Hướng dẫn thực hành Hoá Hữu cơ Olympic hay dành cho sinh viên đại học, cao đẳng - Pdf 39

TUYỂN TẬP BÀI TẬP PHỔ THÔNG, ĐẠI HỌC, SAU ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN-KHOÁ LUẬN-TIỂU LUẬN

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH HOÁ HỮU CƠ
THI OLYMPIC

1


PHẦN 1. ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY THỰC HÀNH HÓA HỌC
Bộ môn Hóa
I.

Đặt vấn đề
Sử dụng các phương pháp tích cực vào giảng dạy Hoá học ở bậc Đại học hiện

nay là rất cấp thiết. Với việc trang bị những thiết bị và đồ dùng dạy học, phục vụ cho
việc cải cách giáo dục hiện nay tại Bộ môn Hóa- Đại học Nha trang (NTU) sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho Giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá
trình dạy và học Hoá học. Thí nghiệm Hóa học sẽ tạo cơ hội cho Sinh viên bổ sung
kiến thức, nắm vững các khái niệm, định luật … về lý thuyết và rèn luyện kỹ năng làm
thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, làm sáng tỏ những gì học tại lớp và học qua sách
vở. Sự hình thành những câu hỏi, kiểm chứng giả thuyết, thu thập dữ liệu và phân tích
số liệu để giải quyết vấn đề trong lí luận và thực tiễn về Hóa học chỉ có thể thực hiện
trong phòng thí nghiệm.
Mục đích của bài viết này là làm thế nào để kích thích Sinh viên không chuyên
Hóa, thích học Hóa học và thích làm thí nghiệm Hóa học. Phương pháp dạy học “ Nêu
và giải quyết vấn đề trong thí nghiệm Hóa học” theo phương pháp Spickler hy vọng
đạt được kết quả cao.
II. Những vấn đề cần giải quyết
1. Tại sao cần đổi mới phương pháp dạy trong thực hành thí nghiệm Hóa học?

học, kiến thức, kĩ năng và thái độ thực nghiệm của Sinh viên hầu như quay lại điểm
xuất phát ban đầu.
Tự nhận thấy trước đây, ai thích học ngoại ngữ thì học vì ít có nhu cầu về cập
nhật kiến thức chuyên môn và giao tiếp, làm việc với người nước ngoài, đọc và dịch
tài liệu bằng tiếng nước ngoài. Nhưng trong thời kì hội nhập ngày nay, điều đó không
phải là tùy thích nữa mà nhà trường yêu cầu mỗi Giảng viên dạy Đại học- để tồn tại và
làm việc có hiệu quả, mỗi Giảng viên phải có các văn bằng ngoại ngữ theo yêu cầu.
Bao khó khăn phải vượt qua và thực sự chúng ta đã vượt qua. NTU ngày càng có đông
đảo các Thạc sĩ, Tiến sĩ được đào tạo từ nước ngoài, chất lượng người thầy, người cô
được tăng lên. Chúng ta nên nhớ rằng, “ Bộ não của con người có khả năng tiếp nhận
nhiều thông tin ở bất kỳ một thời điểm nào” và đó là những cái ngưỡng mà mỗi con
người có ý chí phải cố gắng vượt qua. Nếu bộ não của Sinh viên hoạt động theo bài thí
nghiệm đã được biên soạn tỉ mỉ thì trong suốt quá trình thí nghiệm, Sinh viên sẽ
không có thời gian dành cho quá trình suy nghĩ về các vấn đề khoa học đang đặt ra.

