ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN ĐÌNH CHIẾN
XU HƢỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
(KHẢO SÁT TẠI TỈNH PHÚ THỌ)
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2 Mục lục
Trang
Mở đầu ................................................................................................ 6
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ................................. 11
1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................
11
1.1.1. Trên thế giới ................................................................................ 11
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam .......................................................... 13
1.2. Các khái niệm công cụ...................................................................
16
1.2.1. Xu hướng..................................................................................... 16
1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp ...................................... 19
1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp ........................... 22
1.2.4. Sự phù hợp nghề .......................................................................... 26
1.2.5. Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó .......................... 27
1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường....................................... 29
1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nước ta ..........
89
Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
cho HS lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay ............
3.1. Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng các biện pháp...........
91
3.1.1. Nghiên cứu, xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính mục đích
của giáo dục hướng nghiệp....................................................................
91
3.1.2. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phù hợp với
những đặc điểm tâm lý và nhân cách của HS THPT................................
91
3.1.3. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phân hoá,
cá biệt hoá HS trong hoạt động hướng nghiệp ........................................
92
3.1.4. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính hệ thống
trong hoạt động GDHN .........................................................................
93
1.3.5. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp theo quan điểm tiếp cận hoạt
động và nhân cách ................................................................................
93
3.1.6. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi ..... 94
3.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS
lớp 12 trường THPT trong điều kiện KTTT hiện nay ............................
94
3.2.1. Xây dựng bài học có nội dung giới thiệu về những lĩnh vực nghề
nghiệp cụ thể ........................................................................................
94
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp
Giáo dục hƣớng nghiệp
Giáo viên
Học sinh
Giáo dục và đào tạo
Học sinh trung học cơ sở
Học sinh trung học phổ thông
Kinh tế thị trƣờng
Nhà xuất bản
Phổ thông cơ sở
Số lƣợng
Trung bình
Trung học phổ thông
Xã hội
Sản xuất
CNH - HĐH
ĐH,CĐ,THCN
GDHN
GV
HS
GD và ĐT
HS THCS
HS THPT
KTTT
Nxb
PTCS
SL
Bảng 2.2: Nhận thức của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của việc định
hƣớng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12 trong trƣờng THPT
52
Bảng 2.3:
Thái độ và hành vi của HS lớp 12 khi tham gia các giờ học
(giờ sinh hoạt) hƣớng nghiệp 53
Bảng 2.4: Dự định lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 sau khi tốt
nghiệp THPT 56
Bảng 2.5: Những vấn đề HS lớp 12 có nhu cầu hoặc hứng thú 58
Bảng 2.6 : Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề (nhóm nghề) của
HS lớp 12 61
Bảng 2.7 : Lí do lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 63
Bảng 2.8 :
Yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12 65
Bảng 2.9 : Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp 68
Bảng 2.10:
Thái độ của HS lớp 12 đối với việc lựa chọn nghề nghiệp sau
khi tốt nghiệp THPT 72
Bảng 2.11: Những khó khăn HS lớp 12 gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp 75
Bảng 2.12: Thực tế và hiệu quả của việc tổ chức GDHN trong trƣờng
THPT theo sự đánh giá của giáo viên 77
Bảng 2.13:
Những yếu tố tác động đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp
của HS lớp 12 theo sự đánh giá của giáo viên 78
Bảng 2.14:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
(CNH - HĐH) với nền kinh tế mở, năng động bao gồm nhiều thành phần kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc. Sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với
khu vực và thế giới đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Đồng thời vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đã và
đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và xã hội quan tâm
hàng đầu. Trong nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng
khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển
mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự
phát triển nhanh và bền vững”. [59]. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con ngƣời là
trọng tâm của sự phát triển - yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH -
HĐH đất nƣớc. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đƣợc những phẩm chất và
năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu của các hoạt động kinh tế -
xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang
tính chiến lƣợc. Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã
chỉ rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học,
chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.[12]
1.2. Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trong nhà
trƣờng phổ thông giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng. Đây là một trong
những mặt giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Giáo dục
hƣớng nghiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh phổ thông (đặc biệt là các lớp cuối
cấp) có đƣợc sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng
thú và năng lực nghề từ đó lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể trên cơ sở cân
nhắc kỹ lƣỡng phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng, năng lực sở trƣờng, sức
sức cho cả cá nhân học sinh, gia đình học sinh và cho xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xu hƣớng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 trƣờng Trung học phổ thông dƣới ảnh hƣởng của
nền kinh tế thị trƣờng” (Khảo sát tại tỉnh Phú Thọ).
