhau về chất và lượng. Những đối tượng ấy hợp thành những lớp đối tượng
có thuộc tính giống nhau, đó là những dạng vật chất cụ thể. Những dạng vật chất
cụ thể, những sự vật hiện tượng vật chất cụ thể không phải là bất biến mà nó
luôn vận động, biến đổi, phát triển và chuyển hoá không ngừng, tất cả đều có
điểm kết thúc và giới hạn, nhưng một sự vật ở nơi này mất đi, một sự vật khác lại
thay thế, không thể có một dạng vật chất, một sự vật hiện tượng cụ thể nào lại
biến mất, hư vô, cũng như không có các vật thể vật chất nào được sinh ra từ hư
vô. Sự vật hiện tượng này kết thúc để sự vật hiện tượng khác bắt đầu, sự thay thế
và chuyển hoá của các dạng vật chất đó là không có giới hạn, không bao giờ kết
thúc. Vật chất là vĩnh viễn và vô tận.
Tóm lại, khi khẳng định vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho
con người trong cảm giác, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. V.I.Lênin đã giải
22 s®d, trang 323


quyết được hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm duy vật biện
chứng. Đồng thời định nghĩa vật chất của ông đã bác bỏ được thuyết bất khả tri,
và khắc phục được những khiếm khuyết trong quan điểm siêu hình – máy móc
về vật chất.
Từ sự phân tích, khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên,
V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa triệt để, cách mạng, khoa học về vật chất,
đồng thời, cũng từ định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã có ý nghĩa quyết định
hết sức quan trọng đối với các khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm những dạng,
những hình thức mới của vật thể trong thế giới. Hiện, nay khoa học tự nhiên hiện
đại không ngừng phát triển nhằm làm rõ hơn bức tranh vật chất của thế giới, với
ba khuynh hướng cơ bản :
Một là, khuynh hướng đi vào bề sâu của vật chất, bề sâu của những hạt vi

biến, không thay đổi, không phụ thuộc vào cái gì hết mà chỉ phụ thuộc vào chính
bản thân nó. Nhưng về sau, người ta đã xác định rằng : khối lượng của
êléctơrông thay đổi khi êléctơrông vận động, khối lượng đó gắn liền với điện từ
trường ( một đối tượng vật chất bao bọc quanh êléctơrông ). Cơ học lượng tử sau
đó đã phát hiện và chứng minh rằng : êléctơrông còn có các thuộc tính khác mà
người ta gọi là nhân tố nam châm và “ spin ” nam châm ( spin là một yếu tố số
lượng vận động của các hạt nhỏ, nó là một đại lượng giống như yếu tố số lượng
vận động của vật quang trong cơ học cổ điển, nhưng nó không phải do chuyển
động cơ học quyết định mà do những hiện tượng lượng tử đặc biệt quyết định ).
Một điều rất quan trọng trong cơ học lượng tử, là là người ta đã phát hiện ra
êléctơrông còn có thuộc tính sóng, nghĩa là điện tử vừa có thuộc tính hạt vừa có
thuộc tính sóng, êléctơrông trong khi tác động với pôditơrông, nó có thể chuyển


hoá thành phôtông. Đó là bước tiến trên con đường nhận thức tính chất phức tạp
của các hạt nhỏ của vật chất.
Trong khi tác động lẫn nhau với pôditơrông, êléctơrông có thể mất đi bằng
cách biến thành phôtông, đồng thời, nó có thể xuất hiện nhờ có phôtông. Nói
cách khác : hạt có thể chuyển thành sóng và sóng có thể chuyển hoá thành hạt.
Ngày nay người, cơ học lượng tử đã cho chúng ta biết về hạt khoảng 400 hạt kể
cả những phản hạt : phản pờrôtông, phản nơtơrông … những hạt này khác với
những hạt cơ bản của nó ở chỗ nó mang điện trái dấu. Là những hạt khác nhau
về chất của vật chất, những hạt “ nguyên tố ” không tồn tại một cách cô lập tách,
rời nhau. Trái lại, trong những điều kiện nhất định, tất cả những hạt đó đều thay
đổi bằng cách này hay cách khác. Đặc điểm nỏi bật của những hạt cơ bản đó là
chúng có thể biến thành bất cứ một hạt nào khác; chẳng hạn, trong khi pờrôtông
và phản pờrôtông tác động lẫn nhau có thể chuyển hoá thành phôtông với năng
lượng rất lớn, ngược lại phôtông với năng lượng rất lớn có thể chuyển hoá thành
pơrôtông và phản pơrôtông.
Cơ học lượng tử trong khi nghiên cứu những hạt cơ bản, dần dần cá nhà