2


Sinh viên cũng không đủ thời gian suy nghĩ để chọn lựa cách tiến hành thí nghiệm
khoa học, đặc biệt các kỹ năng xử lý sáng tạo. Cách giảng dạy rập khuôn theo từng chi
tiết, đi đúng từng bước và cho từng giọt hóa chất vào ống nghiệm không những làm tê
liệt việc rèn luyện những kỹ năng xử lý có tính khoa học mà còn làm cho Sinh viên
nhàm chán, thiếu thích thú trong thí nghiệm. Khi Giáo viên yêu cầu Sinh viên tự thí
nghiệm và tự tìm tòi khám phá với sự hướng dẫn, theo dõi của Giáo viên thì chắc chắn
rằng, Sinh viên sẽ thực hiện và đáp ứng được (ngoại trừ Sinh viên Trung cấp và Cao
đẳng) những yêu cầu của môn học và Họ sẽ phát triển và phát huy được khả năng tiếp
nhận nhiều thông tin ở bất kỳ một thời điểm nào.
2. Chúng ta cần làm gì?
Thực tế tại NTU, số Sinh viên trong mỗi lớp là khá đông, trình độ Sinh viên
trong lớp quá chênh lệch nên khả năng tiếp thu là khác nhau. Để nâng cao chất lượng

tư duy tốt mà thậm chí cho Sinh viên có trình độ tư duy thấp.
Với yêu cầu hiện nay của nhà trường, phải đổi mới phương pháp giảng dạy
bằng mọi hình thức từ nội dung đến phương pháp. Vì thế, tôi đã mạnh dạn đổi mới
phương pháp giảng dạy trong thực hành Hóa học theo phương pháp Spickler (1984).
3. Đổi mới như thế nào?
Xuất phát từ suy nghĩ và mong muốn đem lại cách học tập chủ động hơn cho
Sinh viên, Tôi đã ứng dụng phương pháp Spickler trong quá trình hướng dẫn thực
nghiệm nhằm gắn Sinh viên với quá trình tự điều khiển thí nghiệm. Theo Spickler,
muốn phát huy được tính tích cực của sự học qua thực nghiệm, cần tiến hành ba giai
đoạn [1]:
a. Giai đoạn khảo sát thăm dò là giai đoạn Sinh viên tự vạch ra cách tiến hành
hoặc có thể truy tìm thí nghiệm và tham khảo trên Internet với mục đích là Sinh
viên tiến hành thu thập số liệu mà không được giảng viên hướng dẫn chi tiết và
tỉ mỉ.
b. Giai đoạn sáng tạo là giai đoạn yêu cầu Sinh viên tự thiết kế cách thực hiện,
tiến hành, phân tích số liệu và hình thành giả thiết.
c. Giai đoạn khám phá, phát minh và kiểm tra giả thiết qua phản ứng thí nghiệm.
Tôi đã xây dựng các thí nghiệm trên cơ sở không cung cấp chi tiết các bước
tiến hành thí nghiệm như trước đây mà để Sinh viên tự tìm hiểu cách thức thí nghiệm
theo sự hướng dẫn nội dung của Tôi và phải suy nghĩ làm thế nào để thực hiện được
hiệu quả nội dung đó. Để Sinh viên nắm vững kiến thức, sau quá trình hướng dẫn và
theo dõi Sinh viên thực hành thí nghiệm, Tôi đã củng cố lại toàn bộ kiến thức về phản
ứng trong thực nghiệm cho Sinh viên nhờ minh họa qua hình ảnh, băng Video, file
minh họa thí nghiệm … những thực nghiệm đó nhờ các thiết bị dạy học đã được trang

4


bị. Và cuối cùng, Tôi yêu cầu Sinh viên viết tường trình những gì tự thực hiện được và
đánh giá.

-

Hướng dẫn sử dụng thiết bị và dụng
cụ thí nghiệm.

-

Sinh viên trình bày cách tiến hành
và giáo viên kiểm tra lại tính khả thi của
thí nghiệm hoặc có gợi ý kịp thời sơ bộ

- Mô tả chi tiết như công thức
Hóa học, hiện tượng quan sát,

2

sau khi Sinh viên đã trình bày cách của
mình

cách tính toán, phân tích kết

- Không cung cấp các mô tả chi tiết cách

quả thí nghiệm và giải thích kết

tiến hành thí nghiệm, cách tính toán, phân

quả và hiện tượng quan sát

tích kết quả thí nghiêm. Giải thích kết quả


5


- Giảng viên giảng trước khi Sinh
viên tiến hành thí nghiệm.
- Giảng viên nhận xét và đánh giá quá trình
học và củng cố kiến thức.

