LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế PHÁT TRIỂN KINH tế hộ GIA ĐÌNH MIỀN núi TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG cơ CHẾ THỊ TRƯỜNG ở nước TA - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1- Tính cấp bách của đề tài
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta, phát triển
kinh tế hộ gia đình nông dân, là một trong những chủ trương và giải pháp
phát triển kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu
nổi bật đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đã khẳng định tính
đúng đắn và khoa học của chủ trương và giải pháp đó. Hiện nay, "Kinh tế
hộ gia đình ở nông thôn... (vẫn đang) là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu
quả về kinh tế - xã hội, (sẽ) tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn" [43, 11].
Vùng núi nước ta chiếm 3/4 diện tích cả nước, là vùng có ý nghĩa
chiến lược trong các cuộc cách mạng. Hiện nay, là địa bàn sinh sống của
24 triệu người, với 54 dân tộc anh em. Các hộ gia đình dân tộc và miền núi,
trước đây cũng như hiện nay phần lớn là những hộ gia đình nông dân
(khoảng 3 triệu hộ), vì vậy mọi sự đổi thay về kinh tế miền núi trước hết
được biểu hiện ở sự chuyển biến trong nông nghiệp, nông thôn và hình
thức kinh tế hộ gia đình nông dân. Trong những năm đổi mới vừa qua, sản
xuất nông nghiệp miền núi đã có nhiều cố gắng và đạt được những tiến bộ
khá. Sự đóng góp vào những tiến bộ chung đó của hình thức kinh tế hộ gia
đình nông dân miền núi là to lớn và quan trọng. Tuy nhiên, so với những
kết quả và thành tựu đạt được thì những việc chưa làm được, những tồn tại
yếu kém của kinh tế hộ gia đình nông dân như trình độ phát triển còn ở
mức rất thấp, thực trạng sản xuất nhỏ, tự nhiên, tự cung tự cấp và đói nghèo
còn là phổ biến, nhiều vấn đề bức thiết trong quá trình phát triển chưa được
quan tâm giải quyết thỏa đáng, còn làm day dứt nhiều cấp, nhiều ngành.
1


Thực tế đó, đã và đang đặt ra những yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu, khảo

2


"Phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá trình chuyển sang có chế thị trường",
một cách đầy đủ, có hệ thống của chuyên ngành kinh tế học phát triển.
3- Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án: Làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hộ
gia đình nông dân trong cơ chế thị trường và thực tiễn phát triển kinh tế hộ gia đình
nông dân miền núi. Từ đó, xác định quan điểm, phương hướng và những giải pháp cơ
bản nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích đó luận án có nhiệm vụ:
- Phân tích và lý giải: 1. Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân trong cơ chế
thị trường - một tất yếu khách quan. 2. Phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân ở một số
quốc gia trên thế giới.

- Đánh giá thực trạng kinh tế hộ gia đình miền núi nói chung và
miền núi Tây Bắc nói riêng. Xác định được nguyên nhân của thực trạng và
một số vấn đề mới phát sinh.
- Trình bày và đề xuất một số quan điểm, phương hướng và những giải pháp cơ
bản nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá trình chuyển
sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay.
4- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Vùng núi nước ta, do sự thấp kém về trình độ phát triển, nên phát
triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong cơ chế thị trường đang gặp rất
nhiều khó khăn, bất cập về nhiều mặt, thực tế đó đặt ra nhiều vấn đề cần
nghiên cứu giải quyết.
Do nhiều lý do, trong đó có lý do về năng lực bản thân tác giả, vì vậy, phạm vi,
giới hạn của đề tài là nghiên cứu: Phát triển của kinh tế hộ gia đình nông dân miền núi,

HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH NÔNG DÂN TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG - MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, thành tựu to lớn mà dân
tộc ta đạt được trong hơn mười năm đổi mới vừa qua luôn có sự đóng góp
rất quan trọng của kinh tế hộ gia đình nông dân Việt Nam. Qua đó đã hình
thành và phát triển một nhóm các hộ giàu và khá, biết làm ăn, vững vàng
trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường. Tuy vậy, vẫn còn một bộ
4


phận không nhỏ hộ gia đình (tập trung chủ yếu ở miền núi) đang lâm vào
cảnh khó khăn, túng thiếu, làm ăn kém hiệu quả, "chênh vênh" trước quyền
tự chủ của mình. Thực tế đó đã và đang đặt ra yêu cầu: Trong quá trình
chuyển sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, phát triển kinh tế hộ gia
đình miền núi như thế nào để vừa sát với điều kiện cụ thể của miền núi một vùng lãnh thổ đặc biệt, vừa hợp quy luật và hợp lòng dân.
Để có câu trả lời đúng đắn, cần bắt đầu từ việc nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn về thị trường, cơ chế thị trường.
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về thị trường và cơ chế thị trường
Kinh tế tự nhiên, trong lịch sử phát triển, là hình thức kinh tế đầu
tiên của loài người, với những đặc trưng cơ bản, sản xuất những sản phẩm
nhằm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất, thường bị khép kín
trong phạm vi đơn vị sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc, ít có quan hệ với bên
ngoài, mang đậm tính bảo thủ và trì trệ. Hình thức kinh tế này đã tồn tại
trong một thời gian dài từ thời kỳ công xã Nguyên thủy, chiếm hữu Nô lệ
đến chế độ Phong kiến.
Kinh tế hàng hóa, bước phát triển cao và kế tiếp của kinh tế tự
nhiên, là kết quả của việc mở rộng và gia tăng sự phân công lao động của


Qua các ý kiến khác nhau, có thể hiểu (theo cách hiểu chung nhất):
Thị trường, là tổng hợp các điều kiện, các nhân tố để thực hiện giá trị hàng
hóa, phản ánh mối quan hệ giữa người với người (nhà sản xuất và người
tiêu dùng) trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ.
Như vậy, quan niệm về thị trường đã và đang được xem xét từ
nhiều góc độ, phản ánh tính đa dạng và phức tạp của phạm trù này. Tuy
nhiên, điểm chung cơ bản mà hầu như quan niệm nào cũng đề cập đến đó là
người bán và người mua và quan hệ mua - bán giữa hai chủ thể đó là hạt
nhân tạo lập thị trường. Những hành vi đó diễn ra không hề tùy tiện hay lộn
xộn mà luôn theo các yêu cầu nghiêm ngặt do sự tác động và điều tiết của
các quy luật đặc thù của thị trường. Đối với nhà sản xuất hàng hóa cần phải

6


giải quyết các vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho
ai?
Theo các nhà kinh tế Việt Nam, (tiêu biểu là Phó giáo sư Đào Xuân
Sâm), cho rằng: Thị trường (như cách hiểu trên) là một hệ thống lớn, gồm
ba phân hệ, tức là ba thị trường cơ bản gắn bó với nhau:
- Thị trường các loại hàng hóa.
- Thị trường sức lao động.
- Thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Hệ thống thị trường cũng như mỗi phân hệ đều có ba chức năng cơ bản và gắn bó
hữu cơ với nhau: Trước hết, đó là chức năng định giá, tức là tạo cơ chế khách quan của
việc hình thành giá cả thị trường gồm giá cả các loại hàng hóa, tiền lương tức giá cả sức
lao động, lãi suất tín dụng, lợi tức chứng khoán, tỷ giá đồng tiền... là giá cả thị trường
tiền tệ và thị trường vốn. Thứ hai, chức năng kích thích huy động mọi nhân tài, vật lực
vào phát triển sản xuất kinh doanh, với cơ chế cạnh tranh chọn lọc, vì mục đích mưu

