XU HƯỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG - Pdf 39

1

LỜI CẢM ƠN!

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sau Đại học,
khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo
điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành cuốn luận văn này.
TRẦN ĐÌNH CHIẾN

Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, thầy
giáo đã giảng dạy và trực tiếp hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.

XU HƢỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
(KHẢO SÁT TẠI TỈNH PHÚ THỌ)
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các
em học sinh lớp 12 (khoá 2005 - 2008) các trường THPT Hạ Hoà, THPT Hùng
Vương, THPT Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả
điều tra, khảo sát, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế, tác giả rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy,
cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008

1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường.......................................
1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nước ta ..........
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của HS THPT ......................................................................................
1.4. 1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT .....
1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của
HS THPT ..............................................................................................
1.4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc lựa chọn nghề
nghiệp của HS THPT.............................................................................
Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp
12 trƣờng THPT dƣới ảnh hƣởng của nền KTTT ..............................
2.1. Vài nét về khách thể điều tra..........................................................
2.2. Thực trạng xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
trường THPT dưới ảnh hưởng của nền KTTT (khảo sát tại tỉnh
PhúThọ)...............................................................................................
2.2.1. Thực trạng về nhận thức và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12..............................................................................
2.2.2. ý kiến của giáo viên làm công tác hướng nghiệp về xu hướng lựa
chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 hiện nay ..............................................
2.2.3. ý kiến của cha mẹ đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp
12 hiện nay ...........................................................................................
2.3. Kết luận chương 2 .........................................................................
Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trang
6
11
11

1.3.5. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp theo quan điểm tiếp cận hoạt
động và nhân cách ................................................................................
3.1.6. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi .....
3.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS
lớp 12 trường THPT trong điều kiện KTTT hiện nay............................
3.2.1. Xây dựng bài học có nội dung giới thiệu về những lĩnh vực nghề
nghiệp cụ thể ........................................................................................
3.2.2. Tổ chức buổi toạ đàm ở lớp với chủ đề về nghề nghiệp và lựa
chọn nghề nghiệp ..................................................................................
3.2.3. Tổ chức cho HS tham quan tại các cơ sở sản xuất ........................
3.2.4. Tổ chức hội nghị để trao đổi với cha mẹ học sinh về nghề nghiệp
tương lai của con em họ. .......................................................................
3.2.5. Lập hồ sơ hướng nghiệp chi tiết cho mỗi HS .................................
3.3. Khảo nghiệm các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia .........
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm .................................................................
3.3.2. Đối tượng khảo nghiệm................................................................
3.3.3. Quá trình tiến hành khảo nghiệm.................................................
3.3.4. Kết quả khảo nghiệm ..................................................................
3.4. Kết luận chương 3 .........................................................................
Kết luận và khuyến nghị .....................................................................
1. Kết luận ............................................................................................
2. Khuyến nghị ......................................................................................
Danh mục công trình khoa học đã công bố.............................................
Tài liệu tham khảo.................................................................................
Phụ lục .................................................................................................

91
91
91
92

http://www.lrc-tnu.edu.vn


4

5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CNH - HĐH

Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ĐH,CĐ,THCN
Giáo dục hƣớng nghiệp

GDHN

Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Giáo dục và đào tạo


Trung học phổ thông

THPT

Xã hội

XH

Sản xuất

SX

Bảng 2.1 : Nhận thức của HS lớp 12 về mục đích của hoạt động giáo
dục hƣớng nghiệp trong trƣờng THPT
Bảng 2.2: Nhận thức của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của việc định
hƣớng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12 trong trƣờng THPT
Bảng 2.3: Thái độ và hành vi của HS lớp 12 khi tham gia các giờ học
(giờ sinh hoạt) hƣớng nghiệp
Bảng 2.4: Dự định lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 sau khi tốt
nghiệp THPT
Bảng 2.5: Những vấn đề HS lớp 12 có nhu cầu hoặc hứng thú
Bảng 2.6 : Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề (nhóm nghề) của
HS lớp 12
Bảng 2.7 : Lí do lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
Bảng 2.8 : Yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12
Bảng 2.9 : Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
Bảng 2.10: Thái độ của HS lớp 12 đối với việc lựa chọn nghề nghiệp sau
khi tốt nghiệp THPT
Bảng 2.11: Những khó khăn HS lớp 12 gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp

52
53
56
58
61
63
65
68
72
75
77
78
79
80
82
83
103
104
104
105


6

7
chính là điều kiện giúp cho cá nhân mỗi học sinh có thể phát huy đƣợc tối đa phẩm

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài


hàng đầu. Trong nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng

Điều này đã khiến cả giáo viên và học sinh đều coi GDHN không thực sự là một

khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển

hoạt động chính yếu của quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trƣờng, có nghĩa

mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự

là chƣa nhận thức đƣợc vai trò của GDHN dẫn đến hiệu quả của GDHN thấp. Bên

phát triển nhanh và bền vững”. [59]. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con ngƣời là

cạnh đó, nhƣ trên đã nói, nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta cùng với các quy luật của

trọng tâm của sự phát triển - yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH -

nó đang phát triển rất mạnh và đang trên đà hoàn thiện, dẫn đến sự phát triển biến

HĐH đất nƣớc. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đƣợc những phẩm chất và

đổi quá nhanh và “nóng” của khoa học công nghệ và nhiều lĩnh vực khác của đời

năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu của các hoạt động kinh tế -

sống xã hội. Cùng với sự ảnh hƣởng từ mặt trái của kinh tế thị trƣờng (KTTT) đã

xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang


hƣớng nghiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh phổ thông (đặc biệt là các lớp cuối

gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội nhƣ: chất lƣợng học tập kém, rèn luyện

cấp) có đƣợc sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng

kém dẫn đến chất lƣợng nguồn nhân lực yếu, làm lãng phí của cải thời gian, công

thú và năng lực nghề từ đó lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể trên cơ sở cân

sức cho cả cá nhân học sinh, gia đình học sinh và cho xã hội.

nhắc kỹ lƣỡng phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng, năng lực sở trƣờng, sức
khoẻ của bản thân. sự lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức, có cơ sở khoa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


8

9

Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xu hƣớng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 trƣờng Trung học phổ thông dƣới ảnh hƣởng của
nền kinh tế thị trƣờng” (Khảo sát tại tỉnh Phú Thọ).


3.1. Khách thể nghiên cứu:

xuất các biện pháp của đề tài.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 12 trƣờng THPT.

6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra:

3.2. Đối tượng nghiên cứu:

Dùng phiếu điều tra (Ankét) khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của

Xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 trƣờng THPT dƣới sự ảnh

học sinh lớp 12, giáo viên (GV) phụ trách công tác hƣớng nghiệp và cha mẹ học

hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng.

sinh về xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 hiện nay, thực trạng về

4. Giả thuyết khoa học

xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền

Xu hƣớng lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 hiện nay chịu ảnh hƣởng rất lớn

KTTT.


các biện pháp và khảo nghiệm các biện pháp của đề tài.

lớp 12 dưới sự ảnh hưởng của nền KTTT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


10

11

6.3. Các phương pháp thống kê toán học:

Chƣơng 1

Sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài

1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu


giới thì khoa học hƣớng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.

- Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣói
sự ảnh hƣởng của nền KTTT.

Cuốn sách “Hƣớng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1948 ở Pháp đƣợc xem là
cuốn sách đầu tiên nói về hƣớng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát

- Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho HS
lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay.

triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó
đã rút ra những kết luận coi giáo dục hƣớng nghiệp là một vấn đề quan trọng không
thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Năm 1980 James McKeen Cattell - một trong những ngƣời tiên phong của
khoa học hƣớng nghiệp, giáo sƣ tâm lý học của Đại học Pensylvania (Mĩ) đã mở
màn bằng việc xây dựng các test đầu tiên để đo lƣờng và đánh giá các thành công
học đƣờng của sinh viên. Năm 1909 Frank Parsons cũng là giáo sƣ Đại học
Pensylvania đã xuất bản cuốn “Lựa chọn một nghề nghiệp” (Choosing Vocation),
về sau vào những năm 1930, thế giới phƣơng Tây đã tôn vinh cuốn sách này nhƣ là
một công trình nền tảng của ngành tƣ vấn hƣớng nghiệp. Cuốn sách đã trình bày cơ
sở tâm lý học của hƣớng nghiệp và chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của
mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Vào những năm 1940, nhà tâm lý
học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách
và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề
nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có đƣợc kết quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại. N.K Crupxkaia - nhà giáo dục

non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lƣợng, không

học lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên.

mang tính chuyên nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả.

Theo bà, thông qua hƣớng nghiệp, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc hƣớng phát

Vấn đề hƣớng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và đƣợc xã hội quan tâm khi nền kinh tế

triển kinh tế của đất nƣớc, những nhu cầu của nền sản xuất cần đƣợc yêu cầu mà xã

đất nƣớc bƣớc sang cơ chế thị trƣờng với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu

hội đề ra trƣớc các em trong lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hƣớng

rất lớn về chất lƣợng nguồn nhân lực. Nếu so với sự ra đời của nền giáo dục XHCN

nghiệp lại phải giúp cho trẻ em phát triển đƣợc hứng thú và năng lực nghề nghiệp,

sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thì những tƣ tƣởng về hƣớng nghiệp cho học

giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ

sinh cũng xuất hiện khá sớm. Cho đến trƣớc những năm 1970 thì những tƣ tƣởng

đó các em có thái độ tự giác trong việc chọn nghề.


thành vô lý. Vì ở bất kỳ nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học,

Trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới nền sản xuất công nghiệp và hậu

trường đại học lại càng ít hơn trường trung học. Thế thì những học trò tiểu học và

công nghiệp đã phát triển cao, trong xã hội xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới,

trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở

sự phân hoá lao động đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm

thành một vấn đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay. Bác đã gạch

đến công tác hƣớng nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp, mở các

chân câu trả lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con

trung tâm tƣ vấn hƣớng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên gia tƣ vấn hƣớng

đƣờng lao động là con đƣờng đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vƣơn lên

nghiệp trong và ngoài trƣờng Đại học. Ví dụ nhƣ các trung tâm INETOP ( Viện

chứ không nhất thiết là phải vào trƣờng đại học. Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”

nghiên cứu quốc gia về lao động và hƣớng nghiệp ) và CNAM (Học viện quốc gia

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến một yếu tố kỹ thuật sản xuất công
nghiệp và nông nghiệp” và “những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội.[66]

lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trƣờng”. Trong văn kiện Đại hội Đảng

đất nƣớc đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, trong quá trình

lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung

CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hƣớng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng

học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với

tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Xu hƣớng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [12]. Luật giáo

hƣớng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp. [25]

dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho HS củng cố và phát

GS. Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những ngƣời rất tâm đắc và nghiên

triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao

cứu chuyên sâu về giáo dục hƣớng nghiệp. Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả

đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động ”[57]. Chiến

đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hƣớng nghiệp cho HS Việt

lƣợc phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình


những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm Tất

mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hƣớng nghiệp và phân

Dong, PGS. Đặng Danh ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ.

luồng HS phổ thông. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hƣớng nghiệp ở nhiều

GS. Phạm Tất Dong là ngƣời có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hƣớng

cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên

nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho

cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam. Có thể kể đến nhƣ tác giả Trần Quốc

giáo dục hƣớng nghiệp nhƣ xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hƣớng nghiệp;

Thành có bài: “Định hướng giá trị nghề nghiệp của HS lớp 12 THPT một số tỉnh

hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc

miền núi phía Bắc”, đăng trên tạp chí tâm lí học (2002). Bài: “Những nguyên nhân

hƣớng nghiệp, các nội dung, phƣơng pháp, biện pháp giáo dục hƣớng nghiệp...

ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở HS THPT”, của tác

Điều này đƣợc thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông



có những nghiên cứu mang tính thực tiễn tập trung vào các vấn đề nóng bỏng của

hƣớng nói lên chiều hƣớng phát triển của nhân cách con ngƣời, bởi vì hoạt động

công tác hƣớng nghiệp hiện nay đó là xu hƣớng, động cơ lựa chọn nghề của lớp

của cá nhân trong xã hội bao giờ cũng hƣớng về một mục tiêu nào đó. Không thể

trẻ, những định hƣớng giá trị của thanh niên, những nguyên nhân dẫn đến xu

có hoạt động không có phƣơng hƣớng (Tức là không có mục tiêu, không có đối

hƣớng, động cơ chọn nghề và định hƣớng giá trị đồng thời nghiên cứu mối quan hệ

tƣợng). Sự hƣớng tới này đƣợc phản ánh trong tâm lý mỗi ngƣời nhƣ là xu hƣớng

giữa giáo dục hƣớng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nƣớc

của nhân cách. Cá nhân có thể hƣớng hoạt động của mình vào một sự vật cụ thể,

trong thời kì CNH - HĐH. Từ đó có những biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm

một tri thức khoa học hoặc một tƣ tƣởng chính trị đồng thời thúc đẩy hoạt động

nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.

nhằm từng bƣớc chiếm lĩnh chúng. Chính vì vậy nhà tâm lý học Liên Xô

Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng


chọn nghề của HS là một thành tố quan trọng, nó có mối quan hệ tác động với

tại và phát triển. Nhu cầu của con ngƣời cũng rất đa dạng: Nhu cầu vật chất gắn

nhiều thành tố khác mà đặc biệt là với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó,

liền với sự tồn tại của cơ thể nhƣ nhu cầu ăn, ở, mặc. Còn nhu cầu tinh thần gắn

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu

liền với sự phát triển của cá nhân nhƣ nhu cầu nhận thức, lao động, giao tiếp, thẩm

quả công tác hƣớng nghiệp cho HS lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT và

mỹ...

sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc hiện nay.

* Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tƣợng nào đó, vừa có ý

1.2. Các khái niệm công cụ

nghĩa đối với cuộc sống vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình ho ạt

1.2.1. Xu hướng

động. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng tính tự giác và tích cực

1.2.1.1. Khái niệm xu hướng: Xu hƣớng là một khái niệm tâm lý học khá phức


Xu hƣớng có ảnh hƣớng tới sự phát triển của năng lực. Vì sự lôi kéo, hấp dẫn đối

đƣợc.

với con ngƣời càng cao, thì con ngƣời càng thƣờng xuyên hƣớng sức lực của mình

* Thế giới quan: Là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bản thân, xác
định phƣơng châm hành động của con ngƣời. Nói một cách cụ thể thì thế giới quan
của cá nhân là cách nhìn nhận, xem xét, hiểu biết, đánh giá về thế giới của cá nhân.

vào hoạt động.
Lịch sử phát triển của khoa học cho phép nói rằng, sự say mê, hứng thú đối
với công việc là điều kiện bất di bất dịch của sự thể hiện các năng lực, là điều kiện

* Niềm tin: Là một sản phẩm của thế giới quan, là kết tinh các quan điểm, tri

hình thành tài năng. Nhu cầu (một mặt biểu hiện của xu hƣớng) đối với một hoạt

thức, rung cảm, ý chí đƣợc con ngƣời thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong

động nào đó đƣợc con ngƣời ý thức góp phần hình thành năng lực. Khi xem xét

mỗi cá nhân. Niềm tin tạo cho con ngƣời nghị lực, ý chí để hành động theo quan

mối quan hệ giữa xu hƣớng và năng lực phải có quan điểm biện chứng. Xu hƣớng

điểm của mình, là lẽ sống của con ngƣời. [53]

của hoạt động dẫn đến việc hình thành năng lực và có năng lực rồi thì dễ đạt kết


trong công tác phát hiện và bồi dƣỡng những học sinh có năng lực làm cơ sở cho

thành một chỉnh thể trọn vẹn. Một khái niệm thống nhất không thể chia cắt đƣợc.

công tác tƣ vấn và định hƣớng nghề nghiệp cho các em. [23]

Nói tóm lại, xu hƣớng (với ý nghĩa là động cơ của hoạt động) giữ vị trí trung

1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp

tâm trong cấu trúc của nhân cách. Nó quyết định sự hình thành và phát triển toàn

1.2.2.1. Nghề nghiệp và việc làm:

bộ cấu trúc nhân cách nhƣ một chỉnh thể trọn vẹn, cũng nhƣ quyết định sự hình

Nghề hay nghiệp, đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Nhƣ ý chủ biên, Nxb Văn

thành và phát triển mỗi yếu tố tổng hợp thành nhân cách ấy. Nói đến xu hƣớng là

hoá thông tin - 1998) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công

nói đến bộ phận hợp thành quan trọng nhất trong cấu trúc nhân cách. Vì thế nhà

của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”.[58]. Từ điển Tiếng Việt (Văn

giáo dục nổi tiếng A.X Makarenkô đã rất có lý khi ông cho rằng “Toàn bộ công

Tân chủ biên, Nxb Khoa học xã hội - 1991) thì định nghĩa: “Nghề là công việc


Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất

để sinh sống”. Còn từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên - Nxb Khoa học xã

và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân

hội - 1994) lại định nghĩa “Việc làm: công việc đƣợc giao cho làm và trả

công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho mỗi con ngƣời khả năng sử dụng phƣơng

công”.[35]. Trong luật lao động qui định tại điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo

tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. [28]

ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. Nhƣ

Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ: “Nghề nghiệp nhƣ là một dạng lao động

vậy hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm là rất gần nhau, có mối quan hệ chặt

vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội ), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản

chẽ với nhau nhƣng không đồng nhất. Nghề nghiệp đƣợc coi là việc làm nhƣng

thân) trong đó con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn

không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp. Những việc làm nhất thời, không ổn

những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”. [21]

quy trình đào tạo rõ rệt.

Nhà tâm lý học K. K. Platônôp cho rằng: “Hướng nghiệp, đó là hệ thống các
biện pháp tâm lý - giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống

Nghề đƣợc đào tạo có đặc trƣng là ngƣời làm nghề phải đƣợc cung cấp trình

thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện,

độ tri thức kĩ năng, kĩ xảo hành nghề, làm ra sản phẩm để trao đổi trên thị trƣờng,

vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên

thu nhập của ngƣời lao động chính là nguồn sống của họ. Chính vì vậy mà họ trở

sự thống nhất giữa quyền lợi của XH với quyền lợi của cá nhân”. Còn viện sĩ X. Ia.

thành đối tƣợng hoạt động cơ bản, lâu dài của lý tƣởng nghề nghiệp, từ đó hình

Batƣsep xác định: “Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở

thành nhân cách nghề nghiệp. Nghề đƣợc đào tạo đòi hỏi ngƣờ i vào học nghề đó

thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá

phải có trình độ học vấn, sức khỏe và yêu cầu tâm lý phù hợp với nghề. Sau quá

nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác” . [9], [21]

trình đào tạo, ngƣời đó phải đạt đƣợc tiêu chuẩn quốc gia về kiến thức, kỹ năng, kỹ

ứng đƣợc nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.

điều kiện vật chất để thực hiện hoài bão... Tất cả những nhu cầu này sẽ tạo nên

* Trên bình diện trường phổ thông: Hƣớng nghiệp đƣợc coi là công việc của tập thể

động cơ, đó là những yếu tố nội tại đƣa cá nhân tới những hành vi nhằm thỏa mãn

giáo viên, tập thể sƣ phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp

nhu cầu. Tuy nhiên cũng cần phải phân biệt giữa nhu cầu và ƣớc muốn nghề

các em tự quyết định nghề nghiệp tƣơng lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực,

nghiệp, ƣớc muốn là sự lựa chọn tổng quát để thoả mãn một nhu cầu nghề nghiệp

hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. [9]

cụ thể.