III.

Kết luận
Những đổi mới giảng dạy thực hành Hóa học theo phương pháp Spickler này

được áp dụng cho Sinh viên K51, ngành Công nghệ sinh học, hệ Đại học chính quy tại
phòng thí nghiệm Hóa hữu cơ- NTU. Kết quả đánh giá cho thấy kiến thức, kĩ năng và
thái độ của Sinh viên tiến bộ vượt bực so với những năm trước đây.
Tôi hy vọng báo cáo này sẽ có ích cho những môn học có học phần thực
nghiệm và là một trong những cách đổi mới về phương pháp giảng dạy thí nghiệm,
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường chúng ta trong thời gian tới.

PHẦN 2. MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH
THEO CHƯƠNG TRÌNH OLYMPIC
Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bài 1. Xác định Sắt có trong thuốc viên chứa Sắt
Lý thuyết
Sắt là một thành phần thiết yếu của hồng cầu (hemoglobin), giúp vận chuyển oxi
trong máu đến mọi phần của cơ thể. Nó cũng giữ vai trò sinh tử trong nhiều phản
ứng trao đổi chất. Thiếu sắt có thể gây bệnh thiếu máu là hệ quả của mức hồng cầu

Thiết bị và Hóa chất tiến hành
THIẾT BỊ

HÓA CHẤT

− Cân

− Viên thuốc chứa Fe (II)

− Cối, chày sứ;

− HCl 4M;

− Cốc 100 mL;

− Dung dịch 1,10-phenanthroline;

− Thiết bị siêu âm (ultrasonic bath);

− Dung dịch hydroxylammonium

− Bếp điện;

chloride;

− Phễu Hirsch chứa một lớp nhỏ chất
giúp lọc nhanh;
− Bình định mức 250 mL và 100 mL;
− Pipet;
− Quang phổ kế;

quang quan sát được cần phải nhân với hệ số này để thu được mật độ quang
đúng của dung dịch phức sắt.

Bài 2. Xác định các mẫu vô cơ chưa biết
Lý thuyết
Có 12 mẫu chưa biết đựng trong túi bằng chất dẻo bao gồm 9 dung dịch
chưa biết, mỗi dung dịch được đựng trong ống nhỏ giọt và 3 mẫu chất rắn đựng
8


trong ba lọ miệng rộng. Tất cả các mẫu chưa biết đều được đánh số với 3 chữ
số. Hãy kiểm tra cẩn thận các mã số mẫu theo danh sách các mẫu vô cơ chưa
biết rồi viết số báo danh và tên của mình vào tờ giấy. (Danh sách đó được kèm
theo các mẫu chưa biết của học sinh). Mỗi lọ đựng chất rắn có khoảng 20
miligam dưới dạng bột hoặc tinh thể của một hợp chất tinh khiết. Mỗi ống nhỏ
giọt chứa khoảng 1,5ml dung dịch của một hợp chất tinh khiết được hòa tan
trong nước cất. Nồng độ của các dung dịch chưa biết nằm trong khoảng từ 0,05
đến 0,5 M(mol/lit).
Các dung dịch chưa biết là như sau:
HCl
NaOH

H2O2
Na2CO3

H2SO4
Na2SO3

ZnCl2
BaCl2


Dụng cụ

Số lượng.

Điện cực dây Au
Pin
Bản mỏng bằng nhựa màu

1
2
1

đen
Ống nhỏ giọt (1 mL)

5

Nồng độ.
Thuốc thử
0.1M
pp (phenolphtalein)
0.1M
Dung dịch tinh bột

Mức độ độc hại và an toàn của các hóa chất

9

Nồng độ.