…”. Không thể không ngạc nhiên về sự nhìn xa, sự mạnh dạn của lời tiên đoán
thiên tài đó. Nó không phải là sự phỏng đoán ngẫu nhiên, mà đó là kết quả tất
nhiên của quan niệm duy vật biện chứng về vật chất mà V.I.Lênin đã cống hiến
rất nhiều những cái mới trong việc xây dựng nên những quan niệm đó.
Phát triển theo hướng đi vào bề sâu của thế giới vi mô, cơ học lượng tử đã
ngày càng khám phá và làm sâu sắc hơn nhận thức của con người về kết cấu của
nguyên tử . Quá trình cơ học lượng tử đi sâu vào cấu trúc bên trong của nguyên
tử, có thể chia ra làm hai giai đoạn:


Giai đoạn một, giai đoạn cấu trúc mô hình nguyên tử theo kiểu thái dương
hệ. Ban đầu, vào năm 1897 người ta phát hiện ra trong nguyên tử có các hạt
êléctơrông mang điện tích âm, vì nguyên tử là trung hoà nên nguyên tử phải có
vật thể mang điện tích dương, và qua thí nghiệm , người ta đã đi đến giả định là
các hạt êléctơrông xoay quanh vật mang điện tích dương ấy là hạt nhân nguyên
tử, giống như kiểu các hành tinh quay quanh mặt trời. Đây là mô hình của
Rudơpho đưa ra năm 1911. Nhưng mô hình của Rudơpho có điểm không phù
hợp với sự hiểu biết của con người về sự vận động của êléctơrông, do đó, năm
1913 Bor đã đưa ra giả thuyết là các êléctơrông chỉ có thể xoay quanh hạt nhân
trên những quỹ đạo nhất định và phải thoả mãn một số điều kiện nhất định. Mô
hình của Bor phù hợp với thực nghiệm hơn mô hình của Rudơpho.
Giai đoạn hai, mô hình cấu trúc theo kiểu “ đám mây ” êléctơrông xoay
quanh hạt nhân. Bởi mô hình của Bor chưa thể giải thích được tại sao êléctơrông
có thể chuyển từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác khi nguyên tử phát ra hay hấp
thụ ánh sáng nếu bị kích thích. Mặt khác, cơ học lượng tử đã khẳng định rằng
êléctơrông không có vị trí xác định mà chỉ là xác suất và nó không có quỹ đạo
nhất định, từ đó, người ta thay mô hình cấu trúc của Bor bằng hình ảnh “ đám
mây ” êléctơrông. Đó là mô hình mà hiện nay vẫn được khoa học chấp nhận.
Từ cấu trúc của nguyên tử, khoa học hiện đại tiếp tục đi sâu vào làm rõ cấu
trúc của hạt nhân nguyên tử. Mô hình hạt nhân được cấu thành từ các hạt prôtông

