ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BÀI DỰ THI
Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Họ và tên:
Ngày sinh:
Giới tính:
Dân tộc:
Địa chỉ
Đơn vị công tác:
Yên Minh, tháng 4/2015
2
SƠ LƯỢC
về sự hình thành các bản Hiến pháp của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
---------Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch
Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh lâu
dài, đầy gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân
dân. Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng ý chí và sức mạnh của
toàn dân tộc, được sự giúp đỡ của bạn bè trên thế giới, Nhân dân ta đã giành
chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã
hội.
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
+ Bản Hiến pháp 1946: Bản hiến pháp này được Quốc hội thông qua vào
ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, với 240 phiếu tán thành trên tổng
số 242 phiếu. Sau đó, Quốc hội ra nghị quyết giao nhiệm vụ cho Ban Thường
trực Quốc hội "cùng với chính phủ ban bố và thi hành hiến pháp khi có điều
kiện", "trong thời kì chưa thi hành được Hiến pháp thì chính phủ phải dựa vào
những nguyên tắc đã định trong hiến pháp để ban hành các sắc luật". Tuy nhiên,
Kháng chiến chống Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã làm việc
tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện để thực hiện.
Do tình hình chiến tranh, Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố và
chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý.
+ Bản Hiến pháp năm 1959: Bản Hiến pháp này đã được Quốc hội Nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959.
Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ tạo tiền đề cho Hiệp
định Giơ-ne-vơ (các bên ký kết ngày 20/7/1954), văn kiện quốc tế đầu tiên,
tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt
Nam. Tuy nhiên, ngay sau đó được sự ủng hộ trực tiếp của Mỹ, chính quyền
Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã cự tuyệt thi hành Hiệp định Giơ-nevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.
Sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội nói trên đã làm cho Hiến pháp
1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước. Mặt khác, nhiều quy
định của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng
nước ta ở miền Bắc lúc bấy giờ. Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã
4
được đặt ra. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban
sửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng
Ban. Ngày 01/4/1959, Bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân
thảo luận và đóng góp ý kiến. Đến ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội
khóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946; và ngày
01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp này –
nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp.
Đến ngày 15/4/1992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, Bản dự
thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua (tại kỳ họp
thứ 11). Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của Việt Nam trong thời kỳ
đầu của tiến trình đổi mới.
Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị
quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
+ Bản Hiến pháp năm 2013: Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm
2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với kết quả tổng kết thực tiễn qua 25
năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn
quan điểm của Đảng và nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Ngày 06/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua
Nghị quyết số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm
1992 gồm 30 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội
làm Chủ tịch Ủy ban. Sau thời gian 9 tháng (từ 01 đến 9/2013) triển khai lấy ý
kiến góp ý của nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày
28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 2013. Ngày
08/12/2013, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ tiếp
tục đổi mới đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập
quốc tế.
Câu 2: Bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực
từ ngày, tháng năm nao? So với Hiến pháp năm 1992 (được sử đổi, bổ sung
quyết định của mình”; “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản
Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
7
Bản Hiến pháp 2013 đã chỉ rõ, Đảng không chỉ là của giai cấp công nhân,
Nhân dân lao động mà toàn dân tộc nói chung. Đồng thời, Hiến pháp cũng đòi
hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam muốn giữ vai trò lãnh đạo của mình thì phải luôn
gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân
dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; quy định
về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội;
nêu rõ bản chất của Đảng như đã thể hiện trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng là
phù hợp với thực tiến lịch sử, phụ hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Trong điều kiện hiện nay, Đảng ta là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo
nhân dân phát triển theo con đường dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh. Sự lãnh đạo của Đảng không mâu thuẫn với yêu cầu dân chủ hóa.
Việc Hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là cần
thiết để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị - xã
hội; phòng chống âm mưu chống Đảng, chống chế độ.
Câu 3: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân..”. Bạn hãy nêu và phân tích ngắn gọn các quy định của Hiến pháp
năm 2013 về những cách thực để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.
Trả lời: - Tiếp tục thể hiện xuyên suốt, nhất quán quan điểm “tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” nhưng bổ sung một điểm
mới quan trọng đó là: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân
làm chủ (Điều 2);
- Kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp thể hiện rõ
bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân
Chính sách đối với các dân tộc thiểu số được Hiến pháp 2013 quy định tại
khoản 4 Điều 5 của Hiến pháp 2013: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển
toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát
triển với đất nước”.
Về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức Chính trị -Xã hội được Hiến pháp
2013 quy định cụ thể như sau: “1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên
minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã
hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân;
đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp,
9
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường
đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà
nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt
Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại
diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ
chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống
nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ
chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước
tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận
và các tổ chức xã hội khác hoạt động” (Điều 9).
Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính
trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ
sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh
hội.Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi
ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (Điều 15).
Hiến pháp 2013 còn bổ sung một số điều mới về quyền con người, quyền
công dân, quy định tại các Điều 19, 20, 21, 34 và Điều 36. Cụ thể như sau:
- Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo
quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình
thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được
thử nghiệm. ((Khoản 3, Điều 20)
- Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34)
- Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ
và trẻ em (Điều 36). Ngoài ra trong các Điều:
Điều 41: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá,
tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”.