Hydroperoxit
Dung dịch Natri

Na2CO3

36

22-26

cacbonat
Dung dịch Bariclorua
Dung dịch Natrisunfit
Dung dịch Kẽm clorua

BaCl2
Na2SO3
ZnCl2

20-25
31-36/37/38
22-34-50/53

45
26-36
26-36/37/39-45-60-

32

61
22-24/25

FeCl3
KI
-

Phenolphthalein
Tiến hành
1. Sử dụng bốn thuốc thử đã được cấp, các phản ứng giữa các mẫu chưa biết với
nhau và thiết bị điện phân đơn giản để nhận biết các mẫu chưa biết và viết
trả lời của em (dưới dạng số với 3 chữ số - như cách đánh số mẫu của các
mẫu đã cho) vào các ô trống trong tờ phiếu trả lời.
Chú ý: Sau khi kết thúc công việc hãy cho hai dây vàng (Au) và Platin(Pt) và các pin vào các
túi nilon ban đầu của chúng rồi để lại tất cả dụng cụ và hóa chất (kể cả các mẫu chưa biết) vào
hộp nhựa đúng vị trí ban đầu.

2. Trong bài thực hành này học sinh đã thực hiện một loạt phép thử để xác định
(hoặc khẳng định) các mẫu chưa biết. Học sinh cần nắm được các phản ứng

10


hoá học liên quan đến các phép thử đã tiến hành và viết được các phương
trình phản ứng:
A. Viết phương trình điện phân xảy ra ở dạng ion rút gọn có ghi trạng thái
tồn tại để khẳng định một mẫu chưa biết là dung dịch chứa ZnCl2.
B. Viết một phương trình phản ứng dùng để làm sạch kết tủa Zn trên bề
mặt điện cực bằng các dụng cụ và hóa chất đã cho trong bài này.

Bài 3. Xác định cacbonat và hiđro photphat trong một mẫu làm chất mài
Lý thuyết
Na2CO3, CaCO3 và Na2HPO4 là các thành phần chính của các bột mài. Trong

chuẩn độ đã dùng để đạt tới hai điểm kết thúc chuẩn độ (chỉ thị TP và BCG).
Thiết bị và Hóa chất tiến hành
THIẾT BỊ

HÓA CHẤT

− Cân

− Bột mài chứa Na2CO3, CaCO3 và

− Phễu lọc;

Na2HPO4

− Cốc 100 mL;

− HCl 1M;

− Ống đong;

− Nước cất

− Bếp điện;

− Dung dịch K2C2O4 15%;

− Bình hình nón (Erlenmeyer);

− Dung dịch NaOH;


thêm nước cất cho đến vạch, lắc bình để trộn đều. Rót dung dịch NaOH đầy buret.
Dùng pipet lấy 10,00 mL dung dịch HCl trong bình định mức cho vào một bình
hình nón (Erlenmeyer). Thêm vào erlenmeyer này 1-2 giọt dung dịch
Thymolphthalein rồi chuẩn độ bằng dung dịch NaOH tới khi màu xanh xuất hiện
trên vòng xoáy của dung dịch và bền chỉ trong khoảng 5 - 10 giây.
Tại đây và phần sau: Hãy lặp sự chuẩn độ ở mức độ cần thiết. Cần lưu ý rằng trị
số thể tích dung dịch cần dùng nhiều nhất và ít nhất chỉ cách nhau có 0,10 mL. Số
liệu thể tích dung dịch báo cáo có độ chính xác tới 0,01 mL.
3.1a Hãy điền đầy đủ vào bảng trong Phiếu trả lời.
3.1b Hãy tính nồng độ của dung dịch NaOH (theo mol/L).
Bước 4. Lọc bỏ canxi oxalat
Sau khi kết tủa được hầu hết CaC 2O4, dùng phễu lọc dung dịch vào bình định mức
100 mL. Nước lọc này hơi bị đục do có mặt lượng nhỏ canxi oxalat nhưng không
gây ảnh hưởng tới việc chuẩn độ. Dùng nước cất rửa sạch kết tủa rồi bỏ giấy lọc có
kết tủa vào thùng đựng rác. Thêm nước cất vào bình đựng nước lọc cho tới vạch và
lắc đều.
Bước 5. Chuẩn độ mẫu dùng Bromocresol Green
Dùng pipet lấy 10,00 mL nước lọc thu được sau bước 4 cho vào một Erlenmeyer
rồi thêm tiếp vào đó 3 giọt dung dịch BCG. Hãy chuẩn bị một Erlenmeyer khác có
dung dịch đối chứng gồm 3 giọt dung dịch NaH2PO4 15%, 3 giọt dung dịch BCG
và 15-20 mL nước cất. Dùng dung dịch NaOH chuẩn độ dung dịch nước lọc tới khi
màu của dung dịch này trùng với màu của dung dịch đối chứng thì dừng.
3.2 Hãy điền đầy đủ vào bảng trong Phiếu trả lời.
Bước 6. Chuẩn độ mẫu dùng Thymolphthalein

