Vấn đề rủi ro trong phát triển thị trường tín dụng nông thôn
Mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động kinh doanh là tất yếu.
Vấn đề là làm thế nào để có thể hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro trong quá
trình hoạt động kinh doanh. Sự quan tâm đó trước hết là việc của các nhà kinh
doanh. Nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng trong việc phòng ngừa và hạn chế
rủi ro, đảm bảo độ an toàn cho hoạt động của các doanh nghiệp và sự an toàn của
cả nền kinh tế trong quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tín dụng là một
lĩnh vực hoạt động kinh doanh hàm chứa khá nhiều rủi ro và có ảnh hưởng không
chỉ đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng,
các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến tình
hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trình độ phát triển thị trường tài chính
của Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở nông thôn vùng ĐBSH hiện nay còn nhiều
hạn chế. Hoạt động của thị trường tín dụng hầu như chỉ tập trung vào các ngân
hàng thương mại, các tổ chức tín dụng. Do vậy, nghiên cứu vấn đề rủi ro trong phát
triển thị trường tín dụng nông thôn ĐBSH thực chất là nghiên cứu rủi ro tín dụng
của các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, các quĩ tín dụng nhân dân và
các tổ chức tín dụng khác là nội dung chủ yếu của bài viết sau đây.
Khái niệm rủi ro tín dụng
Có thể nói, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào cũng có rủi ro. Rủi ro là những
biến cố không mong đợi xẩy ra, làm cho chủ thể bị thiệt hại về tài sản, thu nhập và
ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh. Với chức năng trung gian tài chính giữa người đi
vay và người cho vay, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tín
dụng chứa đựng nhiều rủi ro. Có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau. Chẳng hạn,
có thể phân loại thành rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi
suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro chiến lược, rủi ro pháp lý, rủi ro uy
tín, rủi ro công nghệ thông tin 1. Dựa vào cách phân loại của uỷ ban Basel về giám
sát ngân hàng, rủi ro ngân hàng được chia thành ba loại chính: rủi ro hoạt động, rủi
ro thị trường và rủi ro tín dụng.
- Về phía khách hàng lại có thể xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan và
khách quan sau đây:
+ Nguyên nhân chủ quan:
• Chủ doanh nghiệp quản lý yếu kém dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh
không hiệu quả làm cho doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính để trả lãi và nợ
gốc đúng hạn.
• Chủ doanh nghiệp cố tình lừa để chiếm đoạt vốn vay.
+ Nguyên nhân khách quan:
• Biến động lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán, giá cả thị trường các
loại hàng hoá dịch vụ (chẳng hạn làm tăng giá nguyên liệu đầu vào gây tăng chi
phí, trong khi giá đầu ra không tăng, thậm chí bị giảm vì cạnh tranh gay gắt). Cũng
có thể thị trường bị thu hẹp do sức mua bị giảm sút hay do bị nước ngoài áp đặt
những hạn chế thương mại nên hàng hoá sản xuất ra chậm hay không tiêu thụ
được...
• Cơ chế, chính sách của nhà nước có những thay đổi gây bất lợi.
• Rủi ro do thiên tai như bão lũ, dịch bệnh, hoả hoạn...
• Rủi ro đối với các khách hàng là cá nhân bị ốm đau, tai nạn...
- Về phía Nhà nước: Sự thay đổi trong cơ chế, chính sách, qui hoạch của
nhà nước làm cho điều kiện thực hiện các dự án đầu tư và các phương án kinh
doanh bị thay đổi theo chiều hướng không thuận lợi. Chẳng hạn, sự thay đổi trong
chính sách thuế và lãi suất làm cho hiệu quả đầu tư trên thực tế bị xấu đi so với tính
toán ban đầu. Khó khăn trong giải phóng mặt bằng làm kéo dài thời gian hoàn
thành dự án và gây tốn kém thêm về chi phí đầu tư. Sự chậm trễ trong việc xây
dựng kết cấu hạ tầng làm cho các dự án không đủ các điều kiện để có thể hoạt
động...
Tình hình cấp tín dụng cho khu vực nông thôn.
Hệ thống huy động và cung cấp tín dụng chính thức tại Việt Nam hiện nay
Nguồn:- Báo cáo thường niên 1998-2003 và Báo cáo tổng kết 2004 của các NHTMNN
- NHNN và Báo cáo thường niên NHNN 1998-2003.