Khi tiến hành nghiên cứu cấu trúc của hạt nhân nguyên tử, các nhà khoa
học đã chứng minh rằng: các lực cơ bản chính là chất kết dính để liên kết các hạt
và phản hạt thành nguyên tử và các phân tử khác nhau. Khoa học đã thừa nhận
có 4 loại lực cơ bản: lực hấp dẫn; lực điện từ - lực điện tĩnh và lực từ (nam


châm); lực tương tác yếu gây nên sự phân rã của hạt nhân trong phóng xạ; lực
tương tác mạnh gắn prôtông, nơtơrông thành các hạt nhân nguyên tử, gắn các hạt
quak thành prôtông, nơtơrông; các lực cơ bản được truyền đi với tốc độ hữu hạn,
với tốc độ nhỏ hơn hoặc bằng tốc độ ánh sáng, qua một môi trường gọi là trường
(trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác yếu, trường tương tác mạnh).
Lực tương tác giữa các vật thể được thực hiện bằng các trường thông qua việc
trao đổi hạt đặc biệt: hạt năng lượng.
Vật chất dưới hình thái hạt và phản hạt, được gọi là vật thể, bên cạnh dạng
vật chất đó còn có một dạng vật chất thứ 2 đó là trường (field, clamp), với 4 loại
trường cơ bản đã nêu ở trên. Trường truyền lực thông qua việc trao đổi như hạt
phô tông, hạt bôson, hạt ghison, đó cũng là các hạt của trường khác với hạt quak
và hạt lepton. Sự phân biệt vật chất thành 32 dạng vật thể (hạt) và trường chỉ ở
cấu trúc vi mô, còn ở cấu trúc vĩ mô thì vật chất vừa là vật thể vừa là trường.
Cùng với sự phát triển của cơ học lượng tử đi sâu vào tìm hiểu thế giới vật
chất vi mô, các nhà khoa học cũng tìm hiểu thế giới vật chất vĩ mô, và trong thế
kỷ 20, các nhà thiên văn học đã phát hiện ra các vật kỳ lạ như “hố đen vũ trụ”,
“những vật chất tối”, đặc biệt là khi nghiên cứu cấu trúc của vũ trụ, tìm hiểu các
vì sao, thiên hà, hệ thiên hà, siêu thiên hà. Các nhà khoa học cũng đã có những
thành tựu trong việc giải thích sự tiến hoá của vũ trụ, trong đó có cả những giả
thuyết cũng còn đang được tranh luận rất nhiều trong triết học và khoa học mà
vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng, đó là thuyết vụ nổ lớn “Bigbang”.
Tóm lại, việc khám phá bản chất và cấu trúc sự tồn tại của thế giới vật chất
quanh ta, mà trước hết là thế giới các vật thể hữu hình, đã, đang và sẽ vẫn là vấn
đề luôn được quan tâm hàng đầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại. Việc



mang tính thời sự hiện đại. Định nghĩa đó không chỉ góp phần bảo vệ thành công
thế giới quan duy vật mác xít, đập tan tư tưởng, trào lưu triết học phản khoa học
đầu thế kỷ 20, mà còn có ý nghĩa, vai trò to lớn trong sự phát triển khoa học tự
nhiên hiện đại.
Khoa học tự nhiên hiện đại đang có sự phát triển mạnh mẽ , có tính chất
nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, nó đã giúp con người hiểu biết ngày càng sâu sắc
về thế giới xung quanh chúng ta, về chính bản thân con người với những điều
hiểu biết đầy lạ lùng, bất ngờ, trong đó còn nhiều vấn đề mà khoa học hiện đại
mới chỉ tiếp cận đến mà chưa thể hoàn toàn vén được bức màn bí mật che phủ
lên đó. Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thì sự liên minh
giữa triết học và khoa học tự nhiên là tất yếu. để thúc đẩy cho khoa học tiếp tục
phát triển, không rơi vào chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, các nhà khoa học cần
phải trở thành nhà duy vật biện chứng, đồng thời đối với các nhà triết học, để
chủ nghĩa duy vật có thể trở thành chủ nghĩa duy vật chiến đấu, thì họ cần phải
ra sức học tập, tìm hiểu, theo sát sự phát triển của khoa học tự nhiên để góp phần
làm giàu thêm nội dung nguyên lý của triết học Mác – Lênin, bổ xung cho những
nguyên lý ấy những luận cứ khoa học để chứng minh, khẳng định cho tính cách
mạng khoa học đúng đắn của triết học Mác xít.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status