13


Dùng pipet lấy 10,00 mL nước lọc thu được sau bước 4 ở trên cho vào một
Erlenmeyer rồi thêm tiếp vào đó 2 giọt dung dịch TP. Dùng dung dịch NaOH



Niken sunfat (300 mg)

R 20/21/22, 42/43, 45, 46 S 26, 27, 28, 36/37/39, 45

Dung dịch EDTA tiêu chuẩn
Chất chỉ thị murexide

R 22 S 36

R - S 22, 24/25

Ammoni clorua (3 g)

R 22, 36 S 22

Ammoniac đậm đặc (20 mL)
Dụng cụ cần thiết:
− Cân
− Cốc đong 100 mL
− Bình tam giác
− Bộ thiết bị chuẩn độ
Tiến hành
Cân chính xác khoảng 300 mg niken sunfat và hòa tan vào nước. Dùng
cốc đong 100 mL.
Điều chế dung dịch đệm bằng cách hòa tan 2,7 g ammoni clorua và 17,5
mL ammoniac đậm đặc trong 50 mL nước. Đổ đầy dung dịch EDTA tiêu chuẩn
0,01 M vào một buret. Dùng pipet lấy 10,00 mL dung dịch niken sunfat cho vào
cốc hình nón 200 mL và pha loãng với khoảng 90 mL nước. Vừa thêm vừa

hợp. Nếu có sự đổi màu dung dịch, thì dung dịch này có thể chứa ancol,
phenol hoặc andehit.
Phản ứng thử 4: Phép thử Baiơ (Baeyer)
Trong ống nghiệm, hòa tan chất chưa biết với CH3CN. Vừa lắc vừa cho từ
từ vào dung dịch thử 5 giọt dung dịch 0.5% KMnO4.
Phản ứng thử 5: Thử pH
Trong ống nghiệm, hoà tan chất chưa biết với 2 ml 95% EtOH. Dùng giấy
pH để đo pH của dung dịch.
Phản ứng thử 6: thử với sắt (III) clorua
Lấy dung dịch thu được từ Phản ứng thử 5 và cho 5 giọt dung dịch 2.5%
FeCl3.

16


Thiết bị và Hóa chất tiến hành
THIẾT BỊ

HÓA CHẤT

− Cân

− 7 chất chưa biết

− Phễu lọc;

− HCl 1M;

− Cốc 100 mL;