Là quy luật cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nội dung cơ
bản và yêu cầu khách quan của quy luật: Lượng giá trị của hàng hóa do thời
gian lao động tất yếu quyết định. Trao đổi hàng hóa phải lấy lượng giá trị
đó làm cơ sở để thực hiện trao đổi ngang giá. Sự hoạt động của quy luật
này thông qua giá trị trao đổi (tức giá cả), trao đổi ở đây được thực hiện
bằng tiền bao gồm tiền giấy, tín phiếu, trái phiếu, vàng...
Trong sản xuất, dưới tác động của quy luật giá trị buộc các nhà sản xuất hàng
hóa phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm, cải tiến kỹ thuật và quản lý, nâng cao chất lượng mặt hàng. Trong lưu thông,
quy luật giá trị có tác dụng hình thành giá cả thị trường, điều chỉnh cung cầu. Do vậy,
các nhà sản xuất kinh doanh trong đó có hộ gia đình muốn tồn tại và phát triển trong cơ
chế thị trường cần nắm vững nội dung yêu cầu cơ bản của quy luật giá trị.
Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, đối tượng sản xuất và kinh doanh của kinh tế
hộ gia đình nông dân chủ yếu là các loại nông sản hàng hóa, đối tượng đó có những đặc
điểm riêng, trong đó sự gắn bó hữu cơ giữa cây trồng vật nuôi với đất đai, khí hậu thời
tiết là một trong những đặc điểm riêng khá đặc thù. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của
kinh tế hộ gia đình nông dân không chỉ phụ thuộc vào quá trình đầu tư mà còn phụ
thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng. Chất lượng, chi phí trong việc sản xuất ra
một số loại sản phẩm nào đó đối với từng hộ, từng nhóm hộ ở những vùng, những quốc
gia khác nhau thường khác nhau.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của khoa học và công nghệ chỉ có thể hạn chế
một phần tác hại do thiên nhiên gây ra, nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng
của điều kiện tự nhiên đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình. Những rủi ro,
thất thiệt mà kinh tế hộ gia đình nông dân phải gánh chịu, vì vậy, không chỉ do những
biến động của thị trường mà còn do sự khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra. Để duy trì
quy mô sản xuất nông sản, Chính phủ và các nhà kinh doanh nông sản phải hình thành
nguồn tài chính bảo hiểm thiên tai và có những biện pháp hữu hiệu nhằm ổn định giá cả
thị trường.
Quy luật cung - cầu:


vài ngày, vài tuần hộ gia đình nông dân có thể tạo ra nông sản để tăng cung
cho thị trường. Ngược lại, khi cung nông sản tăng, giá cả hạ, hộ gia đình

9


cũng không thể tăng tiêu dùng nông sản vượt quá nhu cầu tiêu dùng đòi
hỏi.
- Là hàng hóa nông sản thực phẩm nên tiêu chuẩn vệ sinh môi trường luôn
được hộ tiêu dùng quan tâm. Kỹ thuật trồng trọt, phương thức sử dụng phân bón hóa
chất, chất lượng chế biến là những yếu tố quyết định chất lượng hàng hóa nông sản,
quyết định cung cầu hàng hóa nông sản. Vì vậy để nông sản trở thành hàng hóa, kinh tế
hộ gia đình ngoài việc phải tích cực đổi mới kỹ thuật canh tác, cần quan tâm đến công
nghệ bảo quản và chế biến nông sản, thực phẩm.
- Do đối tượng sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ gia đình nông dân có đặc
điểm, là cơ thể sống, sản phẩm hàng hóa là hàng tươi sống, sản xuất mang tính thời vụ,
cung - cầu nông sản cũng thường tăng giảm theo mùa. Việc thừa hoặc thiếu nông sản
hàng hóa và sự biến động của giá cả thị trường nông sản thường do mùa vụ chi phối, tác
động.
Để có nông sản hàng hóa, kinh tế hộ gia đình nông dân phải trải qua quá trình
kinh doanh kéo dài. Ngoài một số cây ngắn ngày, gia súc nhỏ có chu kỳ sinh trưởng
ngắn, có nhiều cây trồng vật nuôi phải mất hàng năm hoặc nhiều năm mới cho sản
phẩm, điều đó cũng có nghĩa là để đạt điểm cân bằng cung - cầu của một số nông sản
cũng cần có nhiều thời gian và cung - cầu trong thị trường tiền tệ và thị trường vốn
không thể không tính đến thực tế: Tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh của kinh tế hộ gia
đình nông dân thấp, chậm thu hồi vốn đầu tư. Đây cũng là khó khăn trở ngại lớn của các
hộ gia đình nông dân nghèo khi kinh doanh rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm
và chăn nuôi đại gia súc. Vì vậy, ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi hộ, nhiều loại nông
sản đòi hỏi phải có sự hỗ trợ rất lớn nhất là thời kỳ đầu của các tổ chức tài chính, ngân
hàng, các doanh nghiệp Nhà nước.

tham gia thị trường hoàn toàn tự do, hành vi của họ (người bán và người mua) không
ảnh hưởng đến giá cả của thị trường.

