5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của Nhà nước, để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp cần
phải không ngừng cải tiến, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ
mới vào sản xuất, kinh doanh, không ngừng nâng cao, năng suất lao động,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm lao
vụ. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phản ánh toàn diện các mặt hoạt
động của doanh nghiệp: trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động và sử
dụng vật tư, tiền vốn, lao động. Vì vậy tăng cường quản lý chi phí sản xuất,
phấn đấu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm không chỉ là trách nhiệm, mà
còn là quyền lợi sống còn, đòi hỏi sự quan tâm của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xây dựng cầu đường là đơn vị kinh tế thuộc ngành sản
xuất vật chất. Nếu doanh nghiệp xây dựng cầu đường sử dụng vốn tiết kiệm
làm cho giá thành sản phẩm không ngừng hạ thấp thì không những có ý nghĩa
to lớn trong phạm vi ngành, mà còn tác dụng không nhỏ đến các ngành khác
và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện hiện nay, việc quản lý và
hạch toán kinh tế ở các doanh nghiệp xây lắp nói chung và doanh nghiệp xây
dựng cầu đường nói riêng chưa được tốt, vật tư, lao động, tiền vốn còn nhiều
lãng phí, càng cần thiết phải tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát,
quản lý chặt chẽ các chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách hợp
lý. Thực tế việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở các
doanh nghiệp xây dựng cầu đường chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu quản
lý. Số liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chưa thực sự là cơ sở tin
cậy để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn của quản lý sản xuất kinh doanh, yêu
cầu đặt ra cho công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
7
sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng cầu
đường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích đã xác định, luận án chủ yếu trình bày hệ thống hóa và
phân tích những vấn đề lý luận chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp xây dựng cầu, đường bộ.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các bảng, biểu, sơ đồ, phụ lục và danh
mục tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Tình hình thực tế về tổ chức công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng cầu đường
ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp nhà nước loại hình xây dựng cầu đường
hiện nay.
8
Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Kế toán có lịch sử phát triển khá lâu đời, xuất hiện cùng với sản xuất
lập và có những ngôn ngữ nghề nghiệp mang nhiều màu sắc riêng biệt, dựa
trên những nguyên lý làm nền tảng lý luận, là đạo lý quan trọng để xây dựng
chế độ kế toán của từng quốc gia, cũng như việc hành nghề kế toán ở các đơn
vị tổ chức kế toán. Do vậy, theo chúng tôi, kế toán là khoa học thu nhận xử lý
và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt
động kinh tế tài chính trong các đơn vị, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt
động kinh tế tài chính của đơn vị.
Kế toán bao gồm việc thiết kế và tổ chức các hệ thống thông tin kinh
tế tài chính, chuẩn bị các báo cáo tài chính, nghiên cứu chi phí, phát triển các
dự báo, áp dụng máy tính vào xử lý kế toán, phân tích và lý giải các thông tin
kế toán trong việc ra các quyết định kinh doanh. Trong điều kiện mới, xu
hướng khu vực hoá, quốc tế hoá kinh tế đã tạo ra một xu hướng vừa hợp tác,
vừa cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp, điều đó làm tăng
thêm nhu cầu thông tin của các nhà quản lý. Kế toán vượt khỏi giới hạn của
quy trình tạo lập sổ ghi chép và lập báo cáo, người ta tìm kiếm mối quan hệ
giữa các sự kiện kinh doanh và các kết quả tài chính, nghiên cứu tác dụng của
các phương án thay thế khác nhau và tìm kiếm các xu hướng quan trọng giả
thiết những điều gì có thể xảy ra trong tương lai.
Nghiên cứu việc thực hành kế toán (quá khứ và hiện tại) của các nước
khác nhau trên thế giới, cho phép phân biệt 6 loại hình kế toán cơ bản:
- Kế toán trên cơ sở tiền mặt (còn gọi là kế toán quỹ).
- Kế toán tĩnh.
- Kế toán động.
10
- Kế toán phục vụ mục đích thuế.
- Kế toán vĩ mô.
- Kế toán hiện tại hóa.
phí, nguyên tắc doanh thu thực hiện, phù hợp, khách quan, nhất quán, thận
trọng, thực chất,...). Trên cơ sở các giả thiết cơ bản về kế toán, các nguyên tắc
kế toán cơ bản để hình thành nên một hệ thống kế toán phản ánh nguyên tắc
kế toán nghiệp vụ cụ thể có cấp độ rành mạch, gắn bó chặt chẽ với nhau.
Chính vì vậy, toàn bộ các nội dung được trình bày trong luận án,
chúng tôi sẽ phân tích dựa trên quan điểm của kế toán động.