Hội nghị lần thứ IX những ngƣời đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các

Nhu cầu là một khái niệm vƣợt ra ngoài giá trị vật chất của nghề nghiệp, là

nƣớc xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana - Cu ba (Tháng 10/1980) đã thống nhất về

một yếu tố quan trọng mà những ngƣời làm công tác hƣớng nghiệp cần phải hiểu

khái niệm hƣớng nghiệp nhƣ sau: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa


trung tâm (nhà trƣờng) vào thế hệ trẻ, giúp các em làm quen và hiểu biết về một số

lựa chọn và hoạt động nghề nghiệp sau này của học sinh, nó giúp cho cá nhân học

ngành nghề phổ biến trong xã hội để khi tốt nghiệp ra trƣờng, các em có thể lựa

sinh sử dụng có hiệu quả những tƣ chất, năng lực, kinh nghiệm của mình để trƣớc

chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tƣơng lai.

hết là chọn đƣợc một nghề theo ý nguyện và sau đó là để thực hiện tốt những yêu

1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp

cầu đặt ra cho hoạt động nghề nghiệp. Những động cơ bên trong có thể bao gồm:

1.2.3.1. Xu hướng nghề nghiệp:

trình độ kiến thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, hứng thú, nguyện vọng, năng

Có thể nói cho đến nay vẫn chƣa có tác giả nào đƣa ra một khái niệm cụ thể về

lực sở trƣờng của bản thân đối với nghề đó; tiềm năng nhận biết và hiểu đƣợc ý

xu hƣớng nghề nghiệp. Khi nghiên cứu vấn đề này các nhà khoa học thƣờng tiếp cận
trực tiếp các yếu tố cấu thành của xu hƣớng nhƣ: Nhu cầu nghề nghiệp, động cơ
nghề nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, lý tƣởng nghề nghiệp, nguyện vọng nghề
nghiệp...

nghĩa xã hội, giá trị xã hội của nghề . [8], [21]


những nhu cầu về hứng thú mới cho phù hợp với lý tƣởng ấy. Lý tƣởng nghề

đạm và nghèo nàn”. Một khi con ngƣời ý thức về giá trị nghề nghiệp đối với mình,

nghiệp đƣợc hiện thực hoá dần từng bƣớc trong công việc cụ thể. Yêu tha thiết

có đƣợc những cảm xúc và sự say mê tích cực trong lao động, học tập nhằm hoàn

nghề nghiệp của mình đã chọn, không ngừng tìm tòi sáng tạo nhằm làm cho trình

thiện mình để đạt tới nghề nghiệp, khi đó ở con ngƣời đã có đƣợc hứng thú nghề

độ nghề nghiệp của mình ngày càng đạt tới những đỉnh cao mới là con đƣờng duy

nghiệp. N.C Crupxkaia cũng cho rằng: “Chỉ đối với việc mà họ đang làm, bị cuốn

nhất đúng để mỗi học sinh thực hiện lý tƣởng nghề nghiệp của mình. [16],[17]

hút vào công việc - chỉ khi đó con người mới nâng cao tối đa xu hướng hoạt động
của mình không kể đến mệt mỏi”. [21]

Lý tƣởng nghề nghiệp giúp con ngƣời có khát vọng vƣơn lên đỉnh cao của
nghề nghiệp, ƣớc mơ nóng bỏng về tƣơng lai. Thiếu lý tƣởng nghề nghiệp, ngƣời

Lựa chọn nghề nghiệp là một công việc rất hệ trọng của tuổi học trò trong quá

lao động không thể vƣợt qua giới hạn của cảnh làm việc tẻ nhạt, không dám nghĩ,

trình học tập và rèn luyện trong nhà trƣờng, các em dần tự phát hiện ra chính mình


THPT. Việc các em có đƣợc hứng thú tích cực đối với nghề nghiệp thì sẽ giúp cho

thực hoá lý tưởng nghề nghiệp đã được hình thành.

việc tạo lập ở bản thân các em động cơ mạnh mẽ trong lựa chọn nghề nghiệp.
* Lý tưởng nghề nghiệp:

1.2.3.2. Năng lực nghề nghiệp:
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học thì năng lực của một cá nhân là tổ hợp

Theo GS. TS Phạm Tất Dong thì lí tƣởng nghề nghiệp là mẫu ngƣời lao động
trong nghề mà ta đã chọn và trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, ta luôn hoàn
thiện nhân cách bản thân theo mẫu ngƣời đó. [8]

các thuộc tính độc đáo của cá nhân đó phù hợp với những yêu cầu của một hoạt
động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. [53]
Vận dụng quan điểm trên để xem xét năng lực nghề nghiệp có thể thấy năng lực

Lý tƣởng nghề nghiệp thƣờng đƣợc thể hiện ở sự định hƣớng vào những lao

nghề nghiệp là một tập hợp các thuộc tính nhân cách tƣơng đối bền vững, đƣợc hình

động kiểu mẫu, vào những ngƣời sáng tạo luôn luôn đại diện cho sự đổi mới, luôn

thành và phát triển trong quá trình hoạt động có liên quan tới nghề nghiệp. Theo K.

đứng ở đỉnh cao kĩ thuật và công nghệ.

K. Platônôp: “Năng lực đối với một ngành nghề nhất định nào đó được xác định bởi

Năng lực nghề nghiệp vốn không có sẵn trong con ngƣời, không phải là

Có thể nói, mỗi cá nhân đều tiềm ẩn những năng lực, những sở trƣờng đặc

những phẩm chất bẩm sinh. Nó hình thành và phát triển qua hoạt động học tập và

biệt để tạo sự phù hợp nghề. Nếu biết lợi dụng triệt để những cơ sở ấy đặc biệt là

hoạt động lao động. Trong quá trình làm việc, năng lực tiếp tục phát triển hoàn

những sở trƣờng sẵn có, kiên trì luyện tập kết hợp với sự học hỏi ở những ngƣờ i có

thiện. ở những ngƣời thất bại trong nghề nghiệp thì chính họ đã không đánh giá

kinh nghiệm thì sự phù hợp nghề sẽ nhanh đến với bản thân. Tuy nhiên hoạt động

đƣợc mình nên đã dẫn đến những sự lựa chọn sai lầm về đủ mọi phƣơng diện.

nghề có những đặc điểm riêng của nó, thậm chí những yêu cầu do nó đặt ra ở một

1.2.4. Sự phù hợp nghề:

số ngƣời này thì rèn luyện có thể tạo ra sự phù hợp nhƣng ở một số ngƣời khác thì

Một ngƣời đƣợc coi là phù hợp với một nghề nào đó khi ở họ có đƣợc những

cho dù chăm chỉ mấy cũng không thể đáp ứng. Chính đặc điểm này đã ảnh hƣởng

phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, năng lực chung và năng lực riêng, tri thức, kĩ
năng và tình trạng sức khoẻ đáp ứng đƣợc đòi hỏi do nghề nghiệp đặt ra.

để tạo sự phù hợp nghề là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động nghề đạt tới hiệu quả.

phế phẩm quá con số cho phép, không để công cụ lao động bị hƣ hỏng...

Song, để làm cho sự phù hợp nghề có sự bền vững về chất lƣợng là cả một quá

* Không bị công việc của nghề nghiệp gây nên những độc hại cho cơ thể của
bản thân.

trình khổ công học hỏi, hoàn thiện những gì đã có thể làm cho những yêu cầu do
nghề nghiệp đặt ra trở thành những đòi hỏi của chính bản thân mình.