mg hoà vào trong 1 ml nước). Cho vào 5 giọt dung dịch của 2,417


dinitrophenylhydrazin trong axit sunfuric đặc và 95% ethanol (kí hiệu nhãn
là 2,4-DNPH).
Phản ứng thử 3: thử vớiCAN
Trộn 3 ml dung dịch Xeri(IV) ammoni nitrat trong HNO3 loãng (kí hiệu
nhãn là CAN) với 3 ml CH3CN trong ống nghiệm. ở ống nghiệm khác cho
khoảng 15~20 mg chất chưa biết vào 1 ml dung dịch hỗn hợp. (đối với chất
tan trong nước, thì đầu tiên hoà khoảng 15~20 mg mẫu trong 1 ml nước, và
sau đó cho thêm 1 ml thuốc thử CAN. Nếu có sự đổi màu dung dịch, thì
dung dịch này có thể chứa ancol, phenol hoặc andehit.
Phản ứng thử 4: Phép thử Baiơ (Baeyer)
Trong ống nghiệm, hòa tan khoảng 15~20 mg chất chưa biết với 2 ml
CH3CN (Đối với chất tan được trong nước, thì hoà khoảng 15~20 mg chất
với 1 ml nước). Vừa lắc vừa cho từ từ vào dung dịch thử 5 giọt dung dịch
0.5% KMnO4.
Phản ứng thử 5: Thử pH
Trong ống nghiệm, hoà khoảng 15~20 mg chất chưa biết với 2 ml 95%
C2H5OH (Đối với chất tan được trong nước, thì hoà khoảng 15~20 mg chất
với 1 ml nước. Dùng giấy pH để đo pH của dung dịch
Phản ứng thử 6: thử với sắt (III) clorua
Lấy dung dịch thu được từ Phản ứng thử 5 và cho 5 giọt dung dịch 2.5%
FeCl3.
Ghi kết quả
1. Ghi các kết quả thử vào tờ Phiếu Trả lời. Viết O nếu tan, còn X nếu không tan
đối với phản ứng thử tính tan. Viết (+) đối với phản ứng dương tính, còn (–) cho
phản ứng âm tính đối với các phản ứng thử 2 ~ 4 và 6. Viết a, b và n tương ứng
với dung dịch có tính axit, bazơ hoặc trung tính, còn pH với phản ứng thử 5.
2. Dựa trên kết quả thử, hãy cho biết cấu tạo phù hợp của các hợp chất chưa


OH

(F)

(G)

H
CH3
O

CH3
OH

COOH
H3C
(K)

CH3

N
(Q)

CHO

CH3
O

HO


hỗn hợp các aminoaxit, tiếp theo thử định tính từng loại aminoaxit được tách ra
từ cột bằng phản ứng màu đặc trưng. Do thí sinh phải sắp hàng đo phổ nên
chúng tôi đề nghị bạn hãy bắt đầu với bài thực hành số 1.
O
N

O
OH

NH2

N
H

His

HS

NH2
OH

HN

O

NH

OH

NH2

Thu gom các phân đoạn vào ống nghiệm, lấy khoảng 2,5 mL (xem mũi tên ở sơ
đồ). Nếu thấy cần thì dùng bút dạ đánh dấu. Sau khi gom được từ 4 đến 8 ống,
ngừng rửa giải và sau đó phân tích định tính các mẫu (phân đoạn) thu được.

20


ống
kẹp ống
đầu nối nhám
ngoài

đầu nối
nhám trong

dung dịch rửa giải

lớp dung
môi
nhựa trao đổi
ion
Khóa cột

Định tính các mẫu thu được
Định tính các aminoaxit dựa trên phản ứng của nhóm α-amino với natri 2,4,6trinitrobenzen sunfonat (TNBS):

NH2
HOOC
R


Định tính được thực hiện trong các lỗ của tấm nhựa polistyren, mỗi lỗ tương
ứng với mỗi ống nghiệm xác định. Trước khi thử, đầu tiên hãy trộn 1 mL dung
dịch TNBS với 10 mL dung dịch đệm cacbonat và sau đó cho 0,1 ml hỗn hợp
thu được vào một nửa các lỗ trên tấm nhựa (từ A1 đến H5). Tiếp theo, cho 0,1
mL của phân đoạn cần phân tích vào lỗ. Bắt đầu thử với A1, và tiếp tục với B1,
C1, v.v. (di chuyển từ trên xuống và từ trái sang phải). Nếu aminoaxit có mặt