Để thực hiện nhiệm vụ hoạch định và kiểm soát, các nhà quản trị cần
nhiều thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Trên góc độ kế toán, các
thông tin mà các nhà quản trị cần đa số thường có liên quan tới các chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất, phân bổ chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm là trách nhiệm của cả kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Trong đó kế toán tài chính phải hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm để soạn thảo các chỉ tiêu liên quan trên báo cáo tài chính chính xác
theo yêu cầu của các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận. Còn kế toán
quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành để giúp ban quản lý ra những quyết
định khác nhau mà những quyết định đó phụ thuộc vào sự ước lượng giá
thành sản phẩm. Do vậy mọi nội dung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm đều được xem như một công cụ phục vụ cung cấp thông tin
cho các đối tượng sử dụng thông tin cả bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
1.1. CHI PHÍ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP
Xét về bản chất, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
hao phí về lao động sống và hao phí lao động vật hoá cần thiết thực tế mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Để tiến hành sản xuất các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) phải sử
dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: tư liệu lao động, đối
12
các khoản tiêu dùng cho sản xuất kinh doanh tăng lên và làm giảm quỹ tiền tệ,
tăng công nợ của doanh nghiệp.
Có một số trường hợp chi tiêu là chi phí ví dụ như mua nguyên vật
liệu dùng ngay cho sản xuất sản phẩm chi trả lao vụ, dịch vụ dùng ngay cho
sản xuất kinh doanh, chi trả lãi tiền vay, tiền phạt...
Độ lớn của chi phí sản xuất là một đại lượng xác định và phụ thuộc
vào hai nhân tố chủ yếu:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất
trong một thời kỳ nhất định.
- Giá cả các tư liệu sản xuất và tiền công của một đơn vị lao động đã
hao phí.
Chi phí sản xuất là chi phí chế tạo sản phẩm. Chi phí sản phẩm không
phải là các phí tổn, nếu sản phẩm chưa được bán ra thì đó là các chi phí tạo
nên hàng tồn kho. Vì vậy chi phí sản phẩm được coi là tài sản lưu động cho
đến khi các sản phẩm tương ứng được bán đi, vào thời điểm đó chúng được
tính như là chi phí hàng bán ra.
1.2. PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT
Chi phí sản xuất do nhiều yếu tố của quá trình sản xuất cấu thành. Mỗi
yếu tố của quá trình sản xuất tác động vào quá trình sản xuất khác nhau. Mỗi
loại chi phí có đặc điểm, nội dung, công dụng khác nhau đòi hỏi yêu cầu và
cách thức quản lý thích hợp. Để quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, phục
vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin, hoạch định và kiểm soát
của các đối tượng cần sử dụng thông tin về chi phí sản xuất, đòi hỏi phải phân
loại chi phí một cách khoa học theo những tiêu chuẩn nhất định.
Phân loại chi phí sản xuất là việc xắp xếp các chi phí sản xuất khác
nhau vào từng loại, từng khoản theo những tiêu chuẩn phân loại nhất định.
1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
theo nội dung, tính chất kinh tế
Theo cách phân loại này người ta căn cứ vào, tính chất kinh tế ban đầu
của chi phí để phân loại. Những chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế
được xếp vào cùng một yếu tố chi phí, không phân biệt mục đích, công dụng
của chi phí đó. Cách phân loại này chỉ quan tâm tới chi phí phát sinh lần đầu
không kể các chi phí luân chuyển nội bộ. Xét về mặt bản chất, toàn bộ chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố chi phí sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu.
- Chi phí nhân công.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí khác.
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của từng giai đoạn, có thể chia làm các
yếu tố chi phí với số lượng các yếu tố khác nhau. Chẳng hạn, theo chế độ kế
toán hiện hành, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 5 yếu tố
chi phí lớn như sau:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các loại
đối tượng lao động như nguyên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ dùng
cho sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền công và các khoản trích
theo tiền lương theo quy định của công nhân viên trong doanh nghiệp.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số khấu hao tài sản cố định
trích trong kỳ của tất cả các loại tài sản cố định dùng vào sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí về các loại dịch vụ
thuê ngoài, mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
16
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho phục vụ và quản
lý sản xuất tại các bộ phận sản xuất. Chi phí sản xuất chung gồm nhiều loại
chi phí có nội dung kinh tế khác nhau như: chi phí nhân viên phân xưởng, chi
phí vật liệu dùng cho nhu cầu chung của phân xưởng, chi phí công cụ dụng cụ
sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí khác bằng tiền.