Mức độ hiệu quả hoạt động nghề nghiệp chịu sự chi phối của mức độ sự phù

1.2.5. Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó:

hợp nghề. Thông thƣờng, ngƣời ta chia làm 3 phần mức độ phù hợp đối với một

Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là một quá trình lâu dài và phức tạp,

nghề đó là: Phù hợp hoàn toàn, phù hợp có mức độ và không phù hợp. Trên thực

nó đƣợc biểu hiện ở các mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu của trƣờng

tế, ít có ai sinh ra mà phù hợp với nghề này hay nghề khác mà thƣờng chỉ có những

THCS, đƣợc tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần ở những lớp sau nhất là ở cuối

cơ sở ban đầu có khả năng phù hợp hay không phù hợp với nghề nghiệp. Bởi vậy



ở những mức độ khác nhau. Việc xác định mục đích cho sự lựa chọn nghề của học

những mối quan hệ xã hội phức tạp (giữa học sinh với gia đình; học sinh với tập

sinh là rất đa dạng và phức tạp. Muốn xác định đƣợc nghề sẽ chọn phù hợp với

thể lớp, trƣờng, đoàn đội; học sinh với cộng đồng...). Những mối quan hệ này tác

mình, ngoài việc hiểu biết về nghề đó, học sinh phải tự hiểu mình. Chỉ có trên cơ sở

động tới nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú, sở thích nghề nghiệp của học sinh.

này, bản thân học sinh mới đáp ứng với những yêu cầu của nghề nghiệp.

Tuy nhiên để đi tới một quyết định lựa chọn nghề thì hầu hết đó là quyết định do

* Tính cấu trúc của quá trình lựa chọn nghề:

chính chủ thể đƣa ra và khẳng định. Tỷ lệ ảnh hƣởng của những tác động khách

Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn nghề đƣợc coi là một

quan tới sự lựa chọn trên mỗi cá nhân là nhiều ít khác nhau, song quyết định cuối

bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống của con ngƣời. Khi xác định cho

cùng của quá trình lựa chọn nghề bao giờ cũng thuộc về một con ngƣời cụ thể.

mình một hƣớng đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội chính là lúc con


dạng lựa chọn (các mối quan hệ) trong đặc trƣng của cuộc sống con ngƣời thì sẽ

hiện trong qua mối quan hệ giữa nguyện vọng cá nhân (tôi muốn) với đòi hỏi về số

dẫn tới sự hạn chế kết quả thực tế của các biện pháp hƣớng nghiệp, giới hạn khả

lƣợng và chất lƣợng mà nhu cầu nguồn nhân lực hoạt động trong các lĩnh vực nghề

năng điều khiển quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực cho đất nƣớc. [21]

nghiệp đòi hỏi (tôi cần phải). Khi đó chủ thể của sự lựa chọn trở thành đối tƣợng

1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường:

của sự lựa chọn. Phần chính yếu phụ thuộc vào những gì có đƣợc nhờ vào hoạt

Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ ý (chủ biên), kinh tế thị trƣờng

động của chủ thể lựa chọn (tôi có thể).

là: “Giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá đƣợc quyết định bởi thị trƣờng,

* Tính mục đích của quá trình lựa chọn nghề:

là sự hoạt động và mở rộng khách quan của quan hệ hàng - tiền và những qui luật

Lựa chọn nghề là một hoạt động có đối tƣợng. Đối tƣợng ở đây chính là

giá trị là đặc trƣng nhất”. [58]

30

31

Theo từ điển điện tử bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: “KTTT là nền kinh tế

tầng và nền kinh tế quá lạc hậu, đời sống nhân dân cực kì khó khăn, nƣớc ta đƣợc

lấy khu vực kinh tế tƣ nhân làm chủ đạo. Những quyết định kinh tế đƣợc thực hiện

xếp vào một trong 20 nƣớc nghèo nhất thế giới. Đến nay, nhờ phát triển KTTT và

một cách phi tập trung bởi các cá nhân ngƣời tiêu dùng và công ty. Việc định giá

chủ trƣơng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc, nƣớc ta đã có một vị thế cao

hàng hoá và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế đƣợc cơ bản tiến hành theo qui

trên trƣờng quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và thế giới nhƣ

luật cung - cầu. Trái với KTTT là kinh tế kế hoạch hoá tập trung”[48].

ASEAN, WTO, Liên hợp quốc và mới đây nƣớc ta trở thành uỷ viên không thƣờng

Khi nói đến các qui luật của sản xuất hàng hoá của KTTT thì trƣớc hết phải

trực của hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đang là nƣớc đứng thứ 2 trên thế

nói đến cơ chế thị trƣờng. Theo các nhà kinh tế học thì cơ chế thị trƣờng là tổng


kinh tế tƣ nhân, khắp nơi từ vùng núi, nông thôn tới thành thị không khí buôn bán,

1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nƣớc ta:

trao đổi hàng hoá diễn ra sôi động. KTTT đã tạo điều kiện cho mỗi cá nhân, mỗi

1.3.1. KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, là một thành tựu

nhóm xã hội có thể bộc lộ hết khả năng, mặt mạnh, mặt yếu của mình trong cuộc

của nền văn minh nhân loại. KTTT xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội là

đua tranh nhằm giành đƣợc những lợi ích cao nhất cho mình, xác lập những vị thế

một tất yếu khách quan. Khi nói đến KTTT không có nghĩa là đồng nhất với chủ

xã hội và kinh tế tƣơng thích với đòi hỏi của KTTT. Đây chính là động lực quan

nghĩa tƣ bản bởi vì nó là sản xuất chung của toàn nhân loại trong quá trình sản xuất

trọng của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế trong thời đại ngày nay.

hàng hoá và phát triển xã hội. Cho đến nay hầu hết các nền kinh tế của các nƣớc trên

1.3.2. Bên cạnh những cái đƣợc, những mặt tích cực, những đóng góp to lớn

thế giới đều đã và đang phát triển theo KTTT (Tuy mỗi nƣớc có một mô hình KTTT

của KTTT đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, KTTT cũng đã tạo ra


http://www.lrc-tnu.edu.vn

http://www.lrc-tnu.edu.vn


32

33

tộc trong suốt 4000 năm lịch sử. Các giá trị này thể hiện trong lối sống, quan hệ gia

KTTT cũng đã tạo ra lối sống hƣởng thụ trong nhiều gia đình cùng với nó là

đình dòng tộc, quan hệ làng xã, trong tình làng nghĩa xóm, các quan hệ giao tiếp

tâm lý tiêu dùng, với lối sống và tâm lý ấy, các giá trị vật chất đang ngày càng lấn

trong xã hội, lời ăn tiếng nói... Từ khi nền KTTT bắt đầu phát triển, đất nƣớc ta mở