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học
sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền KTTT. Phát hiện các yếu tố cơ bản tác động
đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh làm cơ sở để xây dựng các biện
pháp tổ chức hoạt động GDHN phù hợp cho HS trong nền KTTT hiện nay. Góp
phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của GDHN trong nhà trƣờng THPT.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 12 trƣờng THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 trƣờng THPT dƣới sự ảnh
hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng.
4. Giả thuyết khoa học
Xu hƣớng lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 hiện nay chịu ảnh hƣởng rất lớn
từ nền KTTT. Bên cạnh những ảnh hƣởng tích cực, những ảnh hƣởng tiêu cực từ
mặt trái của KTTT đã dẫn đến những quyết định lựa chọn nghề nghiệp sai lầm ở
rất nhiều học sinh lớp 12.
Vì vậy, nếu tìm hiểu đƣợc xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣới
sự ảnh hƣởng của nền KTTT hiện nay, từ đó xây dựng các biện pháp GDHN một
cách khoa học, hợp lý thì sẽ giúp các em lựa chọn đƣợc nghề nghiệp đúng đắn, phù
hợp với bản thân và nhu cầu của xã hội, góp phần nâng cao chất lƣợng GDHN
trong nhà trƣờng THPT.
Gặp gỡ trực tiếp các bộ quản lý giáo dục và những giáo viên có kinh nghiệm
trong công tác GDHN để điều tra, trao đổi, xin ý kiến về những vấn đề có liên
quan đến đề tài, đặc biệt là về thực trạng, đánh giá thực trạng, xây dựng, đề xuất
các biện pháp và khảo nghiệm các biện pháp của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
6.3. Các phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh
giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 12 là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp. Căn cứ vào điều kiện và
khả năng thực hiện đề tài, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu xu hƣớng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền KTTT tại các trƣờng THPT
tiêu biểu cho 3 vùng địa lý (Miền núi, trung du và đồng bằng) của tỉnh Phú Thọ.
8. Cấu trúc của luận văn
Nội dung cơ bản của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣói
sự ảnh hƣởng của nền KTTT.
- Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho HS
lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay.
và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề
nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có đƣợc kết quả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã đƣợc sử dụng rộng rãi nhất
trong thực tiễn hƣớng nghiệp trên thế giới.[69]
ở Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề hƣớng nghiệp
cho HS cũng đƣợc các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô viết đặc biệt
quan tâm. V.I Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải cho HS làm quen với khoa học kỹ
thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại. N.K Crupxkaia - nhà giáo dục
học lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên.
Theo bà, thông qua hƣớng nghiệp, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc hƣớng phát
triển kinh tế của đất nƣớc, những nhu cầu của nền sản xuất cần đƣợc yêu cầu mà xã
hội đề ra trƣớc các em trong lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hƣớng
nghiệp lại phải giúp cho trẻ em phát triển đƣợc hứng thú và năng lực nghề nghiệp,
giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ
đó các em có thái độ tự giác trong việc chọn nghề.
Trên cơ sở các luận điểm về hƣớng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin các nhà
giáo dục Liên xô nhƣ B.F Kapêep; X.Ia Batƣsep; X.A Sapôrinxki; V.A Pôliacôp
trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa
hƣớng nghiệp và các hoạt động sản xuất XH, và nếu sớm thực hiện giáo dục hƣớng
nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp
giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. Đồng thời các tác giả này cũng
đã trình bày những nguyên tắc, phƣơng pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho
HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trƣờng.
Trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới nền sản xuất công nghiệp và hậu
công nghiệp đã phát triển cao, trong xã hội xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới,
sự phân hoá lao động đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm
đến công tác hƣớng nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp, mở các
chân câu trả lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con
đƣờng lao động là con đƣờng đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vƣơn lên
chứ không nhất thiết là phải vào trƣờng đại học. Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến một yếu tố kỹ thuật sản xuất công
nghiệp và nông nghiệp” và “những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội.[66]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Đảng và Nhà nƣớc ta cũng rất quan tâm công tác hƣớng nghiệp, điều này
đƣợc thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của
Đảng và nhà nƣớc. Có thể lấy ví dụ nhƣ nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của
chính phủ về công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và việc sử dụng hợp
lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trƣờng”. Trong văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung
học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [12]. Luật giáo
dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho HS củng cố và phát
triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao
đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động”[57]. Chiến
lƣợc phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình
phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một
chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi HS,
giúp HS có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học
tiếp sau khi tốt nghiệp”[4].
Về mặt nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia
thì ngành hƣớng nghiệp Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ vào
những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm Tất
Dong, PGS. Đặng Danh ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ.
GS. Phạm Tất Dong là ngƣời có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hƣớng
luồng HS phổ thông. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hƣớng nghiệp ở nhiều
cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên
cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam. Có thể kể đến nhƣ tác giả Trần Quốc
Thành có bài: “Định hướng giá trị nghề nghiệp của HS lớp 12 THPT một số tỉnh
miền núi phía Bắc”, đăng trên tạp chí tâm lí học (2002). Bài: “Những nguyên nhân
ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở HS THPT”, của tác
giả Phạm Thị Đức đăng trên tạp chí giáo dục (2002). Bài: “Giáo dục hướng nghiệp
cho HS phổ thông với việc phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Sinh
Huy, Nguyễn Văn Lê đăng trên tạp chí phát triển GD (2004). Bài: “Để nâng cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong tình hình mới” của các tác giả Nguyễn
Văn Lê, Hà Thế Truyền đăng trên tạp chí giáo dục (2004) v.v. Các tác giả trên đã
có những nghiên cứu mang tính thực tiễn tập trung vào các vấn đề nóng bỏng của
công tác hƣớng nghiệp hiện nay đó là xu hƣớng, động cơ lựa chọn nghề của lớp
trẻ, những định hƣớng giá trị của thanh niên, những nguyên nhân dẫn đến xu
hƣớng, động cơ chọn nghề và định hƣớng giá trị đồng thời nghiên cứu mối quan hệ
giữa giáo dục hƣớng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nƣớc
trong thời kì CNH - HĐH. Từ đó có những biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm
nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng
Danh ánh, Nguyễn Thế Trƣờng, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Minh An, Lê Đức Phúc...
đã làm rõ đƣợc các thực trạng, những số liệu, những kinh nghiệm giáo dục hƣớng
nghiệp và dạy nghề cho HS phổ thông. Đồng thời cũng đề cập và làm rõ đƣợc các
vấn đề nhƣ tổ chức lao động cho HS phổ thông, tƣ vấn nghề cho học sinh phổ
thông, các phƣơng thức giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp trong nhà
trƣờng phổ thông và trung tâm kỹ thuật tổng hợp hƣớng nghiệp.