Cạnh tranh không hoàn hảo (mang tính độc quyền) là kiểu cạnh
tranh mà khả năng gia nhập hoặc rút khỏi thị trường là khó khăn, hành vi
của họ đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường.
Đối với kinh tế hộ gia đình do năng lực sản xuất hàng hóa có hạn nên chỉ có
thể tham gia vào thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Trong cơ chế thị trường, để tăng khả năng cạnh tranh, kinh tế hộ gia đình nông
dân cần khai thác lợi thế so sánh để tăng năng suất và hạ giá thành nông sản. Ở nước ta,

11


trước đây khi nền kinh tế còn hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thì nông
sản được sản xuất theo nguyên tắc "đất nào cây ấy", ngày nay trong quá trình chuyển sang
cơ chế thị trường người ta thường nhấn mạnh "sản xuất sản phẩm gì mà thị trường cần",
chứ không phải sản xuất cái gì có khả năng sản xuất. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là
trong cơ chế thị trường không cần đến mức độ thuận lợi của ruộng đất, điều kiện khí
hậu thời tiết. Trong kinh doanh nông nghiệp có định lý hiển nhiên là cùng một lượng đầu
tư như nhau nhưng năng suất hiệu quả khác nhau giữa các vùng, giữa các quốc gia. Do đó,
để tăng lợi nhuận, tăng lợi thế cạnh tranh thì việc phân vùng kinh tế, hình thành những
vùng chuyên môn hóa gắn với những lợi thế về ruộng đất, khí hậu thời tiết là một yêu
cầu khách quan.
Trên đây là các quy luật cơ bản kinh tế thị trường, giữa các quy luật có mối
quan hệ biện chứng. Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong đó có kinh tế hộ gia đình,
khi chuyển sang cơ chế thị trường muốn tồn tại và phát triển nhất thiết phải chấp nhận
sự tác động của các quy luật đó. Sự tác động đó là khách quan hoàn toàn không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan và nguyện vọng của kinh tế hộ gia đình.


* Kinh tế hàng hóa có những điều kiện để thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu
vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của con người.

Trước yêu cầu và sự tác động mạnh mẽ của các quy luật sản xuất và
lưu thông hàng hóa, các nhà sản xuất kinh doanh phải thường xuyên mở
rộng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của mình. Kết quả đạt
được của các hoạt động đó là tạo thêm những điều kiện thuận lợi để thỏa
mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn
diện của con người.
Bên cạnh những ưu điểm, kinh tế hàng hóa cũng đã và đang bộc lộ những
khuyết tật, những mặt trái, như tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp; tình trạng ô
nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, tàn phá đất đai, hủy hoại tài nguyên rừng...
vì mục đích lợi nhuận.
Trong lịch sử phát triển của mình, có thể thấy chưa bao giờ kinh tế thị trường
có sức bành trướng rộng lớn như hiện nay; và đi cùng với nó là những vấn đề cũng rất
phổ biến, đó là sự bùng nổ các vấn đề xã hội. Những từ ngữ tưởng đã đi vào dĩ vãng (như
khủng hoảng, xung đột, dân tộc, sắc tộc...) thì nay lại xuất hiện ở mức đáng sợ. Thất
nghiệp 10% được coi là bình thường, cuộc chạy đua tìm việc làm diễn ra quyết liệt. Sự
phân hóa giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ, ở nước Mỹ 10% số người nghèo nhất bị giảm đi

13


21% thu nhập. Các tệ nạn xã hội đã trở thành những chứng bệnh "Ung thư xã hội" mà
theo nhiều người cho là vô phương cứu chữa. hòa bình, ổn định của nhiều quốc gia trên
thế giới bi đe dọa bởi những mưu tính chính trị kinh tế của một số nước lớn. Trong suốt
50 năm qua (1946- 1996), thế giới của chúng ta đã phải chứng kiến và chịu đựng 198
cuộc chiến tranh với quy lớn nhỏ khác nhau. Sự kiện kinh hoàng mà ít ai lường nghĩ tới
đó là cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Nam Á và Đông Á năm 1997, là cuộc khủng
hoảng lớn nhất trong suốt 50 năm, với mức thiệt hại trên 2.000 tỷ USD Mỹ [70, 2-3].