át, các chuẩn mực đạo đức và phẩm cách con ngƣời, nhiều phong tục, nếp sống gia

cửa giao lƣu văn hoá, giao thƣơng kinh tế hoà nhập với thế giới. Sự phát triển

đình truyền thống và đạo lý cổ truyền bị mai một, xâm hại. Việc tiêu dùng phung

mạnh mẽ về kinh tế, khoa học kĩ thuật, giáo dục... thì đã thấy rõ nhƣng cũng từ đó

phí đƣợc coi là sự thành đạt của gia đình. Việc giáo dục con cái bị xao nhãng khi

trong xã hội xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực


các vấn đề khác của cuộc sống, chính vì điều này đã góp phần và tạo điều kiện cho

này đã ảnh hƣởng rất lớn đến việc giáo dục những giá trị chân chính trong gia đình,

nạn tham nhũng tràn lan nhƣ hiện nay.

là nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng xung khắc, anh em bất hoà, con cái bỏ rơi

Tiếp theo, có thể kể đến sự tác động mạnh mẽ của KTTT đến đạo đức và nếp

cha mẹ già...[64]

sống gia đình - những tế bào của xã hội. Gia đình truyền thống Việt Nam xƣa vốn

Sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội đang trở nên trầm trọng, nó

là một gia đình hài hoà, trong cùng một mái nhà có cả ông bà, cha mẹ, con cái, ba

tăng tỉ lệ thuận với sự thành công của nền KTTT. Trong bƣớc chuyển đổi, khởi đầu

thế hệ này cùng chung sống và bổ sung cho nhau những thiếu hụt của mỗi lớp tuổi

đi vào nền KTTT, điều kiện của các chủ thể sản xuất luôn biến đổi, có những cơ

đời. Nay thì có nguy cơ tan vỡ, xu hƣớng thích ra ở riêng, sống độc lập ngay khi

may để phát triển hay tình huống sa sút, thất bại... Trong khi đó, do nhiều nguyên

xây dựng gia đình đã trở nên phổ biến. Mặt tốt cần đƣợc khẳng định của xu hƣớng


một cách lạnh lùng nhƣ chính đồng tiền của họ.

bình đẳng và nhiều tệ nạn trong xã hội. [49],[50]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


34

35

Bên cạnh đó, nền KTTT còn ảnh hƣởng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác

Thái độ học tập của thanh niên HS đƣợc thúc đẩy bởi động cơ học tập có cấu

nhƣ nạn lạm phát, nạn đầu cơ tích trữ các nhu, yếu phẩm của xã hội nhƣ xăng dầu,

trúc khác với lứa tuổi trƣớc. Lúc này có ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn (ý nghĩa

lƣơng thực gây ra sự biến động giá cả, bức xúc, lo lắng trong xã hội, các tệ nạn xã

thực tiễn của môn học đối với cá nhân, có liên quan đến ngành nghề định chọn),


trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên HS trong hoạt động

dục.

học tập cũng nhƣ việc lựa chọn nghề nghiệp cho tƣơng lai.
1.4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của

1.4.1.2. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:
ở thanh niên HS THPT, tính chủ định đƣợc phát triển mạnh ở tất cả các quá

HS THPT
1.4. 1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT

trình nhận thức. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao, ghi nhớ có chủ định

Lứa tuổi HS THPT đƣợc xác định là những học sinh đang học trong trƣờng

giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgic trừu

THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi (ở đây chỉ đề cập đến đối tƣợng thanh niên HS

tƣợng và ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.

trong trƣờng THPT). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các thời

Do cấu trúc và chức năng của não bộ phát triển cùng với sự phát triển của các

kỳ phát triển của trẻ em. Đây là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các cấu trúc

quá trình nhận thức và hoạt động học tập mà hoạt động tƣ duy của các em có sự


vội vàng theo cảm tính. [22], [39], [43]

định với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định. Hứng thú
này thƣờng liên quan với việc lựa chọn một nghề nhất định của HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


36

37

Nhƣ vậy ở lứa tuổi này các em dễ mắc phải sai lầm trong việc lựa chọn nghề

gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội,

nghiệp, nhƣng nếu đƣợc định hƣớng một cách nghiêm túc, tƣ vấn một cách khoa

tƣ tƣởng chính trị, đạo đức. Chính nội dung các môn học ở phổ thông trung học

học thì hoàn toàn có thể giúp các em lựa chọn đƣợc những nghề nghiệp phù hợp.

giúp các em xây dựng đƣợc thế giới quan tích cực về tự nhiên, xã hội.


của thời mở cửa, hội nhập văn hoá với thế giới, mặt trái của cơ chế thị trƣờng... đã

niên mà còn nhận thức về vị trí của mình trong XH, trong tƣơng lai (Tôi cần trở

khiến họ có lối sống không lành mạnh, đánh giá cao cuộc sống hƣởng thụ, sống

thành ngƣời nhƣ thế nào, cần làm gì để tốt hơn...)

gấp, sống lại, ham chơi hơn là học hành... Một bộ phận khác lại chƣa chú ý vấn đề

HS THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu

xây dựng thế giới quan cho mình, sống thụ động.

sắc và tốt hơn tuổi thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những

1.4.1.5. Đời sống tình cảm:

ngƣời cùng sống và của chính mình. Nhƣng nhận thức ngƣời khác bao giờ cũng đỡ

Đời sống tình cảm của HS THPT rất phong phú và nhiều vẻ, Đặc điểm đó

khó khăn hơn là nhận thức bản thân. HS THPT thƣờng dễ có xu hƣớng cƣờng điệu

đƣợc thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình

trong khi tự đánh giá. Hoặc là các em đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê

thức đối xử có lựa chọn đối với mọi ngƣời trở nên sâu sắc. ở lứa tuổ i này, nhu cầu


Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú

(cả nam và nữ) bên cạnh những nhóm thuần nhất. ở một số em bắt đầu xuất hiện

nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những qui

“mối tình đầu”, đó là nhu cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc. Đó là

luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và sự tồn tại của xã hội loài ngƣời. Các em cố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


38

39

một trạng thái mới mẻ, nhƣng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của lứa tuổi HS

- Những yếu tố bên trong, còn gọi là động cơ bên trong (yếu tố chủ quan)
nhƣ: hứng thú, nguyện vọng, khả năng học tập của họ.