Dƣới góc độ xem xét giáo dục hƣớng nghiệp là 1 hệ thống trong đó xu hƣớng
chọn nghề của HS là một thành tố quan trọng, nó có mối quan hệ tác động với
* Nhu cầu: Là sự đòi hỏi tất yếu mà con ngƣời thấy cần đƣợc thoả mãn để tồn
tại và phát triển. Nhu cầu của con ngƣời cũng rất đa dạng: Nhu cầu vật chất gắn
liền với sự tồn tại của cơ thể nhƣ nhu cầu ăn, ở, mặc. Còn nhu cầu tinh thần gắn
liền với sự phát triển của cá nhân nhƣ nhu cầu nhận thức, lao động, giao tiếp, thẩm
mỹ...
* Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tƣợng nào đó, vừa có ý
nghĩa đối với cuộc sống vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt
động. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng tính tự giác và tích cực
trong hành động vì vậy hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động. Cùng với nhu
cầu, hứng thú là một thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách.
* Lý tưởng: Là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tƣơng đối hoàn
chỉnh, có sức lôi cuốn con ngƣời vƣơn tới nó. Có nghĩa là ý tƣởng thể hiện ý muốn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
của con ngƣời vƣơn tới một cái gì đó hoàn chỉnh và mẫu mực nhƣng chƣa đạt
đƣợc.
* Thế giới quan: Là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bản thân, xác
định phƣơng châm hành động của con ngƣời. Nói một cách cụ thể thì thế giới quan
của cá nhân là cách nhìn nhận, xem xét, hiểu biết, đánh giá về thế giới của cá nhân.
* Niềm tin: Là một sản phẩm của thế giới quan, là kết tinh các quan điểm, tri
thức, rung cảm, ý chí đƣợc con ngƣời thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong
mỗi cá nhân. Niềm tin tạo cho con ngƣời nghị lực, ý chí để hành động theo quan
điểm của mình, là lẽ sống của con ngƣời. [53]
1.2.1.2. Vai trò của xu hướng trong cấu trúc nhân cách của cá nhân:
Có thể khẳng định chắc chắn rằng xu hƣớng của cá nhân không tách khỏi hoạt
động nhằm đạt tới mục tiêu mà cá nhân đang hƣớng tới. Xu hƣớng chính là một
hay một nhóm động cơ chiếm địa vị thống trị chi phối các động cơ khác của hoạt
động này. Trong ý nghĩa đó, xu hƣớng giữ vị trí điểm nút trong mạng lƣới các mối
quan hệ giữa các thuộc tính trong cấu trúc nhân cách. Nói một cách khác, xu
muộn cũng hình thành hứng thú tƣơng ứng.
Nhƣ vậy xu hƣớng và năng lực có quan hệ chặt chẽ với nhau nhƣng không
đồng nhất. Việc nắm đƣợc mối quan hệ này là rất có ý nghĩa đối với nhà giáo dục
trong công tác phát hiện và bồi dƣỡng những học sinh có năng lực làm cơ sở cho
công tác tƣ vấn và định hƣớng nghề nghiệp cho các em. [23]
1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp
1.2.2.1. Nghề nghiệp và việc làm:
Nghề hay nghiệp, đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Nhƣ ý chủ biên, Nxb Văn
hoá thông tin - 1998) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công
của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”.[58]. Từ điển Tiếng Việt (Văn
Tân chủ biên, Nxb Khoa học xã hội - 1991) thì định nghĩa: “Nghề là công việc
hàng ngày làm để sinh nhai”, “Nghề nghiệp: là nghề làm để mƣu sống”, còn từ
điển Larousse của Pháp định nghĩa: “Nghề nghiệp (Profession) là hoạt động
thƣờng ngày đƣợc thực hiện bởi con ngƣời nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết
để tồn tại”. [21]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất
và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân
công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho mỗi con ngƣời khả năng sử dụng phƣơng
tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. [28]
Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ: “Nghề nghiệp nhƣ là một dạng lao động
vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội ), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản
thân) trong đó con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn
những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”. [21]
Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách ngắn
gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo
chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm
chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng. Nhờ quá trình
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận, các tiêu chí... mà có nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm hƣớng nghiệp.
Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sƣ phạm, y học
giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản
thân. Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho
mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đƣa họ vào một
lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với việc phân bố lực lƣợng lao động xã hội.