21


trong phân đoạn phân tích thì màu vàng đậm sẽ xuất hiện trong lỗ trong khoảng
3 phút. Lấy màu trong lỗ đầu làm chuẩn để đối chiếu. Để đánh giá đúng màu,
bạn nên để tấm nhựa lên tờ giấy trắng.
Lưu ý: Dùng pipet máy để lấy tất cả các chất lỏng mà có thể tích 0,1 mL. Bạn
nên dùng một đầu hút nhựa cho tất cả các phân đoạn có một chất (đỉnh).
6.1a Đánh dấu mô tả sơ lược cường độ màu (định tính) trên tấm nhựa (có lỗ ) vào
Phiếu Trả lời. Dùng các kí hiệu sau: (-)- không màu, 1-màu yếu, 2- màu vừa phải
và 3- màu mạnh. Tiếp tục đánh dấu sự mô tả này trong quá trình sắc kí.
Tiếp tục rửa giải để thu các phân đoạn và phân tích chúng cho đến khi bạn nhận
được ít nhất 2 lỗ có màu như ở lỗ A1, điều này chỉ ra rằng aminoaxit thứ nhất
đã hoàn toàn ra hết khỏi cột (kết thúc đỉnh (peak) thứ nhất).
Tiến hành sắc kí. Bước 2.
Ngay sau khi kết thúc thu gom đỉnh (peak) thứ nhất, bạn phải thay Dung dịch
rửa giải thứ 2. Để làm điều này, hãy đóng khóa cột, đóng (vặn chặt) kẹp ống
dẫn (Quan trọng !), tháo ống dẫn đang nối với chai đựng Dung dịch rửa giải
thứ 1 và nối nó với chai đựng Dung dịch rửa giải thứ 2. Giữ chặt đầu nối nhám
ở đầu cột.
6.1b. Khi các Dung dịch rửa giải được thay đổi, hãy đánh dấu bằng cách vẽ
các đường thẳng nằm giữa các lỗ tương ứng ở tấm nhựa.
Tiếp tục rửa giải, thu các phân đoạn và phân tích định tính chúng như đã miêu

quang sai.
Phép thử số 1(đỉnh 1). Nồng độ cystein được xác định bằng phản ứng Ellman:
NO2

-

O
O

O

O

+
NH3

+
SH

-

-

O

O

S

S

S

O-

+
NO2

NO2


Ống nghiệm A1 (ống đối chiếu). Cho 0,1 mL Dung dịch rửa giải 1 lấy từ ống
nhựa nhỏ vào một ống nghiệm và cho thêm vào 2.9 mL tác nhân Ellmann.
Ống nghiệm B1 (ống mẫu phân tích). Cho 0,1 ml dung dịch phân tích vào một
ống nghiệm và cho thêm vào 2.9 mL tác nhân Ellmann.
Trộn đều các ống nghiệm và chuyển mỗi hỗn hợp sang các cuvet tương ứng có
ghi A1 (cho mẫu đối chiếu) và B1 (cho mẫu phân tích).
Mẫu thử số 2 (đỉnh 2). Xác định nồng độ histidin dựa trên khả năng của gốc
imidazol phản ứng với các hợp chất diazo (phản ứng Pauli).
Ống nghiệm A2 (ống đối chiếu). Cho 2,8 mL dung dịch đệm Tris-HCl vào một
ống nghiệm, cho thêm vào 0,1 mL Dung dịch rửa giải 2 lấy từ ống nhựa nhỏ và
0,1 mL tác nhân Pauli.
Ống nghiệm B2 (ống mẫu phân tích). Cho 2,8 mL dung dịch đệm Tris-HCl vào
một ống nghiệm, tiếp theo cho thêm 0,1 mL dung dịch cần phân tích và 0,1 mL
tác nhân Pauli.
Trộn đều các ống nghiệm và chuyển mỗi hỗn hợp sang các cuvet tương ứng có
ghi A2 (cho mẫu đối chiếu) và B2 (cho mẫu phân tích).
Mẫu thử số 3 (đỉnh 3). Xác định nồng độ của arginin dựa trên khả năng của
gốc guanidin phản ứng với một số phenol trong điều kiện kiềm và chất oxi hóa
(phản ứng Sakaguchi).
Ống nghiệm A3 (ống đối chiếu). Cho 0,1 mL Dung dịch rửa giải 3 vào một ống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status