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của từng thời kỳ mà có thể quy định
các các khoản mục chi phí có số lượng khác nhau, hoặc theo yêu cầu quản lý
của chính doanh nghiệp các khoản mục chi phí này còn có thể được phân chia
chi tiết hơn.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc
tiêu thụ, cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ chi phí quản lý và phục vụ
chung các hoạt động sản xuất kinh doanh toàn doanh nghiệp như các chi phí
về quản lý kinh doanh, quản lý hành chính chung khác.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng gồm nhiều chi
phí có nội dung kinh tế khác nhau tương tự như chi phí sản xuất chung.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích, công dụng của
chi phí là cơ sở để xác định số chi phí đã chi ra cho từng khâu, từng lĩnh vực,
từng mục đích cụ thể, là căn cứ để tính giá thành theo khoản mục, xây dựng
kế hoạch giá thành và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hai cách trên đây liên quan
trực tiếp đến việc tổ chức kế toán tài chính tập hợp chi phí sản xuất trong các
doanh nghiệp sản xuất, hai cách phân loại này được thể hiện khái quát trên hệ
thống tài khoản kế toán thống nhất hiện hành.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong kế toán quản trị
18
+ Nếu báo cáo kế toán xem xét là báo cáo tài chính (phù hợp với kế
toán tài chính), thì theo chế độ hiện hành, chi phí sản phẩm bao gồm: chi phí
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Còn
chi phí thời kỳ bao gồm: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Có thể thể hiện quá trình vận động của chi phí sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp sản xuất, qua các giai đoạn khác nhau, được thể hiện
trong bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh như sau: (Sơ đồ
1.1).
20
Chi phí sản phẩm
Chi phí nguyên liệu,
vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công
trực tiếp
Chi phí sản xuất
dở dang
Tiêu thụ
Thành phẩm
Chi phí
sản xuất chung
Doanh thu bán hàng
+ Chi phí cơ bản: là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp vào sản xuất, chế
tạo sản phẩm.
+ Chi phí chung: là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý và phục vụ
sản xuất có tính chất chung.
Cách phân loại này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được
phương hướng và các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Không thể cắt bỏ một loại chi phí cơ bản nào mà phải phấn đấu giảm thấp các
định mức tiêu hao vật liệu, lao động, hoặc cải tiến công nghệ, hợp lý hóa sản
xuất, tìm kiếm vật liệu thay thế... Còn đối với chi phí chung cần phải triệt để
tiết kiệm, hạn chế và thậm chí loại trừ các chi phí không cần thiết, tăng cường
quản lý chi phí chung theo dự toán tiêu chuẩn và chế độ chi tiêu...
- Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp chi phí vào các
đối tượng kế toán chi phí, theo tiêu thức này cần phân biệt:
+ Chi phí trực tiếp: là những chi phí quan hệ trực tiếp đến từng đối
tượng chi phí (từng loại sản phẩm, công việc...) và được hạch toán trực tiếp
vào đối tượng chịu chi phí đó.
+ Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan với nhiều đối tượng
chịu chi phí, để xác định chi phí cho từng đối tượng cần phải dùng phương
pháp phân bổ gián tiếp theo tiêu thức phân bổ thích hợp.
22
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tập
hợp và phân bổ nguồn lực đã tiêu dùng (chi phí) cho các đối tượng chịu chi
phí, song chỉ thuần túy là kỹ thuật hạch toán. Đối với chi phí liên quan đến
nhiều đối tượng cần phải tiến hành phân bổ có thể cho phép đạt được mục tiêu
xác định giá thành của một loại sản phẩm nhất định, nhưng khó có thể đạt
lượng hoạt động thực hiện, biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng
hoạt động thì không thay đổi.
Trường hợp 2: Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng khối lượng
hoạt động, vì vậy biến phí trung bình một đơn vị khối lượng cũng tăng lên.
Xảy ra trường hợp này khi cường độ lao động vượt quá mức bình thường,
hiệu lực của các yếu tố sản xuất sẽ giảm đi, hoặc khi có sự tăng thêm khối
lượng sản phẩm, đòi hỏi phải tăng cường nhiều hơn các chi phí sản xuất.
Trường hợp 3: Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động, do
đó biến phí trung bình của một đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống.
Trường hợp này xảy ra khi tăng khối lượng hoạt động đã tạo nên các điều
kiện để sử dụng có hiệu quả hơn các yếu tố của quá trình sản xuất.
+ Chi phí cố định (định phí): Là các chi phí không chịu tác động của
sự thay đổi khối lượng hoạt động, các chi phí cố định còn được gọi là chi phí
công suất vì chúng chi ra để có được một khả năng sản xuất với một số điều
kiện hoạt động đặc thù nào đó. Cần phân biệt rõ định phí tuyệt đối, định phí
tương đối, định phí bắt buộc và định phí tùy ý.
Định phí tuyệt đối là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự
thay đổi khối lượng hoạt động, còn định phí trung bình của một đơn vị khối
lượng hoạt động thì giảm đi.