đó mà đổi mới cơ bản chính sách và cơ chế quản lý kinh tế; nói cách khác đó là quá
trình tìm tòi, thử nghiệm và sáng tạo bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ quần chúng nhân
dân, từ thực tế có Đảng lãnh đạo. Đó là cách làm sở trường đã có trong truyền thống
cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh gây dựng, nay vẫn còn nguyên vẹn giá
trị đích thực của nó.

1.1.2. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình trong nền
kinh tế hàng hóa
Trong nền kinh tế hàng hóa, hình thức kinh tế hộ gia đình nông dân do những ưu thế
riêng, nên đã và đang tồn tại phát triển một cách khách quan. Song, để khẳng định vị trí,
vai trò tích cực của mình trước hết họ phải là "hộ hàng hóa". Phát triển kinh tế hộ gia
đình nông dân trong kinh tế hàng hóa, thực chất là quá trình phát triển từ "hộ tự cung tự
cấp" lên "hộ hàng hóa" với những ưu điểm vượt trội của nó (nội dung này sẽ nêu kỹ ở
phần sau).
Quan niệm về hộ, gia đình và kinh tế hộ gia đình.
Quan niệm về "Hộ", "Gia đình", "Kinh tế gia đình" và "Kinh tế hộ gia đình" được nhiều
tổ chức, nhiều viện nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm đề
cập từ nhiều góc độ khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu, nhà nông học Nga - Traianốp, đã nhấn mạnh: Khái niệm Hộ,
đặc biệt trong đời sống nông thôn, không phải bao giờ cũng tương đương với khái niệm
sinh học làm chỗ dựa cho nó, mà nội dung còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống
kinh tế và đời sống gia đình" [39, 136-137].
Theo Liên Hợp Quốc thì "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng
ăn chung và có chung một ngân quỹ". Còn theo các nhà khoa học về dự hội thảo quốc tế
lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) thì "Hộ là đơn vị cơ bản của xã
hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác"
[71, 8].
Qua khảo sát "Kinh tế hộ trong quá trình phát triển" ở một số nước châu Á, các nhà

trường.
Trong quá trình công nghiệp hóa tư bản cổ điển, phân tích sự biến động trong
nông nghiệp và nông thôn ở nước Anh, C. Mác đã chỉ rõ: "Khi xem xét nghề nông phải
có bàn tay của người tiểu nông bằng lao động "của mình"... Ngay cả nước Anh siêu
công nghiệp cho tới nay đã khẳng định hình thức lãi nhất không phải là nông trại công
nghiệp hàng hóa mà là nông trại gia đình không dùng lao động làm thuê. Ở những nước
còn giữ hình thức tư hữu, chia đất thành những khoảnh nhỏ thì giá cả lúa mì rẻ hơn ở
những nước có phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa [31, 125-126].
Kế thừa và phát triển những tư tưởng và luận điểm về kinh tế tiểu nông của
C.Mác và Ăngghen, khi nghiên cứu về việc lựa chọn con đường phát triển nông nghiệp
ở Nga, Lênin đã nhấn mạnh: Không thể phát triển nông nghiệp ở nước Nga theo con
đường đại điền trang kiểu Phổ vì đó là kiểu phát triển kém hiệu quả, mà phải là kiểu
một chủ trại tự do - nghĩa là mảnh đất được dọn sạch những tàn tích thời trung cổ - đó là
kiểu Mỹ [28, 182].
Cùng thời với Lênin, khi nghiên cứu sự vận động và phát triển của nông trại ở

18


các nước châu Âu, Kauxki cho rằng: Sự vận động phát triển của nông hộ gắn liền với
quá trình phát triển của nền sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp
sản xuất hàng hóa. Sự vận động đó diễn ra qua ba giai đoạn sau:
- Giai đoạn phá vỡ nền nông nghiệp tự cấp tự túc, hộ nông dân chuyển sang
sản xuất hàng hóa và chịu sự chi phối của tư bản cho vay và tư bản thương nghiệp.