THPT. [22], [39], [43]
1.4.1.6. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT
Hoạt động lao động tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành nhân cách HS

là sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết để bƣớc vào cuộc sống, vào hoạt động

việc phân tích nhu cầu, khuynh hƣớng và năng lực của mình, từ đặc điểm chung

nghề nghiệp.

của nhân cách và đối chiếu đặc điểm đó với nghề dự định chọn. Điều này đặt ra

Do hoàn cảnh sắp bƣớc vào đời và đặc biệt là do thế giới quan và tâm lý phát
triển cho nên xu hƣớng nghề nghiệp của HS THPT hình thành rõ rệt, nhanh chóng

vấn đề tƣ vấn nghề nghiệp cho HS THPT là hết sức cần thiết. Sự khác biệt cá nhân
trong việc chọn nghề của mỗi học sinh biểu hiện ở các mặt:

và tƣơng đối ổn định. Họ coi đây là một vấn đề nghiêm túc trong cuộc đời. Đây

- Vị trí của nghề đƣợc chọn trong các nghề khác nhau.

chính là hoàn cảnh khách quan, là cơ sở để thúc đẩy các hiện tƣợng tâm lý phát

- Tính kiên quyết trong việc chọn nghề

triển. Họ thƣờng xuyên suy nghĩ: Mình sẽ đi đâu, làm gì? và mình sẽ trở thành con
ngƣời nhƣ thế nào?...

- Động cơ của việc chọn nghề hay cơ sở của việc chọn nghề.
Trong thực tế HS THPT chọn nghề thƣờng thiên về các lĩnh vực đòi hỏi

Khi lựa chọn nghề nghiệp, học sinh THPT có thuận lợi cơ bản là hoạt động


http://www.lrc-tnu.edu.vn

có thể lựa chọn đƣợc nghề nghiệp phù hợp. [22], [43]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


40

41

Lựa chọn nghề nghiệp là một hiện tƣợng xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu

hợp cha mẹ hiểu rõ năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề

về sự lựa chọn nghề nghiệp cho thấy rằng, hiện tƣợng này rất phức tạp và luôn thay

trong xã hội... nên hƣớng cho con mình lựa chọn những nghề phù hợp. Mặt tiêu

đổi tuỳ thuộc vào những điều kiện xã hội, đặc biệt là những điều kiện kinh tế văn

cực là có một bộ phận không nhỏ các bậc phu huynh lại áp đặt con cái lựa chọn

hoá và giáo dục. Do đó, ở hai thời điểm khác nhau thƣờng không thấy sự giống

nghề nghiệp theo ý mình. Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái

nhau trong xu hƣớng chọn nghề. Có những nghề hiện không đƣợc thế hệ trẻ thích


nghiệp của nhà trƣờng, các phƣơng tiện thông tin đại chúng, sở thích và hứng thú

thức giúp đỡ của cha mẹ và những ngƣời thân trong gia đình đối với việc lựa chọn

của cá nhân...

nghề của các em là định hƣớng phân tích, khuyên các em nên chọn nghề theo nghề

1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT

của cha mẹ, hoặc nghề sau khi học xong dễ xin đƣợc việc, có thu nhập cao. Ngoài

1.4.2.1. Yếu tố gia đình:

ra cha mẹ và ngƣời thân trong gia đình còn giúp đỡ các em bằng cách tìm kiếm cho

Gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của học sinh

các em những tài liệu, sách báo có liên quan đến nghề. Kết quả khảo sát cho thấy

trong đó có cả vấn đề định hƣớng, lựa chọn nghề nghiệp của các em. Trong gia

có 67,9% số HS lựa chọn nghề nghiệp cho mình do ảnh hƣởng của cha mẹ và

đình, cha mẹ là ngƣời luôn luôn gần gũi, hiểu rõ các em nhất nên cha mẹ có thể

ngƣời thân trong gia đình.[25]

biết đƣợc hứng thú, năng lực, sở thích của các em ra sao. Cha mẹ là những ngƣời


Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh hƣởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề

nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kĩ năng tự đối chiếu những phẩm chất,

nghiệp của học sinh sẽ có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trƣờng

những đặc điểm tâm - sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

http://www.lrc-tnu.edu.vn


42

43

cho ngƣời lao động... Nhƣ vậy, thông qua việc tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng

1.4.2.3. Yếu tố bạn bè:

nghiệp, nhà trƣờng sẽ giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách phù hợp

Mở rộng các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ bạn bè là một đặc điểm


vì vậy, mối quan hệ này thƣờng khá bền chặt và tồn tại suốt cuộc đời các em.

vấn hƣớng nghiệp học đƣờng ở nƣớc ta hầu nhƣ đang bị bỏ ngỏ chƣa đƣợc quan

Chính vì vậy bạn bè cùng lớp, cùng trƣờng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh

tâm đúng mức. Ngay chính bộ GD và ĐT cũng đang khuyết hẳn một bộ phận về tƣ

hƣởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT. Trên cơ sở thực tế có nhiều HS

vấn giáo dục hƣớng nghiệp, ở trƣờng phổ thông thì giáo viên làm công tác hƣớng

chọn nghề do lời khuyên của bạn bè, thấy các bạn chọn thì mình cũng chọn theo

nghiệp hầu hết là do giáo viên dạy các môn văn hoá kiêm nhiệm. Tính ra nếu mỗi

hoặc các em chơi thân với nhau rồi rủ nhau chọn cùng một nghề, thi chung một

trƣờng phổ thông cần 1 giáo viên chuyên làm công tác hƣớng nghiệp thì cả nƣớc

trƣờng... Hầu hết tất cả các cách chọn nghề do ảnh hƣởng từ bạn bè đều không

thiếu tới 10.000 ngƣời. Hoạt động dạy nghề, hƣớng nghiệp cho học sinh phổ thông

mang lại hiệu quả, bởi vì đó chỉ là sự lựa chọn bị chi phối bởi cảm tính và không

còn chƣa hợp lý cả về thời lƣợng và chất lƣợng hiện tại đang chỉ đạt 4% tổng

có sự đối chiếu so sánh giữa sở thích, điều kiện và năng lực của bản thân với các


của các lĩnh vực đời sống XH. Tuy nhiên, dù đa dạng đến mức nào thì đây cũng là

nhu cầu về tƣ vấn nghề, lựa chọn nghề của HS. Tức là GDHN trong nhà trƣờng

những dạng thông tin một chiều, ít có cơ hội để các em trao đổi và nhận đƣợc sự tƣ

chƣa thực sự phát huy đƣợc vai trò và nhiệm vụ của mình.

vấn cần thiết đặc biệt là trong vấn đề tƣ vấn hƣớng nghiệp. Tuy nhiên cũng cần
đƣợc phải khẳng định rằng trong điều kiện giáo dục hƣớng nghiệp trong các nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


44

45

trƣờng và gia đình đang có nhiều bất cập nhƣ hiện nay thì các phƣơng tiện thông

hiện nay đã có sự năng động, chủ động và thực dụng hơn trong việc lựa chọn nghề

tin đại chúng giữ vai trò quan trọng, đã phần nào cung cấp cho HS các thông tin về


của HS ở địa phƣơng, đặc biệt là ở các địa phƣơng có nghề truyền thống. Các tổ

nghiệp, y, dƣợc… thì hiện nay tỉ lệ đó giảm rất nhiều, thay vào đó là những ngành

chức xã hội này đóng vai trò là tƣ vấn, cung cấp cho các em thông tin về nghề, các

nhƣ kinh tế, quản trị kinh doanh, kế toán, ngoại thƣơng, thƣơng mại, ngân hàng…

yêu cầu của nghề, hỗ trợ học nghề và việc làm...Theo số liệu điều tra đƣợc thì có