Định phí tương đối (định phí cấp bậc): trong trường hợp khả năng của
các yếu tố sản xuất tiềm tàng đã khai thác hết, muốn tăng khối lượng hoạt
động cần phải bổ sung đầu tư các khả năng sản xuất tiềm tàng mới. Trong
trường hợp này, khối lượng sản xuất sản phẩm không phải là nhân tố trực tiếp
24
ảnh hưởng đến độ lớn của định phí mà quy mô sản xuất cần thiết phải thay
đổi khả năng, trữ lượng và năng lực sản xuất.
Định phí bắt buộc: là định phí không thể thay đổi được một cách
quản trị doanh nghiệp hoạch định, kiểm tra và ra quyết định. Cách phân loại
này quan tâm tới cách ứng xử chi phí, dựa vào đó để nghiên cứu mối quan hệ
giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận, điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở cho việc ra
quyết định ngắn hạn nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Việc phân biệt định phí, biến
phí giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp xác định đúng đắn phương hướng để
nâng cao hiệu quả của chi phí:
+ Đối với biến phí: Phương hướng chính là tiết kiệm tổng biến phí và
biến phí đơn vị.
+ Đối với định phí: Cần phấn đấu để nâng cao hiệu lực của định phí
trong sản xuất - kinh doanh.
Nhà quản trị doanh nghiệp cần xác định một kết cấu chi phí định phí,
biến phí phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các cách phân loại chi phí khác liên quan đến việc ra các quyết định:
+ Phân loại theo thẩm quyền ra quyết định, cần phân biệt: chi phí
kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. Chi phí kiểm soát được ở
một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó có thẩm quyền ra quyết định.
Việc xem xét chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được có ý
nghĩa thực tế khi đặt nó ở phạm vi một cấp quản lý nào đó và được các nhà
quản trị ứng dụng để lập báo cáo kết quả của từng bộ phận trong doanh nghiệp.
- Các chi phí được sử dụng trong lựa chọn các phương án:
Chi phí cơ hội là lợi ích lớn nhất mà doanh nghiệp phải từ bỏ khi chọn
phương án và hành động này thay vì chọn phương án và hành động khác.
Ngoài các chi phí sản xuất kinh doanh đã được tập hợp, phản ánh trên hệ
thống sổ kế toán, trước khi lựa chọn các phương án, nhà quản trị còn phải
xem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh đó có thể được
sử dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuận cho họ.
26
Chi phí bán hàng
Chi phí QLDN
Phân loại trong
kế toán quản trị
Theo MQH chi phí với
quy trình công nghệ
sản xuất sản phẩm
Chi phí
Chi phí
cơ bản
chung
MQH chi phí với các
khoản mục trên
Báo cáo kế toán
Chi phí
sản
phẩm
Mối quan hệ chi phí
với khối lượng hoạt
động
28
1.3. GIÁ THÀNH VÀ CÁC LOẠI GIÁ THÀNH
1.3.1. Khái niệm giá thành
Giá thành sản xuất của sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối
lượng hoặc đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp đã sản xuất
hoàn thành.
Giá thành sản xuất sản phẩm và chi phí sản xuất giống nhau về bản
chất là hao phí lao động sống cần thiết và hao phí lao động vật hóa. Song, chi
phí sản xuất và giá thành sản xuất lại khác nhau về phạm vi và giới hạn. Chi
phí sản xuất chỉ tính những chi phí doanh nghiệp đã chi ra cho quá trình sản
xuất trong một thời kỳ nhất định không phân biệt chi phí đó có liên quan tới
sản phẩm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành, không gắn liền với chủng loại
và khối lượng sản phẩm lao vụ đã hoàn thành, còn giá thành sản xuất sản
phẩm là số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch
vụ đã hoàn thành trong kỳ. Mặt khác, chi phí sản xuất chỉ tính cho một thời
kỳ nhất định, còn giá thành sản xuất sản phẩm xác định trên cơ sở chi phí sản
xuất phát sinh trong kỳ và gồm cả chi phí sản xuất phát sinh kỳ trước chuyển
sang kỳ này, không bao gồm chi phí tính cho sản phẩm dở dang cuối kỳ
chuyển sang kỳ sau.
Chi phí sản xuất và giá thành sản xuất có mối quan hệ rất mật thiết,
chi phí sản xuất là căn cứ để tính giá thành sản xuất.
Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá
thành sản xuất, đòi hỏi quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các nguồn lực trong quá trình
sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực
tạo sản phẩm được tính toán cho cả tổng giá thành và giá thành đơn vị. Giá
thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh
nghiệp trong việc tổ chức và công nghệ để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.