- Giai đoạn phát triển kinh doanh ruộng đất theo kiểu tư bản chủ nghĩa.
- Giai đoạn nông trại tư bản không cạnh tranh được với nông trại nhỏ, hộ nông
dân chuyển sang chăn nuôi hoặc hợp tác chế biến để tăng giá nông sản [65, 12-13].
Những luận điểm của Mác, Lênin, qua thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn, đó là
những quan điểm có tính khoa học, cách mạng cao và những quan điểm có tính khái

tính bền vững, sự thích nghi trong phát triển và nhấn mạnh vị trí, vai trò to lớn của hình
thức kinh tế này đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành nông
nghiệp, kinh tế nông thôn nói riêng.
Tuy nhiên, thực tiễn vận động phát triển của kinh tế hộ gia đình nông dân cho
thấy, sẽ sai lầm nếu coi đó là hình thức kinh tế đã hoàn thiện. Những hạn chế, yếu kém
không nhỏ của nó là những vấn đề không thể bỏ qua, mà ngược lại rất cần được nghiên
cứu, xem xét cụ thể, để từ đó có những giải pháp khắc phục một cách phù hợp và khoa
học.

Những ưu, nhược điểm và xu hướng vận động của kinh tế hộ gia
đình nông dân.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành sớm nhất trong hoạt động kinh tế
của loài người, kinh tế hộ gia đình nông dân, với tư cách là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy cũng được ra đời từ rất sớm, ở mỗi
giai đoạn khác nhau vị trí của ngành nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ gia đình nông
dân nói riêng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia đều có một vai trò, vị trí rất quan
trọng: Cung cấp lương thực thực phẩm, nhu cầu tối cơ bản cho con người, nguyên liệu
cho công nghiệp, sản phẩm cho xuất khẩu, trong những thập kỷ gần đây vai trò của loại
hình kinh tế này trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái và gắn với các loại hình
kinh tế khác đặc biệt là kinh tế hợp tác, kinh tế nhà nước được nhiều quốc gia quan tâm.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, kinh tế hộ
gia đình nông dân đã từng bước có những biến đổi cơ bản về cách thức tổ chức sản xuất
kinh doanh, "hộ tự cấp, tự túc" với kỹ thuật canh tác lạc hậu, đã chuyển dần thành "hộ
hàng hóa" với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, vận động theo cơ chế thị trường, năng
suất lao động, tỷ suất hàng hóa trong nông nghiệp nhờ đó đã có bước tăng trưởng vượt
bậc. Tại các quốc gia phát triển hộ hàng hóa chỉ chiếm 5-7% tổng số hộ, nhưng đã tạo ra
một khối lượng nông sản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước với mức tiêu dùng cao và có
một phần để xuất khẩu.
a. Những ưu điểm vượt trội của "hộ hàng hóa" so với "hộ tự cấp, tự túc"


cụ lao động. Các thành viên trong hộ sử dụng thường xuyên nên hiểu khá rõ đặc điểm
các tài sản. Họ thường sử dụng có hiệu quả, và rất có ý thức chăm sóc bảo quản các tài
sản để có thể sử dụng lâu dài.

Trong kinh tế hộ gia đình, quan hệ giữa quản lý sản xuất và người
trực tiếp sản xuất luôn có sự thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, cho nên

21


các thông tin được xử lý nhanh kịp thời, các quyết định quản lý, sản xuất
thường đúng đắn và có sức thuyết phục.
Về quan hệ phân phối, các thành viên trong hộ cùng làm, cùng ở, cùng ăn, dưới
sự sắp xếp bố trí của chủ hộ. Nhờ đó các mâu thuẫn trong phân phối (nếu có phát sinh)
cũng được giải quyết một cách thuận lợi, khi con cái trưởng thành tách ra lập hộ khác,
bố mẹ có trách nhiệm giải quyết việc phân chia tài sản gia đình cho con cái trên cơ sở
bàn bạc dân chủ.
Chính vì những lợi thế đó đã tạo cho "hộ hàng hóa" những điều kiện thuận lợi
để sử dụng hợp lý các nguồn lực, khai thác và phát huy những lợi thế so sánh của từng
hộ gia đình.
Mặt khác, trong nông nghiệp, lao động của hộ gia đình luôn có quan hệ mật
thiết với điều kiện tự nhiên và quá trình sinh trưởng của cây trồng vật nuôi. Hiệu quả
sản xuất của kinh tế hộ nông dân không những chỉ phụ thuộc vào chất lượng tác động
của con người mà còn phụ thuộc vào đặc tính của ruộng đất, điều kiện địa lý. Từng hộ,
nhóm hộ ở từng vùng, từng quốc gia đều có những ưu thế riêng trong việc sản xuất một
số loại sản phẩm nào đó với chất lượng cao chi phí thấp so với các quốc gia, các vùng
khác, việc chuyển sang sản xuất hàng hóa, vận động theo cơ chế thị trường sẽ tạo điều
kiện cho hộ gia đình khai thác tốt các nguồn lực đó để phát triển.
* Thúc đẩy đổi mới kỹ thuật, công nghệ và quá trình quản lý kinh doanh.