- Tổng cục Thống kê
Trong việc cung cấp tín dụng cho khu vực nông thôn thì Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội và quĩ tín dụng nhân
dân có vai trò chủ yếu. Trong cơ cấu dư nợ cho vay đến cuối năm 2003 của các
NHTMNN, phần dư nợ cho vay nông, lâm ngư nghiệp với tỷ trọng là 33%, chủ lực
là NHN0&PTNT với tỷ trọng dư nợ là 64,4% (NHĐT&PT 14%; NHCT 10,5%;
NHCT là 9%). Ngân hàng chính sách xã hội cũng đã tham gia cấp vốn với khoảng
1,5 triệu lượt hộ vay/năm cho những người nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn
sản xuất. Hầu hết các khoản tín dụng nhỏ mà ngân hàng chính sách thông qua hệ
thống trung chuyển tín dụng là các tổ chức đoàn thể xã hội ở nông thôn: Hội phụ
nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí minh... Chỉ trong mạng
lưới của Hội LHPHVN đã thành lập được gần 80.000 nhóm với khoảng 1 triệu hội
viên tham gia. Bình quân hàng năm (1998-2003) có khoảng 80.000 phụ nữ được
vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh thông qua mạng lưới tình thương do Hội
LHPN thành lập. Quĩ tín dụng nhân dân cũng trở thành địa chỉ tin cậy với bà con
nông dân khi cần vay vốn sản xuất kinh doanh. Số lượng quĩ cơ sở tăng nhanh
trong những năm 1999-2003 từ 179 đến 971 quĩ. Phần lớn vốn cho vay của các quĩ
cơ sở nhằm phát triển nông nghiệp, chiếm 54%, phát triển ngành nghề chiếm 12%
và dịch vụ chiếm 28%3.
ODA cũng là nguồn tín dụng to lớn cấp cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn mà hoạt động chủ yếu tập trung vào các vùng nghèo, chậm phát triển dưới
dạng các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn, xoá đói giảm nghèo.
Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng trong những năm qua
Năm 2004
Huy động
D nợ
vốn
cho vay
1- Hà Nội
37,212
15,370
2- Hải Phòng
2,471
3,116
3- Vĩnh phúc
840
1,084
4- Hà Tây
943
1,280
5- Bắc Ninh
526
771
6- Ninh Bình
366
822
7- Thái Bình
767
731
8- Hng Yên
332
378
vốn
cho vay
41,358
16,428
2,814
3,357
1,061
1,121
1,088
1,183
692
863
416
1,010
975
799
451
453
1,302
867
1,154
758
436
286
51,747
27,125
Nợ xấu
732
67
kỳ đầu Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, môi trường kinh doanh chưa
minh bạch, thiếu công khai; hiện tượng kinh doanh chụp giật, cạnh tranh không
lành mạnh còn khá phổ biến; nạn buôn lậu, gian lận thương mại còn nhiều và chưa
có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu; thủ tục hành chính còn rườm rà chậm được đổi
mới, tham nhũng sách nhiễu còn nhiều...làm tăng rủi ro trong hoạt động kinh tế,
gây ra rủi ro tín dụng. Môi trường pháp lý chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ và hay thay
đổi. Bên cạnh đó là việc chấp hành luật pháp chưa triệt để, hiệu lực của luật pháp
trên thực tế chưa cao.
Trong quản lý nhà nước vẫn còn tình trạng một số cơ quan quản lý nhà nước,
cơ quan cấp uỷ, chính quyền đại phương can thiệp hành chính vào các hoạt động
tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước. Tính tự chủ tự chịu trách nhiệm
trong hoạt động tín dụng chưa hoàn toàn được chủ động, kinh doanh theo nguyên
tắc thương mại và thị trường chưa có điều kiện thực hiện triệt để. Hiệu quả của
công tác thanh tra ngân hàng đối với hoạt động tín dụng chưa cao. Thanh tra tại chỗ
vẫn là phương pháp chủ yếu trong khi hệ thống thông tin tín dụng để đảm bảo giám
sát có hiệu quả lại chưa được thiết lập một cách đồng bộ...làm hạn chế khả năng
kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng. Thanh tra còn thụ động theo kiểu xử lý vụ
việc phát sinh mà chưa đáp ứng được yêu cầu cảnh báo sớm các biểu hiện mất an
toàn trong hoạt động tín dụng.
Chính sách xử lý nợ tồn đọng chưa thực sự tạo điều kiện để các ngân hàng
thương mại xử lý dứt điểm các khoản nợ này. các qui định về quản lý đất đai có
liên quan như thế chấp, phát mại quyền sử dụng đất còn quá nhiều thủ tục phức tạp,
trong khi việc quản lý đất đai trên thực tế lại lỏng lẻo, tình trạng thiếu giấy tờ pháp
lý hoặc thiếu căn cứ chứng minh tính chất pháp lý của quyền sử dụng ruộng đất vẫn
còn là hiện tượng phổ biến.