Tuy nhiên, cũng xuất phát từ xu hƣớng thực dụng, HS chủ động hơn trong chọn

13,46% số HS lựa chọn nghề nghiệp do có sự tác động của các tổ chức xã hội. [25]

nghề, đồng thời thu nhập và vị thế của ngƣời lao động trong các lĩnh vực nghề

Tuy nhiên, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng gần đây (truyền hình, báo

nghiệp hiện nay ngày càng đƣợc Nhà nƣớc quan tâm và nâng cao. Vì vậy, những

chí...) cũng đã có các chƣơng trình về hƣớng nghiệp và tƣ vấn mùa thi tuy nhiên

năm gần đây tỉ lệ thí sinh thi vào các trƣờng THCN và dạy nghề bắt đầu tăng lên,

nội dung vẫn chủ yếu xoay quanh việc giải đáp các thắc mắc của HS khi đi thi, làm

xu hƣớng lựa chọn con đƣờng xuất khẩu lao động cũng đang đƣợc nhiều HS chú ý.

bài thi... Hàng năm bộ GD và ĐT xuất bản cuốn sách hƣớng dẫn tuyển sinh khá chi


trong thực tế, việc chọn nghề không hề đơn giản chút nào bởi vì ngành nghề trong

Nhƣ đã nói, KTTT là một phạm trù xã hội, một hiện tƣợng xã hội do vậy nó

xã hội rất phong phú, mỗi nghề có những đặc điểm riêng, yêu cầu riêng... Hơn nữa,

có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các hiện tƣợng xã hội khác trong

việc lựa chọn nghề của các em bị ảnh hƣởng của nhiều yếu tố cả chủ quan và

đó có vấn đề lựa chọn nghề nghiệp tƣơng lai của thanh niên, học sinh. Do sự tác

khách quan từ nền KTTT đang ngày càng phát triển. Vì vậy, câu hỏi: “làm gì sau

động của sự phát triển kinh tế xã hội, học sinh THPT, đặc biệt là học sinh lớp 12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


46

47

khi tốt nghiệp THPT?, chọn nghề gì?...” khiến nhiều HS lúng túng không tìm đƣợc


hƣởng trực tiếp hay gián tiếp của những ngƣời khuyên bảo, sự yêu thích nghề...

Khi vào nghề, thấy công việc của mình gắn bó với rừng núi, quanh năm phải tiến

mới chỉ là bề ngoài, cảm tính. Cá nhân chƣa thực sự hiểu đƣợc nghề đó.

hành công việc khảo sát, ít có dịp tiếp xúc với cuộc sống thành thị, thiếu điều kiện

* Thứ hai: Cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó

để giao lƣu văn hoá và khoa học, do đó đã tỏ ra chán nghề.

có thể do sự đồng nhất môn học với nghề, không thể hiểu hết năng lực của bản

- Cho rằng đạt thành tích cao trong việc học tập một môn văn hoá nào đó là

thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân,

làm đƣợc nghề cần đến tri thức của môn đó. Ví dụ, có ngƣời học giỏi môn văn đã

không hiểu đƣợc đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với ngƣời lao động, thao

chọn nghề làm phóng viên báo chí. Đúng là nghề này cần đến những ngƣời viết

tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề. [28]

văn hay, diễn đạt tƣ tƣởng rành mạch. Song nếu không nhanh nhẹn, tháo vát, năng

Theo GS.TS Phạm Tất Dong, có hai loại nguyên nhân dẫn đến việc chọn


chuẩn bị ở bậc Đại học.

nội dung, phƣơng pháp, tính chất lao động của nó. Ngƣời lao động không luôn

- Thành kiến với một số nghề trong xã hội, chẳng hạn, coi lao động chân tay
là nghề thấp kém, chê nhiều công việc dịch vụ là không “thanh lịch”... Thƣờng

luôn học hỏi, trau dồi năng lực làm việc thì khó có thể đáp ứng với yêu cầu về
năng suất và hiệu quả lao động.

thƣờng, những học sinh này không thấy hết ý nghĩa của yếu tố lao động nghề

- Không đánh giá đúng năng lực lao động của bản thân nên lúng túng trong

nghiệp, đóng góp của nghề đối với XH. Đã là nghề đƣợc XH thừa nhận thì không

khi chọn nghề. Do đó, có 2 tình trạng thƣờng gặp: hoặc đánh giá quá cao năng lực
của mình, hoặc đánh giá không đúng mức và không tin vào bản thân. cả hai trƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


48


Có quan điểm lại cho rằng khi chọn nghề, con ngƣời thƣờng mắc phải 3 loại
sai lầm cơ bản sau:

triển đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên so với mặt
bằng chung các tỉnh trong nƣớc thì Phú Thọ vẫn là một trong những tỉnh nghèo, điều

- Nhầm lẫn giữa cái mình giỏi với cái mình thích

kiện để phát triển giáo dục còn hạn chế, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn và phát triển

- Nhầm lẫn giữa sở thích và sự nghiệp

không đồng đều giữa 3 vùng: miền núi, trung du và đồng bằng.

- Nhầm lẫn giữa một phần và toàn bộ công việc. [68]

Chúng tôi đã lựa chọn khách thể điều tra của đề tài là HS lớp 12 trong các
trƣờng THPT của tỉnh Phú Thọ. Các em là những HS đang chuẩn bị thi kì thi tốt
nghiệp THPT và cũng đang trong giai đoạn lựa chọn, chuẩn bị nghề nghiệp cho
tƣơng lai. Mỗi vùng địa lý trong tỉnh chúng tôi chọn một trƣờng THPT, mỗi trƣờng
lại chọn ngẫu nhiên 200 HS lớp 12, 50 cha mẹ HS và các giáo viên chủ nhiệm
kiêm nhiệm công tác hƣớng nghiệp để điều tra, cụ thể nhƣ sau:
- Trƣờng THPT Hạ Hoà huyện Hạ Hoà, đại diện cho khu vực miền núi: Gồm
200 HS lớp 12, 13 giáo viên, 50 cha mẹ HS. HS lớp 12 trƣờng THPT Hạ Hoà chủ
yếu là con em các gia đình làm nông nghiệp cho nên điều kiện và hoàn cảnh kinh
tế còn nhiều khó khăn, việc đầu tƣ cho học tập còn hạn chế, chất lƣợng học tập
chƣa cao.
- Trƣờng THPT Hùng Vƣơng thị xã Phú Thọ, đại điện cho vùng trung du của
tỉnh: Gồm 200 HS lớp 12, 13 giáo viên, 50 cha mẹ HS. HS lớp 12 trƣờng THPT
Hùng Vƣơng có sự tƣơng đối đồng đều ở 3 thành phần gia đình là cán bộ công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status