nhân đích thực về đất đai và cây trồng vật nuôi, phải là những người luôn
quan tâm lo lắng sâu sắc đến mùa màng. Có như vậy, mới thường xuyên
điều chỉnh một cách sáng tạo và kịp thời những thao tác kỹ thuật thích ứng
với những diễn biến của thời tiết khí hậu, đất đai, cây trồng... Chính điều
đó góp phần thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp.
V.I. Lênin và nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định ý nghĩa quyết định của việc
nâng cao năng suất lao động xã hội. Do có vị trí vai trò đặc biệt, nên trình độ, năng suất lao
động của kinh tế hộ gia đình nông dân, nhất là năng suất lao động ngành sản xuất lương
thực, thực phẩm, có ý nghĩa quyết định đến việc phân công bố trí lại lao động trong nông
nghiệp và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân. Phát triển "hộ hàng hóa" gắn với việc
khai thác có hiệu quả những lợi thế về điều kiện tự nhiên, xã hội, là yếu tố quan trọng hàng
đầu để nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp. Mặt khác, để tăng khả năng cạnh

23


tranh các "hộ hàng hóa" buộc phải áp dụng có hiệu giữa những thành tựu khoa học công
nghệ, công cụ lao động và công nghệ quản lý mới để nâng cao năng suất lao động. Tác
dụng đó có ý nghĩa rất lớn đối với các quốc gia, các khu vực đi lên từ nông nghiệp, ở các
nơi đó đại bộ phận lao động xã hội là làm nông nghiệp và quá trình phát triển đòi hỏi phải
giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp một cách tuyệt đối, nhưng vẫn phải đảm bảo sự tăng cao
cả về số lượng và chất lượng các hàng hóa nông sản. Biện pháp kinh tế cơ bản để giải
quyết yêu cầu đó là nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp. Phát triển kinh tế hộ
gia đình nông dân hàng hóa là một trong những cách thức quan trọng để nâng cao năng
suất hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Như vậy, nếu như nâng cao năng suất lao động,
thực hiện phân công lao động xã hội là điều kiện để phát triển kinh tế hộ sang sản xuất
hàng hóa, thì đến lượt nó sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường lại thúc đẩy mạnh mẽ việc
nâng cao năng suất lao động và tạo nhu cầu và điều kiện để phân công lao động trong nông
nghiệp và toàn xã hội, trong đó có kinh tế hộ gia đình nông dân.
* Nâng cao thu nhập của người lao động và góp phần thúc đẩy sự phát triển

kinh tế hợp tác mới giữa các hộ gia đình. Tất cả điều đó đã góp phần cải biến
sâu sắc kinh tế - xã hội nông thôn.
b. Những hạn chế, yếu kém của"hộ hàng hóa"
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội, trong quá trình vận động phát triển, "hộ
hàng hóa" cũng đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém:

Hình thức kinh tế tự nhiên đã kiến tạo nên mô hình "hộ tự cấp tự
túc" với nhiều hạn chế, yếu kém. "Hộ hàng hóa" - sản phẩm của kinh tế
hàng hóa, là bước phát triển cao kế tiếp của "hộ tự cung tự cấp", nhưng
không phải đã khắc phục hết được những hạn chế, yếu kém đó. Do tổ chức
sản xuất trong không gian rộng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên
một số hoạt động như thủy lợi, bảo vệ thực vật, giao thông, dịch vụ... cần
có sự phối hợp thống nhất trên toàn địa bàn với sự tham gia của nhiều hộ
gia đình, nếu để từng hộ tự lo liệu thì không làm được hoặc làm không hiệu
quả. Có thể thấy, đây là hạn chế rất đặc trưng. Trong điều kiện cạnh tranh
hiện nay, nhất là ở các quốc gia đang phát triển do năng lực nội tại nhìn
chung còn thấp, lại bị giới hạn bởi không gian hoạt động sản xuất của
mình, nên kinh tế hộ gia đình nông dân không có điều kiện, khả năng tự

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status