Những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính -tiền tệ thế giới và khu
vực làm cho hệ thống ngân hàng trong nước cũng như nền kinh tế Việt nam bị chao
đảo và gặp nhiều khó khăn; hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, mất mùa...làm cho
hiệu quả. Chưa phát huy được vai trò cảnh báo sớm các dấu hiệu rủi ro trong hoạt
động tín dụng để có biện pháp phòng ngừa thích hợp.
Nhóm nguyên nhân thuộc về sự yếu kém của các doanh nghiệp và rủi ro đạo
đức từ phía người đi vay. Các doanh nghiệp là đối tượng khách hàng chủ yếu của
ngân hàng. Song các doanh nghiệp của Việt Nam cũng bộc lộ nhiều yếu kém: qui
mô doanh nghiệp nhỏ và công nghệ lạc hậu, cơ cấu doanh nghiệp chưa hợp lý, định
hướng kinh doanh không rõ ràng, thiếu qui hoạch và hay biến động, các DNNN
chậm được củng cố, sắp xếp lại và cổ phần hoá; tình hình tài chính của nhiều doanh
nghiệp yếu kém, tỷ suất lợi nhuận thấp, hệ số tự chủ tài chính quá thấp, nợ nần dây
dưa, một số không ít kinh doanh thua lỗ. Rủi ro đạo đức từ phiá người đi vay cũng
là một nguy cơ làm tăng rủi ro tín dụng. Đó là trường hợp người đi vay sử dụng
vốn không đúng mục đích, cố tình lừa đảo ngân hàng để vay vốn hoặc cố tình trây ì
trả nợ. Rủi ro này là một nguy cơ thường xuyên của các ngân hàng thương mại vì
cơ chế thông tin không đầy đủ và môi trường pháp lý chưa hoàn thiện.
Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
Đối với Chính phủ:
- Chính phủ cần sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản qui phạm pháp luật
liên quan đến hoạt động của tín dụng ngân hàng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng.
- Việc xây dựng xếp hàng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng thương mại còn
gặp nhiều khó khăn vì việc tiếp cận thông tin giúp cho việc đánh giá, xếp hạng tín
dụng khách hàng (như tình hình kinh doanh, tài chính, tài sản, uy tín đối vcới ngân
hàng thương mại đã giao dịch trước đây) hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay, tại
Việt nam mới chỉ có một công ty xếp hạng tín dụng của Vietnamnet được thành
lập, tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của công ty xếp hạng tín nhiệm
trong nước chưa hoàn thiện. Do đó, các ngân hàng thương mại chưua thể tham
khảo kết quả xếp hạng doanh nghiệp do công ty trong nước thực hiện khi phân tích,
đánh giá, xếp hạng tín nhiệm. Vì vậy, Chính phủ cần giao cho Bộ Tài chính sớm
chứuc tư vấn độc lập có tư cách pháp nhân, có năng lực và uy tín để thẩm định, xác
nhận trước khi chấp thuận cho vay.
- Cần kiểm tra, theo dõi việc sử dụng tiền vay của khách hàng xem có đảm
bảo đúng mục đích hay không. Tổ chức theo dõi chặt chẽ tiến độ hoàn thành từng
hạng mục dự án đầu tư.
- Áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay thích hợp tuỳ theo mức độ tin cậy đối
với từng khách hàng như tài sản thế chấp, cầm cố đảm bảo tiền vay, bảo đảm tài
sản tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, tín chấp...nhưng thẩm định dự án
đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh vẫn là biện pháp quan trọng nhất để cho vốn
vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và hoàn trả được tiền vay.
- Hình thành bộ phận độc lập chuyên trách nghiên cứu xây dựng chiến lược
khách hàng, chiến lược đầu tư tín dụng, quản lý rủi ro để đề xuất với lãnh đạo
những chiến lược và quyết sách đúng đắn.
- Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, đo
lường, phân tích rủi ro tín dụng cho cán bộ. Ngoài trình độ năng lực chuyên môn
việc tuyển chọn và sử dụng cán bộ tín dụng cần phải hết sức coi trọng tiêu chuẩn
đạo đức để hạn chế những rủi ro đạo đức có thể xẩy ra.
- Chú trọng hơn nữa đến đầu tư công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho
việcđánh giá, đo lường, phân tích rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng.
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng trong toàn bộ hệ thống.