Nhà tâm lý học K. K. Platônôp cho rằng: “Hướng nghiệp, đó là hệ thống các
biện pháp tâm lý - giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống
thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện,
vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên
sự thống nhất giữa quyền lợi của XH với quyền lợi của cá nhân”. Còn viện sĩ X. Ia.
Batƣsep xác định: “Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở
thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá
nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác” . [9], [21]
Theo GS. TS. Phạm Tất Dong, khái niệm hƣớng nghiệp đƣợc hiểu trên hai
bình diện:
* Trên bình diện xã hội: hƣớng nghiệp nhƣ là một hệ thống tác động của xã hội về
giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học... nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn đƣợc nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trƣờng của cá nhân, vừa đáp
ứng đƣợc nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
* Trên bình diện trường phổ thông: Hƣớng nghiệp đƣợc coi là công việc của tập thể
giáo viên, tập thể sƣ phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp
các em tự quyết định nghề nghiệp tƣơng lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực,
hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. [9]
Hội nghị lần thứ IX những ngƣời đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các
nƣớc xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana - Cu ba (Tháng 10/1980) đã thống nhất về
Nhu cầu là một khái niệm vƣợt ra ngoài giá trị vật chất của nghề nghiệp, là
một yếu tố quan trọng mà những ngƣời làm công tác hƣớng nghiệp cần phải hiểu
rõ để tác động đúng. Động cơ thúc đẩy việc lựa chọn nghề thƣờng phản ánh nhu
cầu chọn nghề hơn là phản ánh các giá trị do nghề đó đem lại.
Sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh bao giờ cũng bị chi phối bởi một hệ
thống động cơ nhất định. Những động cơ này thƣờng bắt nguồn từ những nhu cầu,
hứng thú, sở thích riêng của mỗi cá nhân học sinh và đƣợc hình thành dƣới tác
động hợp thành của động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong
có vai trò quan trọng thúc đẩy con ngƣời đạt tới những mục tiêu nhất định trong
quá trình tiến tới mục đích nghề đƣợc lựa chọn. Nó là tiền đề nội lực cơ bản cho sự
lựa chọn và hoạt động nghề nghiệp sau này của học sinh, nó giúp cho cá nhân học
sinh sử dụng có hiệu quả những tƣ chất, năng lực, kinh nghiệm của mình để trƣớc
hết là chọn đƣợc một nghề theo ý nguyện và sau đó là để thực hiện tốt những yêu
cầu đặt ra cho hoạt động nghề nghiệp. Những động cơ bên trong có thể bao gồm:
trình độ kiến thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, hứng thú, nguyện vọng, năng
lực sở trƣờng của bản thân đối với nghề đó; tiềm năng nhận biết và hiểu đƣợc ý
nghĩa xã hội, giá trị xã hội của nghề . [8], [21]
* Hứng thú đối với nghề nghiệp:
Hứng thú nghề nghiệp là sự biểu hiện thái độ của con ngƣời đối với lĩnh vực
nghề nghiệp hay một nghề cụ thể, nó góp phần tạo nên động cơ thúc đẩy cá nhân
tìm hiểu kĩ lƣỡng về nghề làm cơ sở cho việc thực hiện nguyện vọng nghề nghiệp.
E.M Cheplôp cho rằng: “Hứng thú là động lực quan trọng nhất trong việc nắm
vững tri thức, mở rộng học vấn, làm giàu nội dung của đời sống tâm lý con người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
Thiếu hứng thú hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống của con người sẽ trở nên ảm
đạm và nghèo nàn”. Một khi con ngƣời ý thức về giá trị nghề nghiệp đối với mình,
có đƣợc những cảm xúc và sự say mê tích cực trong lao động, học tập nhằm hoàn
thiện mình để đạt tới nghề nghiệp, khi đó ở con ngƣời đã có đƣợc hứng thú nghề