ĐỀ tài KHOA học mô HÌNH và PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG của các lực LƯỢNG QUÂN đội sản XUẤT, xây DỰNG KINH tế - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là
quy luật tồn tại và phát triển của nước ta hiện nay. Đó cũng là sự tiếp nối
truyền thống ngàn năm dựng nước phải đi đôi với giữ nước của ông cha.
Ngày nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên đất
nước ta đang diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
đang có những biến chuyển, vừa có thời cơ vừa chứa đựng những nguy cơ
không thể xem thường. Do vậy, trong khi không một phút lơ là nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc, duy trì cục diện hòa bình ổn định cho phát triển kinh tế xã hội, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức huy động mọi nguồn
lực, mọi khả năng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh".
Có thể thấy rằng, tư duy chiến lược mới về bảo vệ Tổ quốc, về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, về phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những vấn đề rất mới đối với quân đội
trong hoạt động thực tiễn của mình. Nó đòi hỏi quân đội phải bổ sung, đổi
mới tư duy về các nhiệm vụ chiến lược, trong đó có nhiệm vụ lao động sản
xuất, xây dựng kinh tế.
Trong suốt hơn 70 năm qua kể từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế luôn có vị trí, ý
nghĩa rất quan trọng, là truyền thống, bản chất và nhiệm vụ chiến lược lâu
dài. Trong các bước ngoặt lịch sử của dân tộc ta từ khi có Đảng mỗi khi đất
nước có chuyển biến Đảng lại có sự chỉ đạo cụ thể về vấn đề này. Bởi vậy,
quân đội đã góp phần đắc lực vào phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ
sản xuất và cải tiến vũ khí trang bị, nâng cao năng lực của khu vực sản xuất
1



Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức mô hình và phương thức
hoạt động của các lực lượng quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế:
- Các doanh nghiệp quân đội sản xuất, xây dựng kinh tế.
- Các khu kinh tế quốc phòng.
- Lực lượng quân đội thường trực sản xuất, xây dựng kinh tế.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về kinh tế và quân sự; các quan điểm, đường lối kinh tế,
đường lối quân sự của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, phương pháp kết hợp lôgíc và lịch sử, phương pháp thống kê - so
sánh, phân tích - tổng hợp, cấu trúc hệ thống và phương pháp chuyên gia.
5. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận và các phụ lục kèm theo.

3


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
QUÂN ĐỘI SẢN XUẤT, XÂY DỰNG KINH TẾ

1.1. VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI THAM GIA SẢN XUẤT, XÂY DỰNG
KINH TẾ

1.1.1. Mối quan hệ giữa quốc phòng với kinh tế, vai trò của quân
đội nhân dân Việt Nam đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Mối quan hệ giữa kinh tế và chiến tranh từ rất lâu đã là mối quan
tâm của các nhà tư tưởng, các nhà kinh tế và quân sự. Về vấn đề này trong
lịch sử, người ta đã bắt gặp khá nhiều quan điểm, ít nhiều mang tính phiến

mãn các nhu cầu của quốc phòng, nhu cầu của chiến tranh.
Và tất nhiên, chiến tranh cũng tác động trở lại đối với kinh tế. Hậu
quả không thể tránh khỏi của chiến tranh là người chết, cơ sở vật chất bị
phá hủy, tài sản quốc gia mất mát và khả năng sản xuất của xã hội bị thu
hẹp lại do phải rút bớt một số lớn nhân lực đang tham gia sản xuất để bổ
sung cho quân đội; phải tổ chức sản xuất các loại quân dụng. Việc cung cấp
cho các ngành sản xuất quân sự những phương tiện cần thiết trong nền kinh
tế quốc dân sẽ đưa đến những biến đổi quan trọng về cơ cấu, các chỉ tiêu
kinh tế, cấu trúc ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ v.v...
Từ sự phân tích về mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế, giữa
sức mạnh quân sự và sức mạnh kinh tế cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa
kinh tế và quốc phòng. Ở đây cần nhấn mạnh rằng, mối quan hệ giữa sức
mạnh kinh tế với sức mạnh quân sự được nhận thức và vận dụng khác
nhau, tùy theo mục đích mà từng chế độ xã hội theo đuổi. Có những nước,
sự kết hợp này là nhằm tiến hành chiến tranh xâm lược. Với những nước
khác, đó là để củng cố nền an ninh quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, tài sản và tính mạng nhân dân.
Một quốc gia độc lập, có chủ quyền, muốn tồn tại và phát triển đều
phải biết kết hợp hài hòa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng. Đó cũng
là yêu cầu đối với nhà nước XHCN.
5


Bản chất của chủ nghĩa xã hội là hòa bình và hữu nghị. Nhưng thực
tế khi cách mạng vô sản chưa thể thành công cùng một lúc trên cả thế giới,
các nước XHCN luôn đứng trước sự đe dọa thường xuyên, nghiêm trọng
của những âm mưu xâm lược và can thiệp quân sự đủ mọi qui mô từ phía
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế. Trong những điều kiện
đó, bất cứ một nhà nước XHCN nào trong khi triển khai công cuộc lao
động sáng tạo hòa bình của mình cũng phải chăm lo xây dựng, củng cố sự

chiêu mộ dân nghèo không có ruộng đất làm nô tì đi khai khẩn miền đất bồi
ven biển ở hạ lưu sông Hồng, lập nên các điền trang màu mỡ có dân cư
đông đúc v.v... Có thể nói, đấy là sự phân bố lại nhân lực, vật lực để giữa
các vùng trong nước bớt phần chênh lệch, để khi nếu có chiến tranh xảy ra
thì việc cung ứng sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm đỡ phần khó khăn, lúng túng.
Đồng thời, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần còn chú ý tu bổ, mở
mang những tuyến đường giao lưu thủy, bộ không những nhằm mục đích
giao lưu kinh tế mà còn phục vụ đắc lực cho nhu cầu quốc phòng quân sự
như cơ động lực lượng vận tải tiếp tế, thông tin liên lạc khi chiến tranh xảy
ra. Những cuộc hành quân cơ động lực lượng hàng vạn, chục vạn người
trong 3 cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên vào nửa cuối thế kỷ XIII
và trong những lần đánh dẹp các lực lượng phong kiến phương Nam, phía
Tây xâm nhập bờ cõi đất nước ta vào nửa cuối thế kỷ XV đã được tiến
hành mau lẹ, một phần là nhờ ở hệ thống giao thông thủy bộ được tu bổ,
mở mang sẵn từ thời bình.
Cùng với sự khuyến khích nông nghiệp, chú ý tu bổ, mở mang giao
thông, các triều đại phong kiến đang lên Đại Việt còn quan tâm đến việc
phát triển các ngành thủ công nghiệp trong nước, nhất là các ngành nghề có
liên quan đến quốc phòng của đất nước. Từ thế kỷ XI trở đi, Đại Việt đã
bắt đầu xuất hiện các xưởng thủ công của Nhà nước đặt ở kinh đô. Cùng
với các xưởng thủ công của Nhà nước, các lò thủ công gia đình cũng được
phát triển. Các lò thủ công thời bình thì hướng vào nhu cầu phát triển sản
xuất và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương; thời chiến thì có thể mau
chóng chuyển sang phục vụ các nhu cầu quân sự như các nghề khai mỏ,
7


đúc đồng, rèn sắt, đóng thuyền v.v... Đây là cơ sở sản xuất cung cấp chủ
yếu các loại vũ khí cho các lực lượng thủy binh, thổ binh và còn cung ứng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status