Điều 42: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn
ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”.
Điều 43: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và
có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.
11
Điều 44: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ
quốc là tội nặng nhất”.
Điều 45: “1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý
của công dân. 2. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây
dựng nền quốc phòng toàn dân”.
- Nghĩa vụ của công dân: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và
pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành
những quy tắc sinh hoạt công cộng” (Điều 46).
- Mở rộng nghĩa vụ: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định”
(Điều 47).
(Mới) 5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; 6.
Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà
nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; 7. Bầu,
miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,
Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng
dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội
đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác
do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng
và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia. (Mới) Sau khi được bầu, Chủ tịch nước,
Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp; 8. Bỏ phiếu tín
nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; 9. Quyết định
thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập,
chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của
Hiến pháp và luật; 10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; 11. Quyết
định đại xá; 12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp
ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy
chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; 13. Quyết định vấn đề chiến tranh và
hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm
quốc phòng và an ninh quốc gia; 14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại;
13
Điều 96).
14
Quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong việc tổ chức
thi hành Hiến pháp và pháp luật (khoản 1 Điều 96); thi hành các biện pháp cần
thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân (khoản 3
Điều 96)…
Bên cạnh quyền trình dự án luật, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quyền
ban hành văn bản pháp quy của Chính phủ như một nhiệm vụ, quyền hạn độc lập
để thực hiện chức năng hành pháp: “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý
các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật” (Điều 100).
Với những sửa đổi, bổ sung trên đây, quyền hành pháp của Chính phủ đã
có bước đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với bản chất, chức năng của quyền hành
pháp hiện đại.
3. Điểm mới, quan trọng về vị trí, chức năng của TÒA ÁN NHÂN
DÂN: Điểm mới của Hiến pháp 2013 là không xác định các cấp Tòa án nhân
dân và Viện Kiểm sát nhân dân như Hiến pháp 1992 mà dành để Luật định.
Đối với Tòa án nhân dân, Hiến pháp quy định một số nguyên tắc mới
trong tổ chức và hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án như nguyên tắc
đảm bảo tranh tụng trong xét xử (khoản 5 Điều 103); chế độ xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm...
4. Về mối quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội, Chủ tịch nước: Hiến
pháp mới đã bỏ quy định về thẩm quyền của Quốc hội quyết định chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh nhằm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động, linh hoạt
trong việc đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh. Đồng thời, Hiến pháp cũng phân
định rõ hơn phạm vi chính sách và các vấn đề quan trọng do Quốc hội và Chính
phủ quyết định trong một số lĩnh vực (như Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hiến pháp 2013 có một số
sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thể hiện rõ hơn vị trí, nhiệm vụ, trách nhiệm của
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách vừa là thành viên Chính
phủ, đồng thời là một thiết chế có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với ngành,
lĩnh vực trong phạm vi cả nước.
Cụ thể, về vị trí, vai trò của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Hiến pháp mới quy định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên
Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của
16
bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực
được phân công” (khoản 1 Điều 99).
Về chế độ chịu trách nhiệm, Hiến pháp mới quy định rõ ràng và đầy đủ
hơn: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ “chịu trách nhiệm cá nhân trước
Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân
công phụ trách” (bổ sung chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ); và “cùng
các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của
Chính phủ” (mới bổ sung).
Về nhiệm vụ, quyền hạn, Hiến pháp sửa đổi đã bổ sung nhiệm vụ, quyền
hạn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: “tổ chức thi hành và theo dõi
việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”
(khoản 1 Điều 99); “ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái
pháp luật theo quy định của luật” (Điều 100).
Một điểm mới rất quan trọng là Hiến pháp 2013 đã bổ sung quy định về
trách nhiệm giải trình. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ không chỉ chịu
trách nhiệm giải trình trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, mà còn phải chịu
trách nhiệm giải trình trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách
Câu 8: Hiến pháp năm 2013 quy định như thể nào về trách nhiệm của đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đối với cử tri và Nhân dân?
Trả lời:
- Về Đại biểu Quốc hội, Điều 82: “1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm
thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu; có quyền tham gia làm thành viên của Hội
đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội (Mới). 2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện
để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu. 3. Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt
động của đại biểu Quốc hội”.
- Hội đồng nhân dân, Điều 113 Hiến pháp mới quy định: “1. Hội đồng
nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà
nước cấp trên. 2. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do
luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc
thực hiện nghị quyết của HĐND”.
18
Câu 9: “..Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp
này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (trích Lời
nói đầu Hiến pháp năm 2013)
Theo bạn, Nhà nước và mỗi người dân có trách nhiệm làm gi và làm như
thế nào để thi hành và bảo vệ Hiến pháp?
Trả lời:
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của mỗi quốc gia dân tộc. Các
điều khoản, quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng,
hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế chính trị xã hội. Nó nói lên tính ưu việt
của chế độ xã hội và phản ánh sâu sắc quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
Có như vậy Đất nước mới phồn vinh, ổn định và phát triển đồng thời Hiến
pháp mới mới được bảo vệ và đi vào thực tiện của đời sống dân sinh.
---------